TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
NGÔ THỊ HÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ở VƯƠNG QUỐC XIÊM (1350 - 1767)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
NGÔ THỊ HÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ở VƯƠNG QUỐC XIÊM (1350 - 1767)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN VĂN VINH
Ngô Thị Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ............................................................................................................ 3
3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 6
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................... 7
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 7
6. Bố cục khóa luận ............................................................................................................... 7
Chương 1 CƠ SỞ TIẾP NHẬN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở
VƯƠNG QUỐC XIÊM (1350 - 1767) ............................................................................... 9
1.1. Cơ sở tiếp nhận Phật giáo của người Thái ...................................................................... 9
1.1.1. Cơ sở khách quan ........................................................................................................ 9
1.1.1.1. Phật giáo ở vương quốc Nam Chiếu và ảnh hưởng của nó đối với người Thái ....... 9
1.1.1.2. Quá trình truyền bá Phật giáo vào khu vực miền Nam Thái Lan (Môn) và ảnh
hưởng tới người Thái ........................................................................................................... 10
2.2.2. Cơ sở chủ quan .......................................................................................................... 12
2.2.2.1. Sự phát triển tín ngưỡng truyền thống của người Thái........................................... 12
2.2.2.2. Nhu cầu tìm kiếm một công cụ thống trị về mặt tinh thần của giai cấp thống trị
Ayutthaya............................................................................................................................. 16
2.2.2.3. Nhu cầu thống nhất tộc người và thống nhất lãnh thổ của giai cấp thống trị
Ayutthaya............................................................................................................................. 17
1.2. Sự phát triển của Phật giáo ở Xiêm (1350-1767) ......................................................... 19
1.2.1. Phật giáo ở Ayutthaya từ năm 1350 đến năm 1569 .................................................. 19
1.2.2. Phật giáo ở Ayutthaya từ năm 1569 đến năm 1767 .................................................. 29
Tiểu Kết ............................................................................................................................... 44
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH
TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA AYUTTHAYA (1350 - 1767) ....................................... 46
giáo đã trải qua một quá trình xâm nhập rồi bám rễ sâu vào đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội và tư tưởng của nhiều quốc gia, dân tộc. Điều đó chứng tỏ, Phật giáo cũng
giống như các tôn giáo khác, trong mọi thời điểm đều có mối liên hệ mật thiết với
các vấn đề chính trị - xã hội của các quốc gia mà nó đang tồn tại và phát triển.
Giống như nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á, Phật giáo đã du nhập vào đất
Thái từ rất sớm, khi nơi đây chưa hình thành quốc gia dân tộc. Khi người Thái lập
quốc dưới vương triều Sukhothai, Phật giáo đã giữ một vai trò quan trọng trong việc
cố kết cộng đồng, thống nhất tộc người và góp phần vào sự phát triển của nhà nước
phong kiến đầu tiên trong lịch sử Thái Lan.
Vương triều Ayutthaya (1350 - 1767) được coi là giai đoạn phát triển cực
thịnh của chế độ phong kiến Thái. Bộ máy nhà nước không ngừng được bổ sung và
hoàn thiện từ trung ương tới địa phương, hệ tư tưởng Phật giáo, nhất là Phật giáo
Theravada đã nhanh chóng chiếm địa vị chủ đạo và có ảnh hưởng rất lớn trong mọi
mặt của đời sống xã hội. Cũng từ đây, như một quy định bất biến, tất cả các vị vua
khi lên ngôi đều phải là các Phật tử và từ triều đại Bangkok cho đến nay, điều này
đã được chính thức ghi nhận tại điều 9 Hiến pháp Thái Lan hiện hành (11/10/1997)
1
“Nhà vua tín ngưỡng Phật giáo và là người bảo vệ tôn giáo”. Đây chính là nền tảng
tư tưởng cho sự tồn tại và phát triển của đất nước Thái Lan.
