Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TÌNH

TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TÌNH

TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 9229002

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC


TÀI............................................................................................................................6
1.1. Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh..........................6
1.1.1. Các công trình nghiên cứu triết lý trong sự phân biệt với triết học............6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về con người và đời sống con người...............12
1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam..................................................................................................................16
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về giá trị ca dao tục ngữ nói chung.................16
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh trong ca dao, tục
ngữ Việt Nam...........................................................................................................24
1.3. Những kết quả đƣợc kế thừa từ các công trình đã công bố và những vấn đề
luận án cần tiếp tục nghiên cứu.............................................................................28
Kết luận chƣơng 1...................................................................................................30
Chƣơng 2: TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN.....................................................................32
2.1. Quan niệm về triết lý nhân sinh......................................................................32
2.1.1. Triết học và triết lý: phân biệt triết lý với triết học.......................................32
2.1.2. Nhân sinh, nhân sinh quan và triết lý nhân sinh.........................................41
2.2. Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam: cơ sở hình thành và đặc
điểm.......................................................................................................................................45
2.2.1. Quan niệm về tục ngữ và ca dao: một số vấn đề lý luận ...............................45
2.2.2. Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh trong tục ngữ ca dao Việt Nam..........54
2.2.3. Đặc điểm và vai trò của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
Kết luận chương 2....................................................................................................57


Chƣơng 3: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINHTRONG TỤC
NGỮ, CA DAO VIỆT NAM...................................................................................68
3.1. Triết lý về nguồn gốc, bản chất, về vị thế con ngƣời......................................................68
3.1.1. Triết lý về nguồn gốc của con người.............................................................68
3.1.2. Triết lý về bản chất con người......................................................................74

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng
đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội
sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [25;126]. Đây là
quan điểm có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng
con người Việt Nam, cũng đồng thời là quan điểm định hướng cho sự nghiên cứu lý
luận và thực tiễn về văn hóa và con người Việt Nam.
Về phương diện nghiên cứu, cho đến nay, giới lý luận đã đạt được những
thành tựu rất đáng kể trong nghiên cứu văn hóa và con người. Tuy vậy, điều đáng
lưu ý là, việc nghiên cứu về con người vẫn có thể rơi vào tình trạng không đầy đủ
nếu thiếu vắng những khám phá về triết lý nhân sinh. Mà ở Việt Nam, trong kho
tàng tục ngữ, ca dao, triết lý nhân sinh – triết lý về con người và về đời sống con
người, lại chiếm vị trí rất đáng kể và có ý nghĩa không nhỏ đối với đời sống xã hội,
trước đây cũng như hiện nay.
Có thể thấy, tục ngữ, ca dao là một bộ phận đồng thời là chỉ báo tin cậy phản
ánh sự phát triển phong phú về đời sống tinh thần của người Việt Nam từ trong lịch
sử xa xưa. Bằng nghệ thuật ngôn từ trau chuốt, sâu sắc nhưng dung dị, mộc mạc,
quen thuộc với người nông dân, ca dao, tục ngữ, và triết lý nhân sinh chứa đựng
trong đó đã thực sự là vũ khí tinh thần sắc bén, là những chỉ dẫn thế giới quan và
nhân sinh quan sáng suốt, định hướng cho con người sống, lao động, sáng tạo và
yêu thương… trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Ngày nay, triết lý nhân sinh trong
ca dao tục ngữ vẫn là hành trang đắt giá của xã hội hiện đại.
Nói đến triết lý nhân sinh ở Việt Nam, trước tiên, người ta không thể không
tìm kiếm trong văn học dân gian Việt Nam, trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt
Nam. Dĩ nhiên, triết học là tri thức hệ thống, bác học về thế giới quan và phương
pháp luận, còn tục ngữ, ca dao lại là tri thức dân gian (Folk Knowledge) - tri thức
của sự phản ánh cái cụ thể, cái thuộc về những kinh nghiệm, lẽ phải thông thường.


Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, do vậy có ý
nghĩa không nhỏ trong việc khẳng định những giá trị quý báu của văn hóa dân tộc.
Trên cơ sở đó, việc làm rõ, đánh giá những giá trị của triết lý nhân sinh trong tục
ngữ, ca dao Việt Nam, sẽ góp phần làm tăng cường sức sống của đời sống tinh thần

2


xã hội, củng cố niềm tin, lý tưởng sống cho mỗi người Việt Nam hiện nay dưới tác
động của toàn cầu hóa.
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn: “Triết lý nhân sinh trong tục
ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay”
để làm đề tài luận án tiến sĩ triết học này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
- Nghiên cứu, xác định những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong
tục ngữ, ca dao Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá giá trị và ý nghĩa của những triết lý nhân sinh đó đối
với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Phù hợp với mục đích nghiên cứu nói trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
gồm:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và xác định khung lý thuyết
để nghiên cứu đến đề tài.
- Nghiên cứu, xác định triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
- Phân tích nội dung cơ bản của các loại triết lý nhân sinh chủ yếu trong kho
tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam.
- Đánh giá ý nghĩa với những giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh trong
tục ngữ, ca dao Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

tục ngữ, ca dao Việt Nam. Bước đầu phân loại các loại triết lý nhân sinh theo đặc
thù của đời sống người Việt thể hiện trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam.
Luận án đã chỉ ra những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý
nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Luận án đã phân tích làm rõ ý nghĩa của các triết lý nhân sinh trongviệc xây
dựng nhân sinh quan lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận như nội dung cơ bản, phân
loại, ý nghĩa định hướng… của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Luận án đã góp phần chỉ ra ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca
dao Việt Nam đối với việc xây dựng nhân sinh quan của con người hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

4


Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy về triết học, triết lý, chủ nghĩa duy vật lịch sử, văn học dân gian, văn hóa
học về ca dao, tục ngữ Việt Nam, đặc biệt về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án được bố cục làm 4 chương với 12 tiết.

5


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

6


phát triển - chính là những quan điểm, luận điểm, phương châm cốt lõi và cơ bản
nhất có vai trò định hướng cho hoạt động thực tiễn nhiều mặt của con người, nhằm
biến đổi theo chiều hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của tất
cả các yếu tố, các chiều cạnh hợp thành xã hội tổng thể mà trong đó bản thân con
người là trung tâm” [79;40].
Tác giả Nguyễn Văn Huyên với công trình “Triết lý phát triển – từ Mác –
Lênin đến Hồ Chí Minh”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000. Sách chuyên
khảo này gồm những nội dung lớn như: Quan niệm triết lý là gì? Triết lý Hồ Chí
Minh là như thế nào? Nguồn gốc và nội dung triết lý phát triển của Hồ Chí Minh và
sự vận dụng triết lý phát triển ấy trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ở Việt
Nam hiện nay. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung
và triết lý phát triển Hồ Chí Minh nói riêng là tư tưởng - hành động. Nhân lõi triết
lý của Hồ Chí Minh về một đất nước phát triển cũng như giải pháp có tính nguyên
tắc đối với việc thực hiện quá trình phát triển đất nước không chỉ dừng lại ở lý
thuyết, mà nó được hoà quyện vào trong hành động thực tiễn, vào trong toàn bộ sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam.
Hồ Sĩ Quý với “Một số suy nghĩ về triết học và triết lý” đăng trên Tạp chí
Triết học số 3/1998 đã phân biệt một cách khá súc tích triết học với triết lý. Theo
tác giả, “Triết học là một môn khoa học nghiên cứu những qui luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội, con người và mối quan hệ của tư duy với tồn tại. Nó thường được
thể hiện dưới dạng một hệ thống các nguyên lý, quan điểm có tính trừu tượng khái
quát hoá cao với lôgíc nội tại tương đối chặt chẽ. Khác với triết học, triết lý không
phải là môn khoa học đề cập đến những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội, tư
duy” [91;3]. Còn triết lý, tác giả cho rằng có thể và nên được hiểu là những tư tưởng,
quan điểm hay quan niệm... mang tính khái quát cao, nhưng thường thiếu tính hệ
thống, được khái quát chủ yếu từ kinh nghiệm hàng ngày hoặc là “mảnh vụn” của
những hệ thống tri thức nào đó. Triết lý, dĩ nhiên cũng được phản ánh một cách cô

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh….
Tác giả Trịnh Doãn Chính còn có một công trình khác có liên quan đến vấn
đề này là “Veda, Upanishad - những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, 2006. Phần thứ nhất giới thiệu về kinh Veda; phần thứ hai giới
thiệu về kinh Upanishad. Với mỗi bộ kinh, các tác giả đều giới thiệu khái quát về
niên đại, nguồn gốc, kết cấu, nội dung cơ bản và sau đó là toàn bộ nội dung của
kinh văn gốc được biên dịch, chú giải. Ngoài ra, trong cuốn sách còn có thêm phần
từ vựng, giúp bạn đọc nắm một cách cơ bản một số từ, khái niệm cổ được sử dụng.
Thông qua những bộ kinh này, người đọc sẽ có thêm nhiều hiểu biết sâu sắc về

8


nhân sinh quan, vũ trụ quan của người Ấn Độ cổ, cũng như cuộc sống hàng ngày,
mong ước của họ, những giá trị chân lý mà họ hướng tới…Đồng thời, khi đọc cuốn
sách này, bạn đọc sẽ thấy rằng, tư tưởng của chúng không chỉ có ý nghĩa triết học
tôn giáo, ý nghĩa văn chương mà còn có ý nghĩa cả về luân lý, đạo đức; hơn thế,
rộng lớn hơn là giá trị văn hóa của nó. Nó được coi là một trong những cội nguồn tư
tưởng của nền văn minh Ấn Độ, là hệ tư tưởng truyền thống thống trị trong đời sống
tinh thần xã hội Ấn Độ cổ, là cơ sở triết lý cho một trong những tôn giáo lớn của Ấn
Độ. Có thể khẳng định, đây là một công trình lớn, có ý nghĩa thiết thực cho những
người nghiên cứu về triết học, triết lý và triết học phương Đông. Mang trong mình ý
nghĩa, giá trị to lớn cùng với sự ảnh hưởng sâu rộng của nền triết học Ấn Độ đến
Việt Nam, cuốn sách là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu,
nghiên cứu tư tưởng và tôn giáo cổ Ấn Độ từ sự tiếp cận trực tiếp với các kinh văn
gốc.
Tác giả Trương Văn Chung với “Bài giảng triết học phương Đông”, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007. Nội dung chính của công trình này nêu những đặc
điểm chung của Triết học phương Đông, triết học tâm linh siêu nghiệm, phương
pháp tư duy trực cảm, tiên nghiệm, triết học chính trị đạo đức. Tất nhiên, trong công

cuộc sống như: công việc, xã hội. Cách đối nhân xử thế, thái độ làm việc, mức độ
cố gắng, cách tư duy và niềm tin... của chúng ta quyết định sự thành bại trong cuộc
đời của chúng ta. Bất kể thế nào thì chúng ta đều muốn thành công và tìm cách
tránh thất bại hoặc đi đường vòng. Triết lý nhân sinh của cuộc đời chính là cây đèn
soi sáng để bạn đi đến lý tưởng, thành công.
Bertrand Russell trả lời phỏng vấn với tên gọi “Triết lý là cái gì vậy?” đã có
câu trả lời rất sâu sắc. Theo ông, triết lí là suy luận về những đầu đề chưa thể có một
tri thức đích xác được. “Đại khái thì chúng ta có thể nói rằng khoa học là cái gì
mình biết, mà triết lí là cái gì mình không biết. Định nghĩa đó đơn sơ; vì vậy mà
chúng ta thường thấy những vấn đề triết lí chuyển qua khu vực khoa học. Triết lí có
hai công dụng. Công dụng thứ nhất: duy trì sự suy tư về những môn mà chúng ta
vẫn chưa thể sắp vào loại tri thức khoa học được; vì tri thức khoa học vẫn chủ bao
gồm một phần rất nhỏ những vấn đề nhân loại chú điểm lợi ích vô cùng mà khoa
học, ít nhất là lúc này, chưa bàn xét gì tới mấy; và nếu chúng ta không tưởng tượng
gì khác ngoài những cái gì mình biết rồi thì tôi cho là đáng tiếc lắm. Tưởng tượng
vũ trụ, đặt giả thuyết để mở rộng nó ra, đó có thể là một công dụng khác, theo tôi,
quan trọng cũng không kém: là triết lí cho chúng ta thấy rằng có những điều chúng
ta tưởng là biết rồi mà sự thật chưa biết. Một triết lí bắt chúng ta phải suy tư hoài về
những cái chúng ta có thể biết được; mặt khác nó nhắc nhở chúng ta phải khiêm tốn,

10


nghĩ rằng cái mà chúng ta cho là biết rồi, là tri thức, sự thực chưa phải là tri thức”
[5;10]. Có thể thấy những quan niệm sâu sắc về triết lý trong triết học, Bertrand
Russell đã góp phần trả lời cho nhiều nhà nghiên cứu khi đặt ra vấn đề triết lý. Là
cơ sở cho tác giả luận án khi tiếp cận các góc độ của triết lý để triển khai ở nội dung
của chương 2.
Từ những công trình nghiên cứu trên, có thể hiểu được sâu hơn về triết học.
Có khá nhiều định nghĩa về triết học, nhưng định nghĩa nào cũng đều bao hàm

của con người. Nghĩa là từ hoạt động kinh nghiệm thường ngày, con người có thể
rút ra những triết lý sống, triết lý hành động cho bản thân và cộng đồng. Triết lý có
ý nghĩa như là phương châm cho đối nhân, xử thế, cho hành vi của con người trong
đời sống hàng ngày.
Thứ tư, có nhiều loại triết lý khác nhau, phụ thuộc vào cách phân loại; chẳng
hạn, triết lý phát triển, triết lý nhân sinh, triết lý kinh doanh,.v.v..
Ngoài ra, cũng có một vài quan niệm khác hơi đặc biệt về triết lý. Chẳng hạn,
theo GS. Trần Văn Giàu, triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức, nó đặt vấn đề
đúng hay sai, phải hay không phải; còn triết lