ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUYỀN
TRUYỆN THƠ TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUYỀN
TRUYỆN THƠ TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Ngô Thị Thanh Quý
THÁI NGUYÊN - 2018
Nguyễn Thị Huyền
ii
MỤC LỤC
Trang
iii
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ...........................................................................................................ii
Mục lục ...............................................................................................................iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề.............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi vấn đề nghiên cứu ................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 6
6. Đóng góp của luận văn………………………………………………... .7
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 8
NỘI DUNG ......................................................................................................... 9
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA - VĂN HỌC VÀ TRUYỆN
THƠ TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU .........................................................................
9
1.1. Tìm hiểu chung về văn hóa - văn học ...................................................... 9
1.1.1. Văn hóa .................................................................................................. 9
1.1.2. Văn học ................................................................................................ 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 80
PHỤ LỤC
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học – văn hóa là hai lĩnh vực không thể thiếu trong mọi tiến trình
lịch sử của bất kì quốc gia, dân tộc nào. Thông qua văn học, chúng ta có thể
nhận ra diện mạo văn hóa của một quốc gia, và ngược lại. Văn học có mối quan
hệ chặt chẽ với văn hóa, là một trong những yếu tố góp phần hình thành lên bản
sắc văn hóa dân tộc, văn học là tấm gương phản chiếu một phần văn hóa. Văn
học giúp hình thành, phát triến, làm mới văn hóa. Đến lượt văn hóa, văn hóa
tạo đông lực, là tiền đề thúc đẩy văn học phát triển, không ngừng đổi mới. Văn
hóa và văn học có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời. Tiếp cận tác
phẩm văn học tư góc nhìn văn hóa giúp chúng ta có khả năng khai thác sâu giá
trị nội tại của tác phẩm, có cái nhìn vừa bao quát, vừa sâu sắc, toàn diện đời
sống văn học của cả cộng đồng, dân tộc.
1.2. Truyện thơ là thể loại văn học quan trọng trong nền văn học các
dân tộc thiểu số. Trong đó truyện thơ dân tộc Thái đã có những đóng góp
vô cùng lớn làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian dân tộc Thái
nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung. Nói tới truyện thơ Thái
chúng ta nhắc đến truyện thơ Tiễn dặn người yêu - tác phẩm tiêu biểu nhất
trong kho tàng truyện thơ của dân tộc Thái. Vì vậy nghiên cứu truyện thơ
Tiễn dặn người yêu là góp phần làm rõ hơn diện mạo văn học Thái, đặc biệt
hơn khi chúng ta khám phá truyện thơ dân tộc Tiễn dặn người yêu dưới góc
nhìn văn hóa sẽ cảm nhận được một vẻ đẹp riêng, gợi mở những hướng tiếp
cận sâu sắc về nội dung, nghệ thuật và về văn hóa của dân tộc Thái.
Hơn nữa, đây là một trong những tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu
nhìn văn hóa như: Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt
Nam trung cận đại (1995) đã chỉ ra mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học Việt
Nam trung cận đại: Dựa trên phương diện tìm hiểu lý thuyết, kết hợp phân tích,
tổng hợp, ông đã tìm ra bản chất và quy luật của đối tượng: “Nghiên cứu là
cho thực tế, và tư thực tế để nghiên cứu”; nghiên cứu Nho giáo, chủ yếu là
thấy được sự sự tồn
2
tại, vận động của nó trong thực tiễn (trong đời sống xã hội, gia đình, họ hàng,
làng, nước; trong văn hóa, văn học, nghệ thuật…).
GS.TS Trần Nho Thìn với công trình Văn học trung đại Việt Nam dưới
góc nhìn văn hóa đã có những lí giải mới về văn học trung đại và văn hóa: Nội
dung cuốn sách được chia làm ba phần, gồm cả lí luận và thực tiễn. Trong phần
thứ nhất của quyển sách, tác giả đưa ra các khái niệm về văn hóa học và cách
nhìn nhận văn học tư hệ quy chiếu văn hóa học. Phần thứ hai, các vấn đề
của văn học trung đại Việt Nam được tác giả tiếp cận và giải quyết theo cơ sở
văn hóa học hết sức đọc đáo. Phần cuối, bằng cách so sánh đối chiếu giữa hai
cặp khái niệm cũ - mới, trên cơ sở đặc trưng văn hóa, GS.TS Trần Nho Thìn có
nhận xét về các vấn đề trong giai đoạn giao thời cực kì nhạy cảm của văn học
nước ta, giai đoạn mà cái cũ dần lùi lại để cái mới tiến lên. [31, tr. 70]
PGS.TS. Nguyễn Bá Thành trong Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học,
đã cho rằng: “Ta có thể nhìn thấy các chặng đường vận động và thay thế nhau
của các mô hình văn hóa do sự chọn lựa của người Việt Nam. Văn hóa khởi
nguyên, Văn hóa theo mô hình Trung Hoa, Văn hóa theo mô hình phương Tây,
và Văn hóa dân tộc tự chủ là bốn mô hình, bốn kiểu văn hóa, bốn thời đại văn
hóa của Việt Nam. Ở mỗi chặng đường, mỗi mô hình văn hóa đều là kết quả
của sự tiếp nối, kế thừa và biến đổi của văn hóa dân tộc trong giao lưu và hội
nhập. Hẳn nhiên sẽ có một sợi dây xuyên suốt các mô hình văn hóa làm thành
bản sắc Việt Nam bên cạnh một cái nền cơ bản làm nảy sinh văn hóa Việt
quát về thi pháp truyện thơ đặc biệt người viết đã đưa ra một cái nhìn khá toàn
diện về thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu. Đến năm 2014, tác giả Ngô
Thị Thanh Quý với công trình nghiên cứu Truyện thơ Tiễn dặn người yêu góc
nhìn thi pháp đã tập trung làn rõ những thi pháp nghệ thuật trong tác phẩm như
vấn đề kết cấu, cốt truyện, thi pháp nhân vật, thi pháp không gian, thời gian
nghệ thuật, lời văn nghệ thuật của tác phẩm Tiễn dặn người yêu. Bên cạnh đó
là các luận án tiến si và luận văn thạc si cũng đã nghiên cứu, tìm hiểu về truyện
thơ dân tộc Thái như: Luận án tiến si của Nguyễn Thị Phượng Trường Đại Học
Sư Phạm Hà Nội với đề tài Nghiên cứu một số truyện thơ dân tộc Thái ở Việt
Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh. Bài viết đã so sánh, lí
4
giải về sự tương đồng, khác biệt giữa truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ
Nôm dân tộc Kinh, đồng thời làm rõ những dấu ấn tư tưởng, thành tựu nghệ
thuật riêng của tưng tác phẩm. Luận văn thạc si của Bùi Quang Vinh Trường
Đại Học sư phạm Hà Nội 2 viết về vấn đề So sánh truyện thơ dân tộc Thái và
truyện thơ dân tộc H’Mông, người viết đã chỉ ra được điểm tương đồng và
khác biệt trong thể loại truyện thơ của hai dân tộc. [34]
Nhìn chung, những nguồn tài liệu trên đã cung cấp một cái nhìn khá toàn
diện về mối quan hệ giữa văn học - văn hóa và một số hướng tiếp cận tác phẩm
văn học tư góc nhìn văn hóa. Đồng thời cũng đã đưa ra những hướng nghiên
cứu, tìm hiểu khác nhau về truyện thơ dân tộc Thái nói chung và truyện thơ
Tiễn dặn người yêu nói riêng. Tuy nhiên chưa có bài viết nào đề cập trực tiếp
tới vấn đề truyện thơ Tiễn dặn người yêu dưới góc nhìn văn hóa. Vì vậy, đề tài
Truyện thơ Tiễn dặn người yêu dưới góc nhìn văn hóa sẽ tập trung làm rõ
những giá trị nổi bật của văn hóa dân tộc Thái.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Luận văn đưa ra những luận điểm mang tính chất lí luận và thực tiễn
giả Mạc Phi sưu tầm và biên soạn năm 1984. Ngoài ra, chúng tôi còn tham
khảo các nguồn tư liệu chính sau:
- Đặng Nghiêm Vạn (2002), Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt
Nam, tập 4, Truyện thơ, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc Gia
Viện văn học, Nhà xuất bản Đà Nẵng.
- Phan Đăng Nhật (1981), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nhà
xuất bản Văn hóa, Hà Nội.
Vấn đề nghiên cứu chủ yếu được trình bày trong đề tài là quan hệ giữa văn
hóa - văn học, các giá trị văn hóa có trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp liên ngành: Văn hóa luôn có mối quan hệ với các lĩnh vực
khác trong đời sống: văn học, ngôn ngữ, xã hội, lịch sử,… Phương pháp liên
ngành được thể hiện thông qua việc chúng tôi kết hợp nhìn nhận, đánh giá vẫn
6
đề văn hóa học dưới góc nhìn của nhiều lĩnh vực có liên quan: Ngôn ngữ học,
xã hội học, lịch sử học, …
- Phương pháp hệ thống: Văn hóa gồm nhiều yếu tố cấu thành, giữa các
yếu tố đó đều có mối liên hệ nhất định. Hệ thống văn hóa là một tập hợp nhiều
phương diện, trong quá trình nghiên cứu cần có sự đánh giá và khái quát đầy đủ
các lĩnh vực của văn hóa: Biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán.
Nghiên cứu hệ thống để thấy được sự hình thành, phát triển và phân chia các
khía cạnh của văn hóa trong một tổng thể thống nhất.
- Các phương pháp nghiên cứu như:
+ Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích nhằm phát
hiện, khai thác, phân tích một số tài liệu liên quan đến tác phẩm. Qua đó,
chúng tôi chọn lọc những thông tin, tri thức cần thiết phục vụ việc nghiên
cứu. Phương pháp phân tích bao gồm phân tích nguồn tài liệu, phân tích tác
giả và phân tích nội dung tác phẩm.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo
và Phụ lục, phần Nội dung được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Khái quát về văn hóa - văn học và truyện thơ Tiễn dặn
người yêu.
Chương 2: Nội dung truyện thơ Tiễn dặn người yêu dưới góc nhìn
văn hóa.
Chương 3: Nghệ thuật truyện thơ Tiễn dặn người yêu dưới góc nhìn
văn hóa.
8
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA - VĂN HỌC VÀ
TRUYỆN THƠ TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
1.1. Tìm hiểu chung về văn hóa - văn học
1.1.1. Văn hóa
Tư trước đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giới nghiên cứu đã
đưa ra rất nhiều quan điểm về văn hóa. Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng
theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt, văn
hóa dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa
rộng, văn hóa bao gồm tất cả, tư những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín
ngưỡng, phong tục, lối sống...
Khái niệm văn hóa đã ra đời tư rất lâu. Trong thời kỳ Cô đại, đặc biệt là ở
Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp
thống trị, văn hóa chi phối mọi hoạt động của con người. Người đứng đầu trong
việc duy trì nề nếp, văn hóa là vua – Thiên Tử. Họ đặt ra những quy định về
giáo hóa, văn hóa để răn dạy con người, đưa con người vào khuôn phép nhất
nay chưa có định nghĩa một cách chính xác nhất, khái quát nhất về văn hóa.
Mỗi quan điểm, nhận xét về văn hóa của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước đều dựa trên những khía cạnh nhất định. Theo nhà nghiên cứu Phan
Ngọc, tính đến nay trên thế giới có khoảng 400 định nghĩa về văn hóa [20, tr.7].
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh
thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn
hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn
hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học
vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình
độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì
lịch sử cô xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc
điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai [36, tr. 1796].
10
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa
nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật
chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và
nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [44].
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà
Nẵng và Trung tâm Tư điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan
niệm về văn hóa:
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời
1.1.2. Văn học
Văn học được định nghĩa là nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để
thể hiện đời sống xã hội và con người [36, tr.1079].
Cuốn Văn học là gì? của Jean-paui Sartre đã cho chúng ta có được những
nhìn nhận về văn học mà cụ thể là mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm văn
học. Nhà văn kết luận: “Tóm lại, văn học, trong bản chất của nó, là tính chủ
quan của một thế giới trong tình trạng cách mạng thường trực" mà ở đó, nhà
văn không được “vô can” trước cuộc đời, nhà văn phải hòa nhập với mọi tình
thế để có được những tác phẩm văn học có giá trị [18, tr 23].
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã
hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu,
cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Khái niệm văn
học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn
lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn
khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự
sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ. Văn
12
chương dùng ngôn tư làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu
hiện đời sống [44].
Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học là nghệ thuật ngôn từ, là
một loại hình sáng tác lấy việc phản ánh các vấn đề đời sống xã hội và con
người làm đối tượng nhận thức trung tâm.
Trong thực tế, khái niệm văn học thường được gắn liền với văn chương.
Nhiều khi hai lĩnh vực này được coi là giống nhau, có thể thay thế cách gọi cho
nhau. Nhưng đây là hai phạm trù riêng biệt. Vì có nhiều điểm tương đồng nên
dễ gây nhầm lẫn, vì vậy cần phân biệt văn học và văn chương: Văn
chương là khái niệm dùng để chỉ một ngành nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ.
mình "Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi goá bụa về già". Con
người đã vượt lên trên số phận khắc nghiệt bởi những hành động tích cực đáng
trân trọng, bởi lòng chung thuỷ, sự cao thượng và sức mạnh tình yêu chân chính.
Trong tiến trình phát triển văn hóa – văn học, giai đoạn văn học dân gian
đánh dấu bước khởi đầu cho quá trình phát triển văn học sau này. Văn học dân
gian Thái nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung đều mang đậm
tính tập thể, truyền miệng và tính dị bản. Văn học dân gian, cụ thể là truyện thơ
Tiễn dặn người yêu không rõ tác giả sáng tác. Vì thế nó là sáng tác tập thể. Khi
đã là tập thể thì tác phẩm ấy mang đậm dấu ấn văn hóa của cả một cộng đồng
người. Văn hóa dân gian Thái điển hình như tục cưới hỏi, ma chay, nếp sống,
các biểu tượng, tín ngưỡng… được phản ánh trong truyện thơ hết sức tự nhiên,
giản dị. Văn hóa dân gian được lưu truyền, giữ gìn là do phần lớn có những
sáng tác tập thể như vậy. Văn hóa dân gian có tính nguyên hợp, đây là cơ sở để
nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa
dân gian. Bởi suy cho cùng, văn học dân gian là sự kết tinh các giá trị truyền
thống, là sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực.
Văn học dân tộc Thái cho đến ngày nay vẫn còn được lưu giữ, văn học
Thái khá đa dạng về thể loại và số lượng. Người Thái có chữ viết riêng nên
việc sưu tầm, lưu giữ không quá khó khăn. Điều này lí giải vì sao qua nhiều
thập kỉ, Tiễn dặn người yêu của người Thái còn được lưu truyền như người
14
Kinh lưu truyền Truyện Kiều. Một số thể loại tiêu biểu trong sáng tác của người
Thái cô thể kể đến truyền thuyết, tục ngữ, thơ tình yêu, dân ca, truyện cổ,
truyện thơ. Nghiên cứu văn học Thái là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm tìm hiểu.
1.2. Vai trò, vị trí của văn hóa và văn học
1.2.1. Văn học phản ánh, soi chiếu văn hóa
với mã văn hóa có thể hiểu là: về chính trị, các vua Hùng đã có thể công khai tô
chức các cuộc thi để tìm người kế vị; về nông nghiệp, người Việt thời này đã
phát triển trồng lúa nước (có thể bao gồm cả lúa nếp) và chăn nuôi (có thể bao
gồm lợn/heo...), về triết học, bánh chưng và bánh giầy có thể tượng trưng cho
quan niệm vũ trụ gồm có mặt đất hình vuông màu xanh lá cây và bầu trời hình
tròn màu trắng. Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh thể hiện phần nào thiên tai
chủ yếu mà người Việt cô phải chống chọi có thể là thuỷ tai. Nó cũng cho thấy
các sức mạnh thiên nhiên, hay những nhân vật quan trọng giúp người dân
chống chọi với thiên nhiên được thần tượng hoá (Sơn Tinh). Các vị thần này
vẫn có thể có quan hệ hôn nhân với các công chúa của vua Hùng, vốn là những
người bình thường. Thông lệ cống nạp sản vật quý hiếm như là một thước đo
cho giá trị đã thịnh hành vào thời các vua Hùng, theo lời kể của truyền thuyết
này. [41, tr. 58]
Truyền thuyết Thánh Gióng miêu tả một cuộc xâm lấn của giặc Ân vào
thời Hùng Vương thứ sáu, truyền thuyết Mai An Tiêm miêu tả sự khai phá vùng
đất phía nam (Thanh Hoá) với giống hoa quả mới (dưa hấu), Sự tích Trầu Cau
giải thích về phong tục ăn trầu của người Việt Nam ... Tập hợp những truyền
thuyết đó có thể được xem như một bộ sử dân gian vừa đượm màu sắc huyền
thoại, vừa chứa đựng những cốt lõi lịch sử trong ký ức hồi cố và truyền khẩu
qua nhiều thế hệ. Tư cốt lõi lịch sử của truyền thuyết về thời đại Hùng Vương
đến tâm thức và đến tín ngưỡng thờ vua Hùng Vương là quá trình phát triển
liên tục trong cộng đồng người Việt qua bao thế hệ nối tiếp nhau.
16
Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ lĩnh
vực hoạt động sáng tạo của nhà văn và quá trình lĩnh hội của độc giả. Bản thân
nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá, sản phẩm
đó được kết tinh thành những tác phẩm văn học. Người đọc, qua các sáng tác
1.2.2. Văn học góp phần lưu giữ, phát huy các gia trị văn hóa
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Văn học lại là phương tiện
phản ánh đời sống xã hội thông qua nghệ thuật xây dựng tác phẩm của nhà văn.
Chính vì vậy, có thể nói văn học là tấm gương phản ánh văn hóa.
Trong xu hướng toàn cầu hóa, việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thồng là điều hết sức cần thiết. Văn hóa truyền thống các dân tộc
thiểu số là những giá trị vật chất, tinh thần được kết tụ, giữ gìn trong toàn bộ
quá trình lịch sử phát triển của từng dân tộc. Để không làm thất lạc các giá trị
văn hóa dân tộc thiểu số, công tác nghiên cứu, sưu tầm, hệ thống hóa và bảo
quản tư liệu là điều vô cùng quan trọng. Công việc này đòi hỏi phải có sự
kết hợp của nhiều lĩnh vực liên ngành. Trong đó, việc sưu tầm, khảo cứu các
tác phẩm văn học để tìm ra những giá trị văn hóa tồn tại trong mỗi tác phẩm là
hướng đi thuận lợi. Bởi chính những tác phẩm văn học, đặc biệt là một số
tác phẩm truyện thơ dân gian được lưu truyền rộng rãi, mang tính tập thể, vì
vậy hàm
lượng giá trị văn hóa được phản ánh trong tác phẩm khá đặc sắc và tiêu biểu.Tư
đó, khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới
thiệu các giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số thông qua việc
giảng dạy, nghiên cứu tác phẩm văn học.
Văn hóa - văn học có vai trò quan trọng trong việc định hướng cho cuộc
sống của con người và xã hội. Thông qua văn học, người ta tìm thấy những giá
trị văn hóa. Tư những giá trị ấy để đánh giá trình độ, lối sống, phẩm chất của
cộng đồng dân tộc. Hiện nay, trong giáo dục đã phô biến phương pháp dạy học
tích hợp, dạy học theo chủ đề. Trong một tác phẩm, việc tích hợp tìm hiểu thi
pháp học, văn hóa học là điều không khó làm. Việc bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng đều được chú trọng giảng dạy trong nhà
trường. Văn hóa - văn học gắn liền với con người. Việc tìm hiểu các tác
18