Do đó, muốn tìm hiểu về đất nước và con người Thái Lan, trước hết phải tìm
hiểu về Phật giáo. Vì có như vậy, chúng ta mới có thể hiểu và lý giải được vì sao
trong suốt tiến trình lịch sử Thái Lan, dù thăng trầm, chiến tranh hay hòa bình, Phật
giáo vẫn luôn là sợi dây cố kết cộng đồng, liên kết người dân, điều hòa những mâu
thuẫn, xung đột trong xã hội. Chính điều này góp phần to lớn tạo nên đất nước Thái
Lan với những con người chân thành và dễ mến.
Đánh giá đúng ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống xã hội Ayutthaya từ
thế kỉ XIV đến thế kỉ XVIII sẽ góp phần vào việc phục dựng lại bức tranh Phật giáo
Lai, Vũ Quang Thiện…của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Văn hoá, Hà Nội,
1991. Đây là một tập hợp nghiên cứu về nhiều khía cạnh của văn hoá Thái Lan như:
phong tục tập quán, ngôn ngữ và chữ viết, nghệ thuật, sân khấu…trong đó các tác
giả đã dành một phần không nhỏ giới thiệu tổng quan về tôn giáo, tín ngưỡng của
người Thái Lan và trình bày khái quát về sự phát triển của Phật giáo qua các thời kì,
trong đó có vương triều Ayutthaya.
Tác phẩm Tìm hiểu lịch sử - văn hoá Thái Lan, Tập 1, Viện nghiên cứu Đông
Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994. Tác phẩm là một tập hợp các bài
nghiên cứu của các học giả Việt Nam về nhiều lĩnh vực của lịch sử Thái Lan như
khảo cổ học, dân tộc học, văn học, lịch sử, tôn giáo, chính sách của chính phủ Thái
Lan đối với kinh tế, nền dân chủ và sự hội nhập của người Thái...Đáng chú ý nhất là
các bài viết “Đôi điều đồng nhất và khác biệt giữa người Thái Lan và người Thái
Việt Nam” của tác giả Hữu Ưng; “Phật giáo Thái Lan và những nét tương đồng với
Phật giáo Việt Nam”, “Các ngôn ngữ nhóm Thái”, “Văn hóa Thái Lan qua các triều
đại từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX” của tác giả Quế Lai; “Tượng Phật Thái Lan” của
nhà nghiên cứu Trần Thị Lý...Đây chính là những bài viết có giá trị nói về Phật giáo
và điêu khắc Phật giáo Thái Lan qua các thời kì. Dù không nhiều và không trực tiếp
nói đến giai đoạn Ayutthaya, nhưng đây là những bài viết làm sáng tỏ được những nét
đặc trưng của Phật giáo Thái Lan qua từng thời kì. Trên cơ sở đó, có thể hiểu được
những nét riêng của Phật giáo Ayutthaya trong quá trình hình thành và phát triển.
3
Công trình Lịch sử Thái Lan do hai tác giả Phạm Nguyên Long, Nguyễn
Tương Lai thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á làm đồng chủ biên, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội năm 1998. Đây là một công trình nghiên cứu về toàn bộ đất nước và
con người cũng như sự phát triển lịch sử của Thái Lan từ thời kì tiền sử và sơ sử cho
đến những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX. Tác phẩm gồm có bốn phần với bốn
chương, trong đó lịch sử và văn hóa - xã hội Ayutthaya được trình bày tại Phần II,
năm 2002;
Nổi bật nhất trong số những tác phẩm này là cuốn Lịch sử Phật giáo thế giới
của nhóm các tác giả chính là các sư tăng Phật giáo với mong muốn tập hợp các tài
liệu Phật giáo Trung Quốc và phương Tây để đem đến một cái nhìn tổng quan về sự
phát triển của lịch sử Phật giáo thế giới.
Đây là một bộ sách gồm có 4 tập, mỗi tập do một tỳ khưu biên soạn và được
xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học và GD chuyên nghiệp. Trong đó, tập II của bộ
sách do Tỳ khưu Tịnh Hải Pháp Sư biên soạn, xuất bản năm 1994. Đây là tập sách
tập trung nói về Phật giáo Nam truyền (Phật giáo Theravada) tại Sri Lanka và các
quốc gia Đông Nam Á như Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia với trung tâm
là đảo quốc Sri Lanka. Phật giáo Thái Lan nằm trong phần thứ 3 của sách. Trong
đó, tác giả nói tới các con đường du nhập của Phật giáo vào đất Thái như Phật giáo
Theravada của người Môn Dvaravati, Phật giáo Đại thừa Campuchia, Phật giáo
Pagan, Phật giáo Sri Lanka...và tiến trình phát triển của Phật giáo Thái Lan từ khi
lập quốc dưới vương triều Sukhothai cho đến Ayutthaya và triều đại Bangkok.
Phần nói về sự phát triển của Phật giáo Ayutthaya được trình bày trong
chương 3 phần III của cuốn sách. Đây là một sự khái quát về lịch sử Phật giáo trong
suốt hơn 400 năm tồn tại của vương triều. Tuy nhiên, sự phát triển của Phật giáo
mới chỉ được trình bày đan xen với các sự kiện lịch sử, còn ảnh hưởng của tôn giáo
này đối với đời sống xã hội Ayutthaya thì chưa được tác giả đề cập tới.
Trần Quang Thuận với tác phẩm Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, Nhà
xuất bản Tôn giáo, năm 2006 được coi là một trong những công trình có những sự
kiện khá đầy đủ về Phật giáo Nam tông tại khu vực. Điều đáng nói là tác phẩm đã
dựa vào những nguồn tài liệu cổ, các văn bia để có được những tư liệu quý giá về sự
phát triển của Phật giáo tại Sri Lanka, Thái Lan và Miến Điện. Tập sách không chỉ
trình bày về sự phát triển của Phật giáo ở từng nước mà còn phân tích và làm sáng
5
6
- Làm rõ những cơ sở tiếp nhận Phật giáo của người Thái.
- Làm rõ quá trình phát triển của Phật giáo Ayutthaya qua các giai đoạn, hệ
thống tổ chức hành chính của tăng đoàn Phật giáo, các hệ phái Phật giáo tại vương
quốc này. Đồng thời rút ra một số đặc điểm riêng của Phật giáo ở Ayutthaya trong
giai đoạn từ năm 1350 đến năm 1767.
- Phân tích, đánh giá về ảnh hưởng của Phật giáo đối với các lĩnh vực của đời
sống xã hội như chính trị, xã hội và văn hóa tại Ayutthaya từ năm 1350 đến năm 1767.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu Phật giáo ở Ayutthaya và ảnh
hưởng của nó đối với đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của vương quốc này từ
năm 1350 đến năm 1767.
+ Năm 1350, vương quốc Ayutthaya được thành lập ở vùng Trung và Nam
Thái Lan ngày nay. Sau đó, từ một vương quốc, Ayutthaya đã thôn tính Sukhothai
và nhiều lần tấn công Lanna để hợp nhất lãnh thổ thành một vương quốc thống nhất.
+ Năm 1767 là mốc kết thúc 417 năm phát triển của Ayutthaya sau cuộc tấn
công xâm lược của quân đội Miến Điện.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Với sự phát triển của các ngành khoa học, các tài liệu về lịch sử Phật giáo thế
giới và Thái Lan đang được dịch ra Tiếng Việt ngày càng nhiều. Nguồn tư liệu tiếng
Thái, tiếng Anh, tiếng Hà Lan, tiếng Trung của các tác giả Thái Lan, các học giả
phương Tây và Trung Quốc là cơ sở tư liệu cần thiết và chủ yếu cho việc thực hiện
khóa luận.
Phương pháp nghiên cứu của luận án được tác giả sử dụng chủ yếu là phương
pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Bên cạnh đó, tác giả còn có các phương pháp bổ
trợ khác như phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, phân loại tư liệu, hệ thống
hóa tư liệu kết hợp với phương pháp so sánh, sưu tầm tư liệu, phân loại lịch sử, so
sánh lịch sử…
Trước khi Phật giáo được truyền bá và giữ địa vị chủ đạo tại đây, cư dân
Nam Chiếu đã duy trì hình thức Saman giáo (hình thức cuối của tôn giáo nguyên
thủy trước khi bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước đầu tiên). Cư dân thờ các
loại ma quỷ, thần linh và luôn có một người đứng đầu đảm nhiệm vai trò giao tiếp
với thần linh, có khả năng trừ ma, diệt quỷ gọi là các “thầy phù thủy”. Các “thầy
phù thủy” với những khả năng của mình đã chiếm một vị trí và vai trò quan trọng
trong cộng đồng cư dân Nam Chiếu ngay cả khi Phật giáo đã được truyền bá.
Thời điểm Phật giáo được truyền bá vào Nam Chiếu cho tới nay vẫn chưa được
xác định một cách chính xác, nhưng về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng
Phật giáo đã được truyền vào Vân Nam từ thời nhà Đường (618 - 907), song từ thế kỉ
VIII trở đi, Phật giáo mới từng bước phát huy được sức mạnh của mình.1
1
Chiêm Toàn Hữu (2010), Văn hóa Nam Chiếu - Đại Lý, Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin, Hà Nội, tr.261.
9
Theo tác giả Chiêm Toàn Hữu: “Thời gian Phật giáo du nhập vào Vân Nam
là dưới triều đại nhà Đường, chủ yếu thông qua bốn con đường. Thứ nhất, thông
qua các kinh điển về Thiền tông - tiếng Hán từ Trung thổ, đây được coi là Hán địa
Phật giáo hay Hán truyền Phật giáo, chủ yếu du nhập vào dân tộc Di, Hán và Bạch
thuộc khu vực Điền Trì, Nhĩ Hải; Thứ hai là Mật giáo hay Mật tông, chủ yếu du
nhập vào dân tộc Tạng, Bạch, Nạp Tây ở Nhĩ Hải và khu vực Điền Tây Bắc; Thứ
ba, là thông qua các sách bằng tiếng Myanma (thường gọi là giáo lý Tiểu Thừa),
chủ yếu du nhập vào các dân tộc như Thái, Bố Lang, Đức Ngang…Thứ tư là thông
qua các văn bản bằng tiếng Tạng từ Thổ Phiên (Tạng truyền Phật giáo hay Lạt Ma
giáo), chủ yếu du nhập vào các dân tộc như Tạng, Nạp Tây…sinh sống ở khu vực
Điền Tây Bắc. Phật giáo ở Vân Nam có nhiều nguồn gốc và chi phái nên nội dung
rất phong phú, mỗi phái có một đặc sắc riêng”.2
để lại một di sản to lớn các kinh sách Phật giáo và các tác phẩm nghệ thuật độc đáo
tạo nên một phong cách gọi là phong cách Dvaravati. Tại các di chỉ ở Pra Pathom,
Pong Tuk (Ratburi)...các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bánh xe pháp luân với hình
tượng con nai, dấu chân Phật, tượng Phật ngồi trên tòa sen, tượng Phật bằng đồng, đá
xanh... cho thấy một nền văn hóa Phật giáo phát triển, nhất là Phật giáo Theravada.
Thông qua người Môn, cách xây dựng chính quyền và lấy các biểu tượng của vương
quyền Ấn Độ, tôn thờ thần Vishnu, Phật giáo, sử dụng chữ Phạn và chữ Pali đã được
truyền tới những người Miến láng giềng, người anh em Khmer nằm về phía Đông
thung lũng Chaophraya. Và cuối cùng là truyền đến dân tộc Thái đến sau.
Như vậy, trước khi người Thái di cư đến khu vực thung lũng sông
Chaophraya, trên đất Thái đã có những cơ sở nhất định cho Phật giáo Theravada du
nhập và phát triển, đặc biệt là trong các vương quốc của người Môn và có lẽ nó sẽ
có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tiếp nhận Phật giáo của người Thái vào giai đoạn
sau này.
Các thủ lĩnh Thái để mở rộng ảnh hưởng và quyền lực của mình, họ đã cung
cấp cho đế quốc một nguồn nhân lực dồi dào để đổi lấy một địa vị trong xã hội hay
một vị trí trong hoàng gia. Họ có thể còn kết hôn với các công chúa trong hoàng
tộc3...Tuy nhiên, họ vẫn giữ lại bản sắc riêng của dân tộc mình, nhất là ngôn ngữ và
một tổ chức xã hội riêng biệt với một truyền thống tôn giáo khác biệt với người
Khmer là Saman giáo và Phật giáo Theravada.
Chính vì thế, người Thái không chỉ tiếp thu những phong tục, tập quán, tôn
giáo của người Môn, người Khmer mà còn từng bước thâm nhập vào đời sống chính
3
V. Kronev, (1971), Văn học Thái Lan sơ khảo, (Bản dịch của Lan Hương - lưu tại Thư viện Viện Thông Tin
Khoa học xã hội), Hà Nội, tr.10.
11
hưởng rất lớn đến tín ngưỡng của người Thái, nhất là quan niệm về linh hồn (khuẳn).4
Trong quan niệm của người Thái không chỉ có con người mới có khuẳn mà các loài
động vật, cây cối và các đồ vật có ích cho cuộc sống của con người cũng có cái khuẳn
của mình như cây cột cái (xàu hẹ) trong ngôi nhà sàn, ruộng lúa hoặc thóc lúa, làng
bản, ruộng vườn, cây cối…
Chính niềm tin sâu sắc vào sự tồn tại của linh hồn đã dẫn đến sự ra đời của
nhiều nghi lễ liên quan đến linh hồn của người Thái, có ý nghĩa rất lớn đối với vận
mệnh của từng cá nhân và của cả cộng đồng như xên bản, xên mường (cúng bản, cúng
mường), lễ “thăm khuẳn”... Theo Phya Anuman Rajadhon, người Thái có 32 khuẳn và
sau khi chết, các hồn (khuẳn) biến thành “phi” (ma). “Phi” có thể đem đến tai họa hoặc
phù hộ, trợ giúp cho con người. Trong đó, “hồn chủ áo” trên đỉnh đầu của mỗi người là
quan trọng nhất nên người Thái, người Lào và người Shan kiêng để người khác sờ vào
đầu mình. Cái khuẳn đều ra đi từ đỉnh đầu dù nó không được miêu tả rõ ràng như vậy.
“Một người Thái không chịu cho bất kì ai sờ lên đầu mình. Càng khốn khổ hơn nếu
người ta lại vỗ lên đầu với bàn tay trái, vì đấy là bàn tay bẩn, nhất là của người phụ nữ.
Không một người đàn ông nào chịu đi qua nơi treo quần áo và để cho váy người phụ
nữ chạm lên đầu mình”.5
Quan niệm này là cơ sở ra đời của tín ngưỡng thờ cúng người chết mà trước hết
là thờ cúng ông bà tổ tiên của gia đình, dòng họ. Vì thế, trong mỗi gia đình người Thái
luôn có một nơi dành để thờ cúng những người đã khuất trong gia đình vào một ngày
giỗ chung của dòng họ theo lịch Thái. Người Thái ở Ayutthaya, ngoài bàn thờ vua bên
cạnh bàn thờ Phật còn có một bàn thờ “phi” để ở một góc nhà. Ngoài ra, mỗi gia đình
người Thái đều có một miếu thờ “thần thổ địa”đặt trên một cái cọc chôn ở cạnh nhà.
Hàng ngày, chủ nhà ra đó và cầu khấn “thần thổ địa” để thần phù hộ cho cuộc sống của
gia đình mình.
4
có sẵn từ nhà nước Nam Chiếu - Đại Lý và Dvaravati của người Môn. Không như
người Miến láng giềng, người Thái thừa hưởng một tỷ lệ to lớn Ấn Độ giáo thông qua
ảnh hưởng của người Khmer vốn ngày trước là một dân tộc Ấn hóa rất cao. Dù tiếp
nhận việc thờ cúng và tín ngưỡng gì thì người Thái cũng đã biến đổi chúng cho phù
hợp với tâm tính và môi trường của họ. Khi tiếp nhận Phật giáo, họ đã thay đổi lớn lao
6
Cầm Trọng (1977), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.401.
V. Kronev, (1971), Văn học Thái Lan sơ khảo, (Bản dịch của Lan Hương - lưu tại Thư viện Viện Thông Tin
Khoa học xã hội), Hà Nội.
7
14
tín ngưỡng vật linh cơ bản của họ theo nếp Phật giáo. Cũng như vậy, khi khoác lấy Ấn
Độ giáo, họ làm cho nó thích ứng thành một phần phụ cho Phật giáo.8
Mặc dù vương quốc thống nhất đầu tiên của người Thái được thành lập trên đất
Thái khá muộn (giữa thế kỉ XIII) nhưng Phật giáo đã có mặt tại đây từ rất sớm, từ thế
kỉ III trước công nguyên. Vì đây là mảnh đất sinh sống của nhiều tộc người khác nhau
nên việc tiếp nhận Phật giáo cũng tùy thuộc vào quá trình truyền bá và sự tiếp nhận của
các tộc người đó như Phật giáo Theravada của người Môn, Phật giáo Đại thừa của
Srivijaya rồi Khmer, Phật giáo Pagan của người Miến, Phật giáo Sri Lanka....Trong đó,
ba dòng Phật giáo đầu đã thịnh hành trên đất Thái từ những thế kỉ tiếp giáp công
nguyên. Đến thế kỉ XIII, dòng Phật giáo Sri Lanka bắt đầu xuất hiện và mau chóng
được các vị vua Sukhothai tiếp nhận như một hệ tư tưởng chủ đạo và được kế thừa qua
các triều đại Ayutthaya, Thonburi, triều đại Chakri cho đến tận ngày nay.
Như vậy, trước khi người Thái thành lập nên vương quốc thống nhất vào thế kỉ
XIII, trước khi họ trở thành dân tộc chủ thể ở Thái Lan, thì tại mảnh đất này, suốt hơn
bản thân cư dân Thái tại Ayutthaya (vốn sinh sống tại khu vực Lopburi (Lavo) sau đó
di cư xuống phía Nam) đã có một đời sống tinh thần phong phú với các tín ngưỡng dân
gian, bản địa thờ cúng thần linh, ma quỷ. Tuy nhiên, hình thức tôn giáo này của người
Thái (Saman giáo) còn rất sơ khai, tản mát trong các mường Thái mà chưa thể trở
thành một hệ tôn giáo chủ đạo đủ mạnh để có thể thống nhất lãnh thổ, tộc người. Các
tín ngưỡng bản địa chỉ thích hợp với một xã hội phân tán chứ không thể trở thành tôn
giáo của một quốc gia độc lập. Trong khi đó, Phật giáo lại được truyền bá vào người
Thái và nhanh chóng được người Thái tìm tới và đón nhận vì Phật giáo có nhân sinh
quan, thế giới quan và một hệ thống giáo lý, kinh kệ đồ sộ phù hợp, nhất là với một
quốc gia non trẻ như Ayutthaya.
Thứ hai, vì là một quốc gia non trẻ, vừa hình thành, cần có một nền tảng tư
tưởng để thống nhất đất nước, thống nhất tộc người nên Phật giáo càng có cơ sở và
điều kiện để phát triển tại Ayutthaya cũng như nhận được sự quan tâm, nâng đỡ rất lớn
của các vị vua Ayutthaya và vương triều.
Như vậy, do nhu cầu thống nhất đất nước, do nhu cầu tìm kiếm một công cụ
thống trị về mặt tinh thần của giai cấp thống trị Ayutthaya mà Phật giáo, nhất là dòng
Phật giáo Theravada đã được các vị vua Ayutthaya tiếp thu, lựa chọn và trở thành tôn
giáo chủ đạo trên toàn vương quốc. Thêm vào đó, vào thờ điểm Ayutthaya lập quốc,
ngoài Phật giáo Theravada, chưa có một hệ ý thức nào tiến bộ hơn, phù hợp hơn nên
16
Phật giáo được lựa chọn là một tất yếu, phù hợp với đời sống tinh thần của nhân dân
cũng như có lợi cho giai cấp cầm quyền non trẻ.
Vương quốc Ayutthaya là một quốc gia theo thể chế nhà nước quân chủ phương
Đông. Để tuyệt đối hóa quyền lực của nhà vua, bên cạnh các yếu tố khác thì tôn giáo là
một trong những nhân tố để góp phần thần thánh hóa những uy quyền này. Vì thế, giới
cầm quyền đã tìm cách để lồng các khái niệm về sức mạnh siêu nhiên vào trong các
nghi lễ Phật giáo. Họ tạo mối liên tưởng giữa sức mạnh của các vị thần địa phương, các
sing khỏi khổ đau của đời người nên rất phù hợp với tâm tư, tình cảm của cư dân Đông
Nam Á - vốn là những cư dân hiền lành, chịu thương chịu khó.
Khi người Thái đến lưu vực Mênam, chính Phật giáo chứ không phải một nhân
tố nào khác, kết hợp với tín ngưỡng bản địa của người Thái để tạo nên các lớp tín
ngưỡng trong đời sống tinh thần của cư dân Thái. Có hai tầng tín ngưỡng trong nhân
dân Thái. Tầng thứ nhất là vật linh luận, không khác gì với các dân tộc khác trong buổi
nguyên thủy. Sau đó đến Phật giáo với những yếu tố Bàlamôn giáo và Ấn Độ giáo.
Trong Phật giáo dân gian Thái, cả hai lớp tín ngưỡng và quan niệm này đã hòa trộn lẫn
vào nhau trong quần chúng nhân dân.10
Chính vì vậy, các vị vua Ayutthaya đều nhận thấy rằng, chính Phật giáo chứ
không phải là một yếu tố nào khác sẽ là tôn giáo có khả năng to lớn trong việc cố kết
cộng đồng dân tộc, thống nhất người Thái thành một dân tộc lớn mạnh. Phật giáo sẽ trở
thành nền tảng tư tưởng, đạo đức của dân tộc mình, cho lối sống và tính cách của người
Thái chứ không phải là một hệ tư tưởng hay một tôn giáo nào khác. Dù là người Thái
miền Bắc hay miền Trung, Thái Yai hay Thái Nọi…thì họ đều coi hai lớp tín ngưỡng
này là sự tiếp nối không thể tách rời.
Giai cấp thống trị Ayutthaya đã nhận thấy được yếu tố liên kết của Phật giáo và
đã lợi dụng sự liên kết này để thống nhất tộc người, thống nhất lãnh thổ, đưa Phật giáo
trở thành hệ tư tưởng và sức mạnh tinh thần của toàn thể nhân dân và dân tộc Thái.
Xuất phát từ những cơ sở khách quan và nhu cầu chủ quan của người Thái, Phật
giáo đã đáp ứng được tất cả những nhu cầu đó để trở thành lựa chọn duy nhất và sáng
giá cho các vị vua Ayutthaya cũng như dân tộc Thái, được người dân Thái đón nhận
một cách nhiệt thành và trở thành khuôn mẫu về đạo đức để người dân Thái tự soi
mình và sống sao cho đúng với những điều răn dạy của đức Phật.
10
Phya Anuman Rajadhon (1988), Văn hóa dân gian Thái Lan, (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), Nhà xuất
bản Văn hóa, Hà Nội, tr.50.
Ngay khi lên ngôi, năm 1353, vua Ramathibodi I đã cho xây dựng ba ngôi
wat được cho là quan trọng nhất trong toàn bộ vương quốc mà phế tích còn tồn tại
19