Bài giảng lịch sử việt nam (1945 1954) - Pdf 51

ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
CHƯƠNG 1 NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TỪ SAU NGÀY 02/9/1945 ĐẾN
TRƯỚC NGÀY 19/12/1946
A. Mục tiêu
1. Về kiến thức
Giúp Sinh viên nắm rõ những diễn biến cơ bản của Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1946:
Ngay sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rơi vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc": đất nước đang đứng trước sự đe
dọa của nạn đói, nạn dốt, tệ nạn xã hội tràn lan, ngân sách cạn kiệt và thêm vào đó là 20 vạn quân Tưởng cùng bọn tay sai kéo vào miền Bắc, uy hiếp
chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hơn 1 vạn quân Anh kéo vào miền Nam giúp cho Pháp trở lại xâm lược nước ta.
Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cách nào để đưa đất nước vượt qua được tình thế vô cùng khó khăn này?
2. Về tư tưởng
Bồi dưỡng cho sinh viên chuyên ngành lịch sử lòng yêu nước gắn với chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ của
cách mạng... giúp sinh viên có lập trường, tư tưởng vững vàng, phục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử sau này.
3. Về kĩ năng
Rèn luyện cho sinh viên kĩ năng phân tích, nhận định, đánh giá tình hình đất nước sau khi vừa mới giành được độc lập, kĩ năng sử dụng các
tranh, ảnh, phim tư liệu, lược đồ chiến tranh, sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin phục vụ cho việc giảng dạy.
Rèn luyện cho sinh viên khả năng tự học, tự nghiên cứu, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp cận các vấn đề lịch sử.
B. Nội dung cơ bản
1.1. Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám - 1945
1.1.1. Những thuận lợi
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống chủ nghĩa xã hội đang hình thành
[1]
, phong trào cách
mạng thế giới phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nước Đông Nam Á và Trung Quốc
[2]
đã cổ vũ
nhân dân ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ thành quả của cách mạng tháng Tám.
Dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập, tự do và bước đầu được hưởng những quyền lợi do
chính quyền cách mạng đem lại, nên họ vô cùng phấn khởi và sẵn sàng đứng lên để bảo vệ những
quyền lợi ấy. Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng
Hòa non trẻ vượt qua những khó khăn thử thách của giai đoạn lịch sử này.

Tuy đã được tôi luyện trong 15 năm, kinh nghiệm có được chủ yếu là trong việc lãnh đạo nhân
dân đấu tranh cách mạng, nhưng kinh nghiệm quản lí nhà nước của Đảng ta chưa nhiều, nên chính
quyền cách mạng từ trung ương đến địa phương vẫn còn rất non trẻ. Ở một số nơi, chính quyền còn
do địch kiểm soát. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn chưa được các nước công nhận về ngoại
giao.
Quân đội chính quy còn đang trong quá trình xây dựng, chưa được huấn luyện qua các trường
lớp chính quy, vũ khí và phương tiện chiến tranh thiếu thốn, thô sơ.
1.1.2.2. Về đối ngoại
Miền Bắc (từ vĩ tuyến 16 trở ra)
Hơn 20 vạn quân Tưởng và các đảng phái tay sai của chúng như: Việt Nam Quốc dân Đảng
(Việt Quốc) do Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng chí hội
(Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần cầm đầu tràn vào nước ta dưới danh nghĩa quân đồng minh vào giải
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
2
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
giáp quân đội Nhật. Quân Tưởng và tay sai của chúng vào nước ta với mưu đồ tiêu diệt Đảng Cộng
Sản Đông Dương, lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh, lập nên chính quyền tay sai của chúng.
Dựa vào quân Tưởng, các đảng phái này đã ra sức chống phá cách mạng, lập nên chính quyền
phản động ở Yên Bái, Móng Cái, Vĩnh Yên.
Miền Nam (từ vĩ tuyến 16 trở vào)
Hơn 1 vạn quân Anh theo sự thỏa thuận của lực lượng Đồng Minh cũng đã tiến vào nước ta
dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Ngay khi tiến vào nước ta, quân Anh đã tái vũ trang cho
quân đội Pháp, dọn đường cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam.
Nhân cơ hội đó, các phần tử phản động thân Pháp như Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Văn Tâm…
đã ra sức tìm cách chống phá cách mạng, một số đảng phái chính trị phản động mới được thành lập
như Đảng Nam Kì do Nguyễn Tấn Cường – một tên mật thám Pháp cũ đứng đầu, Đảng Đông Dương
tự trị do Nguyễn Văn Tỵ đứng đầu…., thêm vào đó là một số lực lượng phản động trong các giáo
phái như Cao Đài, Hòa Hảo...hoạt động trở lại và chống phá cách mạng.
Ngoài quân Anh, Tưởng và Pháp ra, trên khắp nước ta còn có 6 vạn quân Nhật.
Những khó khăn về đối nội và đối ngoại trên là một thách thức quá lớn đối với Chính phủ Việt

- Ba là, tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự
do dân chủ của nhân dân.
- Bốn là, mở một phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm chính để bài trừ thói hư, tật xấu do chế
độ thực dân để lại.
- Năm là, xóa bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.
- Sáu là, tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết
[1]
.
Ngày 08/9/1945, Chính phủ lâm thời đã công bố sắc lệnh số 14 về tổng tuyển cử bầu Quốc Hội
trong cả nước. Sắc lệnh ghi rõ: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có
quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước công quyền và những người trí óc không bình
thường”
[2]
Chính phủ Lâm thời: Tức Uỷ ban Giải phóng dân tộc Việt Nam được thành lập theo quyết định của
Quốc dân Đại hội Tân Trào họp trong 2 ngày 16, 17/8/1945.
Nghị quyết của Quốc dân Đại hội ghi rõ: "Để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc giải phóng
của chúng ta cho thắng lợi, Quốc dân Đại hội quyết định thành lập Uỷ ban Giải phóng dân tộc Việt
Nam. Uỷ ban này cũng như Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam trước khi thành lập một Chính
phủ chính thức. Uỷ ban này thay mặt quốc dân mà giao thiệp với các nước ngoài và chủ trì mọi công
việc trong nước".
Về tổ chức, Uỷ ban Giải phóng dân tộc gồm 15 người, có một Uỷ ban thường trực, với 5
thành viên: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền,
do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 26/8/1945, tại phiên họp đầu tiên của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ và sớm công bố danh
sách Chính phủ cho toàn dân biết. Nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, đảng phái yêu
nước, nhân sĩ tiến bộ, một số thành viên của Việt Minh đã tự nguyện rút khỏi Chính phủ để nhường
cho các thành phần khác. Hành động cao cả đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá “là một cử
chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết lên trên lợi ích cá
nhân”. (Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng,02/1951).

Ngày 01/01/1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch đã làm
lễ ra mắt tại Nhà hát thành phố, trước 30 nghìn nhân dân Hà Nội.
Thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố danh sách Chính phủ mới, và đường
lối đối nội, đối ngoại của Chính phủ. Người cùng các thành viên Chính phủ tuyên thệ:
1. Chúng tôi kiên quyết lãnh đạo quốc dân;
2. Giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc;
3. Thực hiện quyền dân chủ cho nước Việt Nam đặng mang lại tự do chính thức cho dân tộc;
4. Trong lúc giữ nền độc lập, quyết vượt hết mọi nỗi khó khăn nguy hiểm, dù phải hy sinh tính
mệnh cũng không từ.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
5
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân ủng hộ để Chính phủ có thể đi đến thành
công. Chính phủ liên hiệp lâm thời tồn tại từ ngày 01/01 đến ngày 02/3/1946. Trong thời gian đó,
dưới sự lãnh đạo khéo léo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã dàn xếp ổn thoả với quân đội
Tưởng Giới Thạch; lãnh đạo và chi viện tích cực cho cuộc kháng chiến ở miền Nam; tổ chức thắng
lợi cuộc Tổng tuyển cử; phát hành giấy bạc Việt Nam, động viên toàn dân tham gia sản xuất, đẩy lùi
nạn đói.
[5]
Quốc Hội quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch,
Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch.
Chính phủ liên hiệp kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch đã đưa đất nước vượt qua
nhiều khó khăn, thách thức. Từ ngày 28/10 đến ngày 9/11/1946, kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I đã
thảo luận và thông qua những chủ trương cấp bách để chuẩn bị kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh
trình Quốc hội danh sách Chính phủ mới gồm 14 thành viên do Hồ Chí Minh làm chủ tịch kiêm Bộ
trưởng Bộ ngoại giao thay cho Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Quốc hội triệt để tín nhiệm Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Chính phủ mới do Hồ Chủ tịch thành lập.
Các đại biểu thuộc các tổ chức chính trị đi ngược lại quyền lợi của dân tộc hoàn toàn bị gạt ra
khỏi Chính phủ. Quốc hội đã bầu Cụ Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội; thảo
luận và thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 9/11/1946, Chủ

nước vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” lúc bấy giờ.
1.2.2. Về kinh tế - tài chính
1.2.2.1. Giải quyết nạn đói
Trước tình hình xã hội hết sức phức tạp, ngay trong phiên họp đầu tiên vào ngày 03/9/1945,
Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời đã bàn về các biện pháp chống đói:
Biện pháp trước mắt:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào lập “hũ gạo tiết kiệm”, không dùng gạo, ngô nấu
rượu để đem cứu dân nghèo, tổ chức “ngày đồng tâm”, thực hiện “nhường cơm sẽ áo”, ra lệnh
nghiêm trị tình trạng đầu cơ thóc gạo…
Người nói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động
lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ mỗi ngày nhịn ăn một bữa,
đem gạo đó (mỗi bữa mỗi bơ) để cứu dân nghèo”
[7]
Những biện pháp trên đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân khắp nơi,
giúp cho người nghèo có ăn để tăng gia sản xuất.
Biện pháp lâu dài:
Về lâu dài, để đưa đất nước thoát khỏi nạn đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào
thi đua tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: “không một tất đất bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng”.... Bác đã
kêu gọi nhân dân “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu
hiệu của chúng ta ngày nay. Đó là cách thiết thực để chúng ta giữ vững quyền tự do và độc lập”
[8]
Củng cố đê điều, chia ruộng cho dân cày nghèo, giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế
vô lý khác.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
7
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Chính phủ cách mạng ra sắc lệnh số 11 ngày 7/9/1945 bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí
khác của chế độ cũ, ra Thông tư giảm tô 25%, miễn thuế ruộng đất đối với các vùng bị lụt và vùng có
chiến sự ở Nam bộ, Trung Nam bộ cùng các loại ruộng đất hoang hóa vừa mới được khai phá, gieo
trồng; giảm thuế ruộng 20% trong toàn quốc cho nông dân; tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian

cầu đào tạo nhân lực phục vụ phát triển đất nước.
[11]
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
8
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Trên mặt trận văn hóa – xã hội, Đảng và nhà nước ta đã tiếp tục cho xuất bản và xuất bản mới các
báo: Cứu quốc, Cờ giải phóng, Sự thật…; mở cuộc vận động Đời sống mới, hướng đến các giá trị
đạo đức mới “cần kiệm, liêm chính”, bài trừ các tệ nạn trong xã hội.
[1]
Dẫn theo: Trần Bá Đệ (Chủ biên), Giáo trình lịch sử Việt Nam (1945 - 1975), Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2007, trang 13.
[2]
Việt Nam quốc dân công báo, Số 1, ngày 29/9/1945.
[3]
Nguồn: />LS_CP_CACTHOIKY/1/PHAN1.CHUONG1.II.HTM/
[4]
Trần Bá Đệ (Chủ biên), Giáo trình lịch sử Việt Nam (1945 - 1975), Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2007, trang 13.
[5]
Nguồn: />LS_CP_CACTHOIKY/1/PHAN1.CHUONG1.II.HTM/
[6]
Theo: />LS_CP_CACTHOIKY/1/PHAN1.CHUONG1.IV.HTM
[7]
Dẫn theo: Trần Bá Đệ (Chủ biên), Giáo trình lịch sử Việt Nam (1945 - 1975), Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2007, trang 17.
[8]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Trang 115.
[9]
Trần Bá Đệ (Chủ biên), Giáo trình lịch sử Việt Nam (1945 - 1975), Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2007, trang 18.
[10]
Dẫn theo: Trần Bá Đệ (Chủ biên), Giáo trình lịch sử Việt Nam (1945 - 1975), Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2007, trang 13.
[11]
Theo PGS,TS. Trần Bá Đệ, Sđd, trang 19: “Từ 08/9/1945 đến 08/9/1946, trên toàn quốc đã tổ chức được 75.805 lớp học với 97.664 giáo viên và đã

23/9/1945:
Ðồng bào Nam bộ
Nhân dân thành phố Sài Gòn
Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!
Ðêm qua, thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung tâm Sài Gòn.
Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa.
Hôm nay, Ủy ban kháng chiến kêu gọi tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái, hãy cầm
võ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược. Ai không có nhiệm vụ do Ủy ban kháng
chiến giao phó thì hãy lập tức rời khỏi thành phố, những người ở lại thì:
Không đưa đường, không báo tin cho Pháp
Không bán lương thực cho Pháp
Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt
Hãy đốt sạch tất cả các sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy Pháp
Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, nước, không chợ
búa, không cửa hàng
Hỡi đồng bào
Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc. Cuộc kháng
chiến bắt đầu.
[2]
23/9/1945
Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ
Trần Văn Giàu
Trước tinh thần kháng Pháp của nhân dân Nam bộ, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đã
ra sức ủng hộ và phát động phong trào ủng hộ Nam bộ kháng chiến để giam chân địch. Ngày
26/9/1945, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã gửi thư cho đồng bào Nam bộ:
“Hỡi đồng bào Nam bộ!
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
10
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật, thì

6/3/1946)
1.3.2.1. Hiệp ước Hoa – Pháp và âm mưu của Pháp
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
11
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Sau khi chiếm đóng Nam bộ và Nam Trung bộ, thực dân Pháp chuẩn bị mở rộng xâm lược ra
miền Bắc. Nhưng do lực lượng còn yếu (3,5 vạn), chúng không thể đương đầu nổi với nhân dân miền
Bắc và sự cản trở của 20 vạn quân Tưởng đây.
Để có thể đưa quân ra miền Bắc một cách “hòa bình”, Pháp đã thương lượng và ký với Tưởng
Hiệp ước Hoa – Pháp vào ngày 28/2/1946 với nội dung:
+ Pháp trả lại một số quyền lợi cho Tưởng ở Trung Quốc và cho Trung Quốc vận chuyển hàng
hoá qua cảng Hải Phòng miễn thuế.
+ Tưởng đồng ý cho Pháp đưa quân ra miền Bắc thay thế Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân
đội Nhật. Mặt khác, Pháp tìm cách điều đình với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Như vậy, sau 28/2/1946, ta đang đứng trước hai con đường: Hoặc chống lại thực dân Pháp ngay
sau khi chúng đưa quân ra miền Bắc; hoặc tạm thời hòa hoãn với Pháp để nhanh chóng đẩy 20 vạn
quân Tưởng ra khỏi đất nước ta, sau đó mới chống lại Pháp.
Chủ trương của chính phủ ta sau ngày 28/2/1946 là: chọn con đường hòa hoãn với Pháp
bằng cách kí hai hiệp định:
1.3.2.2. Kí Hiệp định sơ bộ 6/3/1946
Ngày 6/3/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh (đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà) và Xanhtơny J. (J. Sainteny, đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp) đã kí bản Hiệp định sơ
bộ tại Hà Nội. Nội dung cơ bản của Hiệp định sơ bộ và một bản thoả thuận phụ kèm theo Hiệp định,
gồm các điều khoản là:
Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân
đội, tài chính, ở trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp; Pháp cam kết sẽ thừa nhận
quyết định của cuộc trưng cầu ý dân về vấn đề thống nhất ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
Việt Nam thoả thuận cho 15 nghìn quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân
đội Tưởng Giới Thạch và quân Pháp sẽ rút hết sau 5 năm; hai chính phủ có biện pháp để đình chỉ
ngay xung đột quân sự và giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí lúc kí kết; hai chính phủ mở ngay

lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.
[1]
Dẫn theo: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, tập 1, Nxb QĐND, HN, 1985, Trang 23.
[2]
Minh Anh (SGGP), Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, Ủy ban MTTQ Tp. Hồ Chí Minh,
web/tintuc/default.aspx?cat_id=645&news_id=2380
[3]
Dẫn lại: Nguyễn Xuyến, Hào Khí Nam bộ kháng chiến, Báo Bình Dương, ngày 24/9/2006,
/> * Bài tập chương 1
1. Hoàn cảnh lịch sử của nước Việt Nam năm đầu sau cách mạng tháng Tám 1945.
2. Những thành tựu về xây dựng và củng cố nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ tháng 9/1945 đến tháng 12 năm 1946.
3. Ngay sau khi thành lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở vào tình thế khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”. Vì sao?
4. Những thuận lợi và khó khăn của nước ta sau cách mạng tháng tám 1945?
5. Chủ trương và biện pháp của Đảng và Chính phủ ta nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt trong thời gian sau Cách mạng tháng Tám
(9/1945 – 12/1946).
6. Vì sao chính phủ ta kí với chính phủ Pháp hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và tạm ước 14/9/1946?
7. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược ở Nam bộ vào cuối năm 1945 đã diễn ra như thế nào?
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
13
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
* Bài đọc thêm
1. Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Tổng tuyển cử thành lập chính phủ liên hiệp kháng
chiến,
I.HTM/
2. PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Tính chất chính nghĩa, chủ động sáng tạo của Nam bộ kháng chiến mãi mãi tỏa
sáng, /
3. Phạm Minh Khải, Bác Hồ với Nam bộ kháng chiến , /
4. Bình Thái, Những tượng đài của lòng ái quốc,

* Tài liệu tham khảo

2.1. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ (19/12/1946) và đường lối
kháng chiến của ta
2.1.1. Kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ
Ngày 5/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ xác định: Công
việc khẩn cấp là kháng chiến và kiến quốc. Người dự đoán cuộc kháng chiến sẽ gay go, gian khổ,
nhưng chúng ta kiên quyết chống chọi với các trận khủng bố của địch, thì ta sẽ thắng.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
14
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Tháng 11/1946, cả nước được chia thành 12 khu hành chính và quân sự. Mỗi khu có Uỷ ban
kháng chiến khu phụ trách hành chính, Khu trưởng phụ trách quân đội.
Ngày 30/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 230-SL bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc.
Về phía thực dân Pháp, mặc dù đã ký Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) với
ta, nhưng chúng vẫn đẩy mạnh các hoạt động khiêu khích:
Ngày 20/11/1946, thực dân Pháp bội ước nổ súng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đến đầu
tháng 12/1946, chúng đổ bộ hàng nghìn quân lên chiếm đóng Đà Nẵng, Lạng Sơn.
Trước tình hình đó, ngày 15/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thông điệp cho Thủ tướng
Chính phủ Pháp Lêông Blum, nhắc lại lập trường đúng đắn của phía Việt Nam, nêu ra một số điều
kiện để cải thiện mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp.
Thực dân Pháp không những không phúc đáp bản thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà
còn tiếp tục khiêu khích ta ở Thủ đô và bắn đại bác vào phố Hàng Bún, phố Yên Ninh, cầu Long Biên
vào ngày 17/12/1946.
Nghiêm trọng hơn, ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng trong
vòng 48 giờ.
Nếu tiếp tục nhân nhượng, thuận theo những điều kiện lúc này của thực dân Pháp thì đồng
nghĩa với việc trao độc lập, chủ quyền của ta cho chúng. Nhân dân ta chỉ còn một con đường duy
nhất là cầm vũ khí đứng lên.
Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng ở Vạn Phúc

cầm cự và tổng phản công.
Chỉ thị Toàn dân kháng chiến đã nêu rõ: Mục đích của kháng chiến là "đánh phản
động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập"; "tính chất: Trường kỳ
kháng chiến, toàn diện kháng chiến"; các chính sách của cuộc kháng chiến là đoàn kết
toàn dân, xây dựng thực lực về mọi mặt, đoàn kết quốc tế (cả với nhân dân Pháp) để
chống bọn thực dân Pháp phản động. Bản Chỉ thị còn dự đoán về các giai đoạn phát triển
của cuộc kháng chiến, về chương trình kháng chiến, về cơ quan lãnh đạo kháng chiến, về
tuyên truyền trong kháng chiến ...
Từ tháng 3 - 1947, qua thực tiễn những ngày đầu của cuộc chiến đấu, Trường
Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã viết một loạt bài đăng trên báo Sự thật để làm sáng tỏ
thêm đường lối kháng chiến của Đảng. Những bài viết này được xuất bản thành tác
phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi.
Tác phẩm của Trường Chinh đã xác định rõ:
Mục tiêu của cuộc kháng chiến: Dân tộc ta kháng chiến đánh bọn thực dân phản
động Pháp xâm lược nhằm giành độc lập và thống nhất.
Tính chất của cuộc kháng chiến: Kế tục sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, cuộc
kháng chiến này hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mở rộng và củng cố chế độ
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
16
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
cộng hoà dân chủ Việt Nam phát triển trên nền tảng dân chủ mới. Cho nên cuộc kháng
chiến của ta có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
Về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, Trường Chinh khẳng định "...
Cuộc kháng chiến này chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng
chế độ cộng hoà dân chủ. Nó không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho
dân cày, chỉ tịch thu ruộng đất và các hạng tài sản khác của Việt gian phản quốc để bổ
sung ngân quỹ kháng chiến hay ủng hộ gia đình các chiến sĩ hy sinh"
[2]
.
Cuộc kháng chiến của chúng ta là một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn

tranh giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ anh dũng và nhất định thắng lợi
[3]
.
[1]

EP/
LS_CP_CACTHOIKY/1/PHAN1.CHUONG1.IV.HTM
[2]
Trường Chinh, Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1947, tr. 30,31.
[3]
Nguồn: />option=com_content&task=view&id=1066&Itemid=69/
2.2. Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950)
2.2.1. Cuộc kháng chiến ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16
Sau ngày toàn quốc kháng chiến, quân dân các thành phố và thị xã ở Bắc vĩ
tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đã đồng loạt nổ súng:
Tại thị xã Hải Dương, quân ta đã nhanh chóng tiêu diệt địch ở trường Nữ học
và cầu Phú Lương. Nhưng ngay sau đó, Pháp đã phản kích và giành lại quyền kiểm soát.
Tại Hải Phòng, nhân dân đã phá cầu, chôn mìn đặt chướng ngại vật... để chặn đường tiếp tế cho
Hà Nội của Pháp.
Tại Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Huế, Đà Nẵng...nhân dân ta đã nổ súng tấn công địch ở
khắp nơi, chiếm giữ được nhiều vị trí quan trọng. Nhưng do bị phản công của Pháp quá mạnh nên ta
buộc phải rút lui ra ngoại thành và các vùng nông thôn để bảo toàn lực lượng và tiếp tục kháng chiến.
Trong các cuộc đấu tranh đó, tiêu biểu nhất là cuộc chiến 60 ngày đêm ở Thủ đô Hà Nội. Với
tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, quân và dân Thủ đô đã chiến đấu dũng cảm, quyết liệt để
giam chân và tiêu hao sinh lực địch. Nhưng do lực lượng của Pháp quá mạnh, nên Trung ương Đảng
đã cho Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội trở về hậu phương để kháng chiến lâu dài.
2.2.2. Tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
Song song với cuộc chiến đấu ở các đô thị, Đảng và Chính phủ cũng đã thực hiện thắng lợi
cuộc tổng di chuyển ra các vùng căn cứ kháng chiến.
Đến tháng 3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan Trung ương đã chuyển lên căn cứ

Trung Quốc… loại trừ mọi sự chi viện từ bên ngoài vào; truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh
cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ”
[1]
Ngày 10/9/1947, Bôléc (Bollaert), Cao uỷ Pháp tuyên bố không công nhận Chính phủ nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ Chí Minh đứng đầu.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
19
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Trước tình hình đó, ngày 15/9/1947, Trung ương Đảng ra chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ của nhân dân
ta phải chống âm mưu dùng người Việt trị người Việt của thực dân Pháp và chuẩn bị chống lại cuộc
tấn công lớn của địch.
2.2.3.2. Diễn biến
Ngày 7/10/1947, Pháp huy động 12.000 quân và hầu hết máy bay hiện có ở
Đông Dương tấn công lên Việt Bắc:
- Một bộ phận nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới.
- Một binh đoàn bộ binh tấn công từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, sau đó chia một bộ phận theo
đường số 3 xuống Bắc Cạn.
- Ngày 9/10/1947, binh đoàn hỗn hợp bộ binh và lính thủy đánh bộ từ Hà Nội ngược sông
Hồng, sông Lô lên Tuyên Quang, bao vây Việt Bắc từ phía Tây.
Pháp dự định sẽ khép hai gọng kìm này lại tại Đài Thị.
Trước những hoạt động quân sự của địch, ngày 15/10/1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng
ra chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”, trong đó nêu rõ nhiệm vụ trước mắt
của quân và dân ta phải làm cho địch thiệt hại nặng nề, giữ vững chính quyền dân chủ, phá vỡ bất cứ
chính quyền bù nhìn nào do địch lập nên, về quân sự phải đánh mạnh trên khắp các chiến trường...
Thực hiện chỉ thị của Đảng và căn cứ vào thực tế chiến trường, với lối đánh mưu trí linh hoạt,
chúng ta đã căng địch ra trên một không gian rộng, chia cắt các mũi tiến công của chúng, lợi dụng địa
hình hiểm trở phục kích, đánh chặn tiêu hao, tiêu diệt quân địch:
- Ở Bắc Cạn, ta bao vây tập kích quân nhảy dù của Pháp.
- Ở sông Lô, ta phục kích địch ở Đoan Hùng, Khe Lau, Khoan Bộ, bắn chìm nhiều tàu chiến và
canô của chúng.

- Thực dân Pháp đã thành lập các xứ tự trị ở Tây Bắc và Tây Nguyên để chia rẽ dân tộc Việt
Nam như: Tháng 4/1948, chúng lập thành lập xứ Nùng tự trị (Tiên Yên, Móng Cái); Liên bang Thái
(Sơn La, Lai Châu); tháng 5/1948 lập xứ Mường tự trị (Hòa Bình); tháng 6/1948 lập xứ Tây Kì tự trị
(Tây Nguyên); tháng 7/1948 lập Liên bang Tày (Cao Bằng, Lạng Sơn).
Trong nửa đầu năm 1948, thực dân Pháp đã giành được nhiều kết quả làm cho phong trào đấu
tranh của nhân dân ta bị tổn thất lớn.
2.2.4.2. Chủ trương đối phó của ta
Để đối phó với những âm mưu của thực dân Pháp, Đảng và Chính phủ chủ trương: Một mặt,
phát động chiến tranh du kích ở các vùng bị tạm chiếm nhằm tiêu hao sinh lực địch; mặt khác, đẩy
mạnh củng cố chính quyền, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế... ở các vùng tự do
để tạo sức mạnh phục vụ cho kháng chiến.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
21
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
2.2.4.2.1. Đẩy mạnh chiến tranh du kích
Đảng đã chủ trương phân tán 1/3 bộ đội chủ lực, đưa về các vùng bị địch chiếm đóng để hỗ trợ
và lãnh đạo nhân dân thực hiện chiến tranh du kích.
Nhờ chủ trương này, phong trào cách mạng đã được phục hồi và phát triển nhanh chóng: Các
phong trào chống thu thóc, chống nộp thuế, các hoạt động trừ gian diệt ác, chống càng, bảo vệ làng
mạc...diễn ra khắp nơi và rất mạnh mẽ.
Đến năm 1948, bộ đội chủ lực bắt đầu tập đánh vận động chiến, tiêu biểu như: Chiến dịch
Nghĩa Lộ, chiến dịch Lao – Hà, chiến dịch Đông Bắc...
Đồng thời, Đảng còn lãnh đạo quần chúng đấu tranh chính trị ở khắp các thành phố lớn như:
Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn - Chợ Lớn.... Tiêu biểu là cuộc biểu tình của 2.000 sinh viên, học sinh
Sài Gòn vào ngày 9/01/1950 và cuộc biểu tình của 300.000 đồng bào Sài Gòn vào ngày 19/3/1950.
2.2.4.2.2. Củng cố chính quyền, xây dựng kinh tế, văn hoá, giáo dục
Đảng và Chính phủ đã tăng cường củng cố chính quyền từ Trung ương xuống địa phương;
Thống nhất Mặt trận Việt Minh và Liên Việt thành Hội Liên Việt.
Ngày 20/01/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-sl phong quân hàm Đại tướng cho
ông Võ Nguyên Giáp. Tháng 7/1948, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc

Ngày 12/02/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh Tổng động viên, để thực hiện khẩu hiệu
“Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.
Được nhân dân tích cực hưởng ứng, cuộc tổng động viên kết hợp và hoà nhập với phong trào
thi đua ái quốc đã phát triển sôi nổi và mạnh mẽ chưa từng thấy. Chỉ riêng từ liên khu IV trở ra đã có
trên 500.000 thanh niên ghi tên tòng quân, hàng mấy chục vạn đồng bào hăng hái lên đường đi dân
công phục vụ tiền tuyến. Nhân dân còn quyên góp tiền, của, thóc gạo cho kháng chiến. Trên cả nước,
từ Việt Bắc đến Nam Bộ, đâu đâu đồng bào cũng ra sức đóng góp phần mình cho kháng chiến.
Chống phá hoại kinh tế của địch: Chống chiến dịch “phá lúa”, chống chủ trương “đốt sạch, phá
sạch, cướp sạch” của địch.
Xây dựng và phát triển kinh tế như: Phát động phong trào thi đua ái quốc, đẩy mạnh sản xuất.
Thực hiện giảm tô 25%, chia ruộng cho nông dân. Giảm tức, xoá nợ, hoãn nợ cho nông dân. Xây
dựng các cơ sở công nghiệp quốc phòng…
Ngày 01/6/1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 197-SL, thành lập Ban vận động thi đua
các cấp. Ngày 11/6/1948, nhân kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết lời kêu gọi thi đua ái quốc.
Tháng 02/1949, Chính phủ ra Sắc lệnh tạm cấp ruộng đất của Việt gian và Thông tư
chia ruộng đất của thực dân Pháp cho nông dân nghèo, nhằm chấm dứt tình trạng một số
đồn điền trại ấp lâu ngày không được canh tác.
Ngày 14/7/1949, Chính phủ ban hành Sắc lệnh ấn định mức địa tô và thành lập ở
mỗi tỉnh một Hội đồng giảm tô. Sắc lệnh quy định chủ ruộng phải giảm 25% so với mức
địa tô trước Cách mạng Tháng Tám; xoá bỏ tô phụ và chế độ quá điền.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
23
ANH HOÀI ĐHSSỬ 09B
Ngày 4/5/1950, Chính phủ ra Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ.
Ngày 22/5/1950, Chính phủ ra Sắc lệnh số 88-SL quy định thể lệ lĩnh canh ruộng
đất và Sắc lệnh số 89-SL quy định việc giảm lãi, xoá nợ, hoãn nợ.
Ngày 9/9/1950, Chính phủ Việt Nam ban hành Công trái quốc gia để huy động
nhiều thóc, gạo phục vụ nhiệm vụ kháng chiến.
=> Kinh tế ở các vùng tự do phát triển nhanh chóng, tạo tiếm lực cho chính quyền cách mạng.

phủ Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ. Đây là thắng lợi ngoại giao cực kỳ to lớn của cách mạng Việt
Nam.
Tháng 6/1950, Ủy Ban dân tộc giải phóng Campuchia thành lập và tháng 8/1950 Chính phủ
kháng chiến Lào cũng ra đời đã gây khó khăn cho thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương.
Trước tình hình đó, Mĩ đã giúp Pháp đẩy mạnh chiến tranh. Thực dân Pháp thông qua Kế hoạch
Rơ – ve với 3 hoạt động cơ bản như sau:
1/ Tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4, khoá biên giới Việt – Trung.
2/ Thiết lập một “hành lang Đông – Tây” (Hải Phòng – Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La) để cô lập
căn cứ Việt Bắc.
3/ Chuẩn bị tấn công lên căn cứ Việt Bắc lần thứ hai để tiêu diệt cơ quan đầu não Việt Minh và
nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
2.2.5.2. Diễn biến
Để tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt một bộ phận quan trọng
sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan vòng vây của chủ
nghĩa đế quốc, tháng 6/1950, Ban thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã quyết định mở chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, tức Chiến dịch Biên giới thu đông
năm 1950, còn được gọi là Chiến dịch Lê Hồng Phong II.
Chuẩn bị cho chiến dịch, ta huy động hơn 120.000 dân công, vận chuyển đến chiến trường 4.000
tấn lương thực, súng đạn... Đầu tháng 9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra mặt trận, đi sát
giúp đỡ Ban chỉ huy chiến dịch và động viên bộ đội, dân công.
Sáng 16/9/1950, quân ta nổ súng tấn công Đông Khê, đến ngày 18/9/1950 ta tiêu diệt hoàn toàn
Đông Khê làm cho Cao Bằng bị cô lập và Thất Khê bị uy hiếp.
Thực dân Pháp đã lên kế hoạch rút khỏi Cao Bằng bởi một “cuộc hành quân
kép”: Đưa quân đánh Thái Nguyên buộc ta phải đối phó, đồng thời đưa lực lượng từ
Thất Khê đánh lên Đông Khê và rút quân ở Cao Bằng theo đường số 4 tiếp đánh
Đông Khê.
Đoán biết ý đồ của Pháp, ta cho quân mai phục và đánh bại cánh quân tiếp viện từ Thất Khê lên
và cả cánh quân từ Cao Bằng rút về. Đồng thời, ta đập tan cuộc hành quân tấn công lên Thái Nguyên
của địch.
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1945 - 1954


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status