CHUYÊN ĐỀ
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG MÔN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG THPT
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận:
Con người trong xã hội hiện đại không chỉ cần kiến thức, mà còn cần phải có
kĩ năng mềm để giao tiếp, ứng xử, thể hiện mình, có bản lĩnh... để đối diện với thực
tế và vươn lên trong cuộc sống. Chính vì vậy, giáo dục phổ thông nước ta trong
những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy
học gắn với bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI: học để biết, học để làm, học để tự
khẳng định mình, học để cùng chung sống. Như vậy, thực chất của giáo dục nói
chung và giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng là giúp học sinh tiếp cận và hoàn thiện
kĩ năng sống để các em vững vàng bước vào đời.
Giáo dục kĩ năng sống là một nội dung giáo dục hết sức quan trọng cần được
thực hiện một cách có hệ thống và thường xuyên trong nhà trường. Giáo dục kĩ
năng sống giúp học sinh hiểu biết và rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản
thân và cộng đồng, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thể chất và tinh
thần, tăng cường khả năng nhận thức xã hội, khả năng thích ứng với cuộc sống
cũng như khả năng ứng phó linh hoạt, tích cực với những thách thức trong cuộc
sống hàng ngày. Việc đưa giáo dục kĩ năng sống vào trường có ý nghĩa nhằm đào
tạo con người mới năng động, tích cực, tự tin, đạt được thành công trong xã hội hội
nhập.
2. Cơ sở thực tế:
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông đã và đang
nhận được sự quan tâm của đội ngũ giáo viên cũng như các nhà quản lý giáo dục.
Đây là một nội dung quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giáo dục mà toàn
ngành đang thực hiện nhằm đào tạo học sinh phát triển toàn diện nhằm đáp ứng
yêu cầu của xã hội. Việc cải cách và đổi mới giáo dục trong đó có đổi mới phương
pháp giảng dạy là một việc làm cần thiết. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau mà
kết quả đạt được từ sự nghiệp đổi mới do ngành phát động chưa đạt được những
a.Quan niệm về kĩ năng sống.
- Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống:
2
+ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng
và tích cực, KNS giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày.
+ Theo Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF): KNS là cách tiếp cận giúp thay
đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp
thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.
+ Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc(UNESCO): KNS là
năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống
hàng ngày.
Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống, nhưng nhìn chung các quan
niệm đều có điểm thống nhất khi cho rằng : kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ
năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người. Bản chất của kĩ
năng sống là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự
lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kĩ năng sống là
khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc
sống.
b.Phân loại kĩ năng sống
Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống, tùy theo qua niệm về kĩ năng sống ở mỗi
quốc gia, dân tộc và vùng miền. Dù phân loại theo hình thức nào thì cũng vẫn có
một số KNS được coi là cốt lõi, đó là:
-
Kĩ năng tự nhận thức
được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của
con người.
- Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có năng lực
ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người.
- Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp học sinh bồi
dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành
mạnh để hoàn thiện nhân cách.
Vì thế, Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục các
KNS cho học sinh.
d.Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ Văn ở trường THPT.
Về kiến thức
- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như giá trị tốt
đẹp của nhân loại; góp phần cũng cổ, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến thức đã
học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội về
định hướng nghề nghiệp.
4
- Nhận thức được sự cần thiết của các kĩ năng sống giúp cho bản thân sống tự tin,
lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể
chất và tinh thần của bản thân và người khác.
- Nhận thức được giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các kĩ năng sống.
Về kĩ năng
- Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả và
tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày.
- Có suy nghĩ về hành động tích cực, tự tin, có nhưng quyết định đúng đắn trong
cuộc sống.
- Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước
nhưng nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lạnh mạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội,
HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tình dục, thể xác, v..v… ); giúp HS phòng ngừa
ngôn ngữ
2
Tấm Cám
3
Ca dao than
thân, yêu
thương, tình
nghĩa
NHỮNG KNS CƠ BẢN
- Giao tiếp: tìm hiểu và trình
bày nội dung về hoạt đông
giao tiếp bằng ngôn ngữ,
nhận biết vai trò và đặc điểm
của hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ.
- Ra quyết định: lựa chọn và
sử dụng ngôn ngữ phù hợp
với các tình huống giao tiếp
cụ thể.
-Tự nhận thức, xác định giá
trị: nhận thức cái tốt, cái thiện
và có ý thức bảo vệ cái tốt,
cái thiện, chống lại cái ác, cái
xấu trong cuộc sống.
- Giao tiếp: trình bày suy
huống giao tiếp.
-Trình bày: trình bày 1
phút về việc sử dụng ngôn
ngữ phù hợp các tình
huống giao tiếp.
- Động não : HS suy nghĩ,
phát biểu ý kiến về quan
niệm sống của nhân dân
thể hiện qua các tuyến
nhân vật trong tác phẩm .
- Sưu tầm, kể chuyện: sưu
tầm các truyện cổ tích và
kể lại nội dung, tìm hiểu,
phân tích ý nghĩa của mỗi
câu truyện
- Động não: suy nghĩ, phát
biểu ý kiến về vẻ đẹp tình
yêu, tình nghĩa con người
Việt Nam trong ca dao, từ
đó rút ra bài học cho bản
thân về cách sống, cách
đối nhân xử thế trong cuộc
sống.
- Thảo luận, trình bày 1
phút về tình yêu, tình
nghia của con người Việt
Nam trong cuộc sống và
bài học cho mỗi cá nhân.
SST
1
TÊN BÀI
NHỮNG KNS CƠ BẢN
Từ ngôn ngữ
HỌC
- Giao tiếp: Trình bày nhận - Động não – Trải nghiệm:
chung đến lời
biết về ngôn ngữ chung, lời vận dụng kiến thức ngôn
nói cá nhân
nói cá nhân; lĩnh hội lời nói ngữ của cá nhân trong giao
của
người
PHƯƠNG PHÁP DẠY
khác. tiếp.
- Tự nhận thức: về sự phát - Thảo luận nhóm: tìm
triển vốn từ ngữ và khả năng hiểu về những nét giống và
sử dụng ngôn ngữ của bản khác nhau của ngôn ngữ
- Tư duy sáng tạo: phân tích, cảm nhận sâu sắc của cá
bình luận về cách biểu hiện nhân về nội dung và nghệ
của chủ thể trữ tình trong thơ thuật
ca trung đại.
của
bài
thơ.
- Viết sáng tạo: cảm nhận
về khao khát tình yêu và
hạnh phúc của người phụ
nữ
3
Bài ca ngất
- Giao tiếp: trao đổi ý kiến về - Đọc sáng tạo: tìm hiểu
ngưởng
tâm hồn khoáng đạt, tự do, các biểu hiện của
ngất
thích vẫy vùng thỏa chí nam ngưởng.
nhi; về thái độ tự tin có phần - Thảo luận, tranh luận
- Cảm thông, chia sẻ: thể hiện - Động não: suy nghĩ về đề
sự đồng cảm, xót thương đối tài và giọng điệu văn
với nhưng kiếp sống nghèo chương của Thạch Lam
khổ, quẩn quanh; trân trọng qua
văn
bản.
ước mong về một cuộc sống - Thảo luận nhóm: ý nghĩa
tươi
sáng
hơn. của những chi tiết nói về
- Tư duy sáng tạo: phân tích, hình ảnh bóng tối và ánh
bình luận về vẻ đẹp bình dị và sáng trong tác phẩm; cảnh
nên thơ của bức tranh phố chờ tàu của chị em Liên.
huyện và tâm trang hai đứa - Lưu giữ nhật kí : ghi lại
trẻ; nghệ thuật tả cảnh, tả tâm những cảm nhận của cá
trang trong truyện ngắn trữ nhân về ý nghĩa cuộc sống
tình.
được nhận thức qua tác
- Tự nhận thức: xác định gái phẩm.
trị: bài học cho bản thân về
5
Xuân Diệu.
c. Khối 12.
SST
1
TÊN BÀI
NHỮNG KNS CƠ BẢN
Giữ gìn sự
- Giao tiếp: Trao đổi, tìm
trong sáng của hiểu về đặc điểm và khả
năng biểu đạt của tiếng Việt,
Tiếng Việt
yêu cầu giữ gìn trong sáng
của tiếng Việt.
- Ra quyết định: Từ chối
hiện tượng sử dụng tiếng
Việt không trong sáng.
- Tự nhận thức: Về trách
nhiệm của cá nhân trong việc
trau dồi ngôn ngữ trong giao
tiếp, góp phần giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt
2
Thông điệp
- Thảo luận nhóm: trao đổi
về những tác hại to lớn của
căn bệnh thế kỉ đối với
cuộc sống con người và
những gì mỗi con người
cần làm để chung tay vào
cuộc chiến đấu phòng
chống AIDS.
- Động não: suy nghĩ và
nêu những việc cá nhân cần
- Ra quyết định: Xác định làm để hưởng ứng lời kêu
10
những việc cá nhân và xã hội
cần làm để góp phần vào
cuộc chiến đấu chống lại căn
bệnh thế kỉ
- Giao tiếp: Trình bày, trao
đổi về hiện trạng cuộc chiến
đấu phòng chống AIDS hiện
nay và những việc cần làm
để góp phần vào cuộc chiến
này.
gọi của tác giả.
- Thực hành: có thể sáng
tác tiểu phẩm, vẽ tranh cổ
động diễn kịch,… để thể
hiểu mạch cảm xúc của bài
thơ.
- Trao đổi nhóm: phân tích
vẻ đẹp của những từ ngữ,
hình ảnh, nhạc điệu, cấu từ,
… trong mỗi khổ thơ và cả
bài thơ
- Trình bày 1 phút: nhận xét
về giá trị nội dung và nghệ
thuật nổi bật của bài thơ.
4
Sóng
- Giao tiếp: trình bày, trao
đổi về mạch cảm xúc của bài
thơ, về sự thể hiện hình
tượng sóng và em trong bài
thơ.
- Động não: suy nghĩ, tìm
hiểu mạch cảm xúc của bài
thơ.
- Trao đổi nhóm: phân tích
vẻ đẹp của những từ ngữ,
- Tư duy sáng tạo: phân tích, hình ảnh, nhạc điệu, cấu tứ,
so sánh, bình luận về vẻ đẹp … trong mỗi khổ thơ và cả
11
- Tự nhận thức: về cách tiếp
cận và thể hiện hiện thực
trong tác phẩm, về cảm hứng
thế sự và tấm lòng đầy ưu tư,
trăn trở của nhà văn trước
cuộc sống hiện tại, qua đó
rút ra bài học nhận thức về
cuộc sống của mỗi cá nhân.
- Tư duy sáng tạo: phân tích,
bình luận về cá tính sắc nét,
về cách đặt vấn đề và giải
quyết vấn đề của nhà văn
trong tác phẩm
- Động não: HS suy nghĩ và
nêu ý kiến về cách tiếp cận
và thể hiện hiện thực trong
tác phẩm
- Thảo luận nhóm: trao đổi
về sự thể hiện cảm hứng
thế sự của nhà văn Nguyễn
Minh Châu trong tác phẩm.
- Trình bày 1 phút: trình
bày cảm nhận, ấn tượng sâu
sắc của cá nhân về giá trị
nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm
- Tự nhận thức: về giá trị
chân chính của cuộc sống
b.Thiết kế bài dạy minh họa
(Phần này chúng tôi trình chiếu tại buổi sinh hoạt cụm)
III. KẾT LUẬN
- Giáo dục kĩ năng sống là trách nhiệm của toàn ngành giáo dục, trong đó môn
Ngữ văn có thể xem là môn chủ đạo. Như M.Gorki đã từng nói “văn học là nhân
học” – Học văn là học làm người. Quả thực văn học có khả năng kì diệu trong việc
giáo dục nhân cách con người. Nhưng cũng cần phải thấy môn Ngữ văn không chỉ
cho học sinh những bài học về cuộc sống, những trải nghiệm, mà còn giúp các em tự
hình thành những kĩ năng sống rất cần thiết. Tuy nhiên, việc giáo dục kỹ năng
sống qua môn Ngữ văn có thành công hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
như: ý thức trách nhiệm của người đứng lớp; sự hợp tác của học sinh; sự phối hợp
với các môn học khác, với gia đình, xã hội; và đặc biệt kiến thức ở mỗi bài học
được giảm tải hợp lý; …
- Kĩ năng sống rất đa dạng và mang đặc trưng của văn hóa vùng miền. Vì vây, việc
sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học cần đa dạng, tùy thuộc vào từng điều
kiện, hoàn cảnh dạy học cụ thể.
- Qua chuyên đề này, một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định chủ trương giáo dục
kĩ năng sống qua môn học là cần thiết, quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu
giáo dục con người. Trong đó, giáo dục kĩ năng sống ở bài học nào có liên quan
đến nó cần linh hoạt, phù hợp và tự nhiên. Với giới hạn nhỏ, chuyên đề chỉ xin đưa
ra một vài ý kiến của bản thân qua quá trình thực hiện. Và với chuyên đề này, người
13
viết mong muốn các em học sinh sẽ yêu thích, hứng thú hơn trong giờ học văn.
Mong muốn lớn hơn nữa là qua các phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực thực
hiện trong giờ học, học trò thực sự được trải nghiệm để tự nhận thức và có tình
cảm, thái độ đúng đắn, hình thành hành vi, thói quen tích cực. Bên cạnh đó, tạo cho
học trò kĩ năng ra quyết định, kĩ năng lựa chọn đúng đắn trước những vấn đề đặt ra
trong cuộc sống mà các em phải đối diện. Với tâm huyết của người làm nghề giáo,