Luận văn tốt nghiệp : Các giải pháp chủ yếu tăng lợi nhuận tại công ty xây lắp vật liệu xây dựng Sông Hồng - Pdf 51

Luận văn Cuối khóa
LỜI MỞ ĐẦU

Sản xuất của cải vật chất là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội con người. Các doanh nghiệp nói chung và ngành xây dựng
cơ bản nói riêng, với tư cách là một đơn vị sản xuất đã và đang tạo ra cơ sở
vật chất cho nền kinh tế quốc dân, đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển
của đất nước.
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau đều phải
chuyển mình và thay đổi hoàn toàn để thích nghi được với môi trường kinh tế
trong đó tồn tại các quy luạt khách quan.
Để nắm bắt được những cơ hội và vượt qua những thách thức, các
doanh nghiệp cần phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả. Mặt khác, cơ chế
thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải là một chủ thể độc lập trong kinh
doanh, được quyền chủ động xây dựng phương án sản xuất, thực hiện các
biện pháp kinh tế để tăng hiệu quả sản xuất đồng thời nó cũng là yêu cầu từng
doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về hoạt động của chính bản thân mình.
Mục tiêu “Tối đa hóa lợi nhuận” luôn là thước đo cũng như mục đích cuối
cùng của mọi biện pháp sản xuất kinh doanh hiệu quả đó.
Một doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao sẽ tăng được nguồn tích lũy
cho tái đầu tư mở rộng; tăng thu ngân sách Nhà nước; nâng cao uy tín, vị thế
của mình trên thương trường và cải thiện đời sống cho mỗi thành viên của
doanh nghiệp đó. Bởi vậy lợi nhuận không những là thước đo hiệu quả sản
xuất kinh doanh mà còn là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.
Xuất phát từ vai trò cũng như ý nghĩa to lớn của lợi nhuận trong doanh
nghiệp, nên trong quá trình thực tập em đã chọn đề tài “Các giải pháp chủ

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01


SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

2

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
CHƯƠNG I:
LỢI NHUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẤN ĐẤU TĂNG LỢI NHUẬN
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY.

1.1. LỢI NHUẬN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN.

1.1.1. Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.1.1. Khái niệm.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Khái niệm trên đã nhấn mạnh doanh nghiệp phải là một tổ chức kinh tế
chứ không phải là một tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội. Mục đích của
doanh nghiệp là tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nên muốn tồn tại và
phát triển doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận.
Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng lợi nhuận của doanh
nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra để đạt được lợi nhuận từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.
1.1.1.2. Nội dung lợi nhuận.
Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm 3 bộ phận:
* Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.

Doanh thu HĐTC gồm: tiền lãi, thu nhập từ cho thuê tài sản, thu từ
đóng góp cổ phần, đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, cho vay lấy lãi,
chênh lệch có lợi do tỷ giá hối đoái,...
Chi phí HĐTC là chi phí cho những hoạt động trên.
Lợi nhuận HĐTC = Doanh thu HĐTC – Chi phí HĐTC
* Lợi nhuận khác.
Là khoản chênh lệch khác và chi phí khác.
Các khoản thu nhập khác và chi phí khác là những khoản thu nhập hay chi
phí mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc dự tính nhưng ít có khả năng
thực hiện, hoặc đó là những khoản thu, chi không mang tính chất thường xuyên.
Thu nhập khác gồm: Thu từ hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố
định (TSCĐ), thu từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ, thu tiền phạt do
khách hàng vi phạm hợp đồng,...

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

4

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
Chi phí khác gồm: Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của
TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, chi do bị phạt thuế, truy nộp thuế,
các khoản chi do kế toán nhầm hoặc bỏ sót khi ghi sổ kế toán và các khoản chi
khác.
1.1.1.3. Ý nghĩa của lợi nhuận.
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh
có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói

Hàng năm, Nhà nước thu một phần lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế dưới hình thức thu thuế thu nhập doanh nghiệp để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện tái sản xuất mở
rộng trên quy mô toàn xã hội. Qua đó Nhà nước thực hiện điều tiết lợi ích
trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy
nhất để đánh giá chất lượng HĐSXKD, và cũng không thể chỉ dùng nó để so
sánh chất lượng HĐSXKD của các doanh nghiệp khác nhau do nó có những
hạn chế nhất định:
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều
nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố khách quan
và có sự bù trừ lẫn nhau.
Do điều kiện SXKD, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu thụ làm cho việc
so sánh lợi nhuận để đánh giá kết quả sẽ không mang tính khách quan toàn diện.
Các doanh nghiệp cùng loại, nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi
nhuận thu được cũng khác nhau. Ở những DN lớn nếu công tác quản lý kém
nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn nhưng DN quy mô nhỏ hơn
nhưng công tác quản lý tốt hơn.
Do vậy, để đánh giá đúng đắn chất lượng HĐKD của các DN, ngoài chỉ
tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng chỉ tiêu lợi nhuận tương đối là tỷ suất
lợi nhuận.
1.1.2. Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận của DN là một chỉ tiêu tương đối dùng để so sánh kết
quả kinh doanh giữa các thời kỳ trong một DN hoặc giữa các DN với nhau.
Mức tỷ suất càng cao (tức là mức doanh lợi càng cao) chứng tỏ doanh nghiệp
hoạt động càng có hiệu quả.

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01


P(Pr): Là lợi nhuận (lợi nhuận ròng) trong kỳ.
Vbq: Là tổng số vốn sản xuất sử dụng bình quân trong kỳ
VCĐbq: Vốn cố định bình quân.
VLĐbq: Vốn lưu động bình quân
Vđk:

Số vốn kinh doanh đầu kỳ.

Vck:

Số vốn kinh doanh cuối kỳ.

Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp, cụ thể: trong kỳ cứ sử dụng 100 đồng vốn bình quân thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận (hoặc lợi nhuận ròng). Do đó, tỷ suất lợi nhuận vốn nói

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

7

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
lên trình độ sử dụng vốn hiệu quả nhất hay mang lại nhiều lợi nhuận từ số vốn
tham gia kinh doanh nhỏ nhất.
* Tỷ suất lợi nhuận giá thành.
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ trước thuế hoặc sau thuế của sản
phẩm tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ.

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

8

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
T

: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.

Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
cụ thể: trong kỳ cứ 100 đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ thì doanh
nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng và số vốn chủ sở hữu bình quân tham gia
kinh doanh trong kỳ.
Công thức xác định:
Pr
Tsh(%) =

x 100%
Vcsh

Trong đó:
Tsh(%) : Là tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Vcsh


bao cấp với thành phần kinh tế Nhà nước, mọi doanh nghiệp phải đối mặt với
sự cạnh tranh quyết liệt thì chỉ bằng cách kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp
mới có thể tồn tại và phát triển được.
Phần lợi nhuận còn lại sau khi bù đắp các chi phí sẽ là nguồn tích luỹ
để doanh nghiệp tái sản xuất, đầu tư mở rộng và đáp ứng những nhu cầu khác.
Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì nguồn tích
luỹ chủ yếu là từ lợi nhuận thu được.
Lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Nó là chỉ tiêu đánh giá kết quả HĐKD, trình độ tổ chức quản lý
trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời lợi nhuận còn là đòn
bẩy kinh tế quan trọng tác động tới việc hoàn thiện và phát triển kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có lợi nhuận cao và ổn định thì uy tín sẽ
được nâng cao, mở rộng được thị trường và liên kết với nhiều đơn vị khác.
Bên cạnh đó, việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp thúc đẩy sự tăng
trưởng của nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả (có
lãi) sẽ nộp thuế cho NSNN, làm tăng tích luỹ và mở rộng sản xuất kinh doanh
trên quy mô toàn bộ nền kinh tế.
1.2.2 Xuất phát từ yêu cầu phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và
tự chủ tài chính của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, không có sự bao cấp về vốn của Nhà nước
cho các doanh nghiệp, Nhà nước giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, các
doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập, tự chịu

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

10

Lớp:


SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

11

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
Vì vậy, phấn đấu tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp là một vấn đề
hết sức cần thiết, quan trọng đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP.

Lợi nhuận của một doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố, có cả
nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Việc phân tích, đánh giá đúng đắn
ảnh hưởng của các nhân tố tác động thì sẽ giúp cho DN đưa ra những biện
pháp ra tăng lợi nhuận hợp lý và hiệu quả hơn.
1.3.1. Nhóm nhân tố chủ quan.
* Nhân tố số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ.
Về nguyên tắc, việc tăng sản lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm tăng
doanh thu và lợi nhuận lên (trong điều kiện các nhân tố khác không đổi). Sản
phẩm sản xuất ra càng nhiều thì khả năng về doanh thu sẽ càng lớn và là đòn
bẩy để tăng lợi nhuận. Điều này phụ thuộc vào năng lực sản xuất là công tác
lập kế hoạch về khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ. Lợi nhuận
còn phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp; tình hình tổ chức công tác tiêu
thụ sản phẩm; việc ký kết hợp đồng tiêu thụ đối với khách hàng; việc giao
hàng, vận chuyển và thanh toán tiền hàng. Ngoài ra, lợi nhuận còn phụ thuộc
vào việc tiết kiệm chi phí; quản lý điều hành doanh nghiệp. Trong thi công,
xây lắp, lợi nhuận còn phụ thuộc vào khối lượng công trình hoàn thành. Việc
chuẩn bị tốt ký hợp đồng kinh tế với các đơn vị mua hàng, tổ chức đóng gói,

cả của chúng cũng khác nhau. Những sản phẩm có vai trò quan trọng, có tính
chất chiến lược đối với nền kinh tế quốc dân, Nhà nước sẽ định giá, còn lại
căn cứ vào những chủ trương có tính chất hướng dẫn của Nhà nước thì doanh
nghiệp sẽ căn cứ vào tình hình cung cầu trên thị trường mà xây dựng giá bán
sản phẩm. Việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất và tiêu thụ có ảnh hưởng
đến lợi nhuận, nếu tăng tỷ trọng mặt hàng có lợi nhuận đơn vị cao và giảm tỷ
trọng mặt hàng có lợi nhuận đơn vị thấp sẽ làm tăng tổng lợi nhuận và ngược
lại. Kết cấu mặt hàng chịu sự tác động của cung cầu trên thị trường và việc
tăng giảm tỷ trọng từng mặt hàng còn tùy thuộc vào từng thời kỳ.
* Nhân tố tổ chức lao động và sử dụng lao động.
Đây là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất,
chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Nắm bắt được số lượng lao động, trình
độ lao động và tổ chức lao động, trình độ lao động và tổ chức lao động khoa
học, tạo ra được sự kết hợp với các yếu tố sản xuất một cách hợp lý, là cơ sở
để giảm chi phí nhân công cũng như tránh tình trạng lãng phí sức lao động;
giờ máy làm việc… Nhân tố này sẽ tác động tới hiệu quả làm việc của toàn

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

13

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí quản lý góp
phần làm tăng lợi nhuận của DN.
* Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất, tiêu thụ và tài chính.
Đây là nhân tố thể hiện rõ tính chủ quan của doanh nghiệp. Tổ chức tốt


Luận văn Cuối khóa
của doanh nghiệp không bắt kịp được thị trường, chất lượng không được như
ý, sẽ bị đào thải và làm cho doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận
thu được thấp thậm chí thua lỗ.
* Vòng đời sản phẩm.
Mỗi sản phẩm đều có một vòng đời tồn tại trải qua 4 giai đoạn từ khi
xuất hiện, tăng trưởng, bão hoà và suy thoái. Mỗi giai đoạn khác nhau sẽ cho
doanh thu và lợi nhuận khác nhau, nếu như doanh nghiệp tổ chức quản lý,
khai thác và kéo dài giai đoạn tăng trưởng và bão hoà, rút ngắn thời gian suy
thoái và hình thành ban đầu, sẽ giúp doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận
hơn. Do vậy, doanh nghiệp cần nắm vững, có kế hoạch cho cụ thể cho từng
giai đoạn để có thể sản xuất sản phẩm hợp lý nhất.
* Thị trường tiêu thụ.
Thị trường tiêu thụ có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu tiêu thụ sản
phẩm và lợi nhuận. Nói đến thị trường phải xem xét đến cả phạm vi thị trường
và khả năng thanh toán (sức mua) của thị trường. Nếu sản phẩm của doanh
nghiệp có thị trường tiêu thụ rộng lớn không chỉ trong nước mà cả thị trường
quốc tế, khả năng cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp cao ngay tại những
thị trường đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao và có sức mua thì doanh nghiệp sẽ
có điều kiện tăng doanh thu nhanh. Vì vậy việc khai thác, mở rộng thị trường
tiêu thụ là một nhân tố quan trọng để tăng doanh thu của doanh nghiệp.
Với những nhân tố tác động tới lợi nhuận như vậy, doanh nghiệp cần có
những giải pháp để phát huy yếu tố tích cực và hạn chế những tác động tiêu
cực để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP.

1.4.1. Tăng số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ.
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và nó chỉ được xác định sau khi sản phẩm đã được tiêu thụ.

Trong điều kiện kinh tế thị trường thì việc đa dạng hoá sản phẩm là một
xu hướng phổ biến cho các doanh nghiệp. Điều này cũng xuất phát từ lợi ích
của nó: DN sẽ tiết kiệm được những năng lực sản xuất dư thừa về máy móc
thiết bị, về NVL, về nhân công... và tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp,
góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, Nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng
những mặt hàng có lợi nhuận đơn vị cao và giảm tỷ trọng những mặt hàng có
lợi nhuận đơn vị thấp thì sẽ tăng được tổng lợi nhuận. Tất nhiên, việc lựa
chọn kết cấu này còn phải tuỳ thuộc vào nhu cầu thị trường và khả năng của bản

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

16

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
thân doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp vừa phải nghiên cứu thị trường cẩn
thận kết hợp với khả năng đáp ứng của mình để đưa ra kết cấu hợp lý nhất.
Riêng đối với những sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng thì doanh nghiệp phải
thực hiện đúng những quy định của hợp đồng để bảo đảm được uy tín của doanh
nghiệp.
1.4.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có lợi nhuận,
ngày càng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình và điều đó gắn
liền với việc phải mở rộng thị trường tiêu thụ. Để nâng cao lợi nhuận, doanh
nghiệp phải có nhiều biện pháp khác nhau:
- Tiến hành thăm dò thị trường để xác định nhu cầu, thị hiếu khách
hàng, tìm hiểu tình hình cạnh tranh, các chính sách của chính quyền địa

xuất. Tuy nhiên, việc đầu tư, đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất đòi hỏi vốn
đầu tư lớn, vì vậy doanh nghiệp phải có các biện pháp cụ thể, phù hợp để huy
động, khai thác các nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp.
- Không ngừng hoàn thiện và nâng cao trình độ tổ chức sản xuất, tổ
chức lao động trong doanh nghiệp.
- Thực hiện bố trí, sắp xếp thời gian lao động hợp lý: nâng cao trình độ
tay nghề, ý thức trách nhiệm của người lao động, đồng thời áp dụng những
hình thức khuyến khích kịp thời để phát huy năng lực của họ.
* Phấn đấu tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao.
Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động sản xuất
nên việc giảm nó sẽ đóng góp một phần quan trọng trong công tác tiết kiệm
chi phí hạ giá thành sản phẩm. Để thực hiện được doanh nghiệp phải có các
biện pháp tiết kiệm chi phí lao động vật tư, chi phí quản lý, hạn chế tối đa các
thiệt hại tổn thất trong quá trình sản xuất. Tìm kiếm yếu tố đầu vào chất
lượng, gần nơi sản xuất, áp dụng công nghệ máy móc hiện đại phù hợp, giám
sát chặt chẽ quá trình sản xuất để sử dụng tiết kiệm và tránh tình trạng tiêu
hao vật liệu nhiều làm tăng chi phí.
* Thực hiện sắp xếp cơ cấu tổ chức hợp lý:
Giảm thiểu lao động gián tiếp, tăng số lượng lao động có trình độ
chuyên môn, tay nghề cao, để tiết kiệm chi phí quản lý góp phần giảm chi phí
toàn doanh nghiệp.

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

18

Lớp:



K39-11.01

19

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
phẩm; xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu, nâng cao ý thức tiết kiệm,
phát huy tinh thần năng động sáng tạo trong sản xuất của người lao động.
- Phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng thu nhập,
doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động đầu tư ra bên ngoài như liên
doanh liên kết, đầu tư chứng khoán.
Mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm về ngành nghề, sản phẩm, cơ cấu
là khác nhau, do vậy phải tìm cho mình một giải pháp phù hợp để nâng cao
hiệu quả hoạt động của mình. Để đạt tới mục tiêu không ngừng gia tăng lợi
nhuận DN cần quan tâm thực hiện tốt những nguyên tắc sau:
- Phối hợp các mặt quản lý để tìm ra giải pháp thích hợp nhất có thể
phát huy những mặt mạnh của mình.
- Xem xét, xác định các lợi thế về vốn, lao động, cơ sở vật chất kỹ
thuật, thương hiệu, thị trường, ngành nghề kinh doanh để đưa ra các giải pháp
giải quyết vấn đề hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu,
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Chú trọng tổ chức công tác tài chính doanh nghiệp để tài chính doanh
nghiệp thực sự trở thành một công cụ quản lý hữu hiệu đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh, đưa ra những tư vấn có giá trị, kịp thời đối với ban lãnh đạo
của DN.

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

ban kiến thiết.
+ Ngày 06/10/1979, Bộ trưởng Bộ xây dựng ra quyết định 1414/ BXD
– TCCB: liên hiệp các xí nghiệp cát, đá, sỏi được thành lập trên cơ sở chuyển
Công ty đá, cát, sỏi hoạt động trong phạm vi cả nước: quy định rõ Liên hiệp là
một tổ chức SXKD gồm các xí nghiệp sản xuất cát, đá, sỏi, vôi là đơn vị trực
thuộc và là cơ quan quản lý sản xuất kinh doanh chuyên ngành kinh tế, kỹ
thuật theo Điều lệ Liên hiệp các xí nghiệp Quốc doanh (số 302/CP ngày
01/12/1978) hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế có tư cách pháp nhân. có
61 phòng chức năng, 1 phòng liên hiệp, có khoảng 20 Xí nghiệp trực thuộc và
các trường kỹ thuật khai thác mỏ.

SV Đậu Đức Anh
K39-11.01

21

Lớp:


Luận văn Cuối khóa
+ Sau khi chính phủ có quyết định số 5825 ĐMDN ngày 13/10/1995 về
việc phê duyệt tổng thể sắp xếp doanh nghệp Nhà nước trực thuộc Bộ trên cơ
sở chấm dứt hoạt động các Liên hiệp các Xí nghiệp đá, cát, sỏi và sắp xếp lại
các đơn vị gồm: Nhà máy đá hoa Granitô Hà nội, Nhà máy đá hoa gạch lát
Đông Anh, Xí nghiệp cát, sỏi số 1, xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây
dựng số 3 và xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng số 5. Công ty
chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ xây dựng và các cơ quan quản lý Nhà nước
khác theo quy định của pháp luật. Cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm: Giám
đốc, các phó giám đốc, bộ máy giúp việc và các đơn vị trực thuộc (có bốn
phòng chức năng), có điều lệ hoạt động được Bộ xây dựng phê chuẩn.

Công ty vật liệu xây dựng có tên giao dịch Quốc tế là: Building
material company, viết tắt là BMCo.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty xây
lắp vật liệu xây dựng Sông Hồng.
2.1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của công ty.
- Thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh Vật liệu xây dựng và xây dựng
theo qui hoạch, kế hoạch phát triển ngành xây dựng của Nhà nước bao gồm:
+ Sản xuất, kinh doanh Vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí ốp lát máy
móc, thiết bị phụ tùng phục vụ khai thác Vật liệu xây dựng;
+ Tư vấn kỹ thuật công nghệ cho các dự án phát triển Vật liệu xây dựng;
+ Thi công xây dựng công trình kỹ thuật hạ tầng trong các khu mỏ khai
thác tài nguyên làm Vật liệu Xây dựng và công trình dân dụng;
+ Xuất nhập khẩu sản phẩm, vật tư thiết bị chuyên ngành đá cát sỏi và
vật liệu trang trí ốp lát;
+ Vận tải đường sông và gia công, sửa chữa các phương tiện vận tải thuỷ;
+ Các ngành nghề kinh doanh khác theo qui định của pháp luật;
Liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài
phù hợp với pháp luật và chính sách của Nhà nước.
- Nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nước
giao, bao gồm cả phần vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác; nhận và sử
dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực do Nhà nước giao để
thực hiện nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ khác được giao.
2.1.2.2. Tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
+ Tình hình tổ chức lao động.
Hiện tại công ty có 69 người trong số này có 70% được đào tạo từ các
trường đại học và cao đẳng, còn lại có trình độ trung cấp và công nhân kỹ
thuật. Thu nhập của người lao động tương đối cao so với mặt bằng chung của
toàn xã hội bình quân là 850.000 đ/người/tháng. Lương của cán bộ, nhân viên


lắp
I

Phòng kỹ
thuật, tổng
hợp

Phòng
tài vụ

Đội
xây
lắp
II

Đội
xây
lắp
III

Đội
xây
lắp
IV

Đội
xây
lắp
V,VI..


do bên mua (bên A) cung cấp để tiến hành hoạt động thi công.
Có thể tóm tắt qui trình sản xuất sản phẩm như sau:
Căn cứ vào dự
toán được
duyệt, hồ sơ
thiết kế, bản vẽ
thi công, qui
phạm định mức
KTKT từng
công trình

Sử dụng các yếu
tố chi phí; vật tư
công nhân, giá
sản xuất chung
để tiến hành tổ
chức thi công
xây lắp

Sản phẩm xây
lắp, công trình
hạng mục
công trình
hoàn thành
bàn giao đưa
vào sử dụng

2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những
năm gần đây.
Công ty với những nỗ lực không ngừng đã giúp cho hoạt động sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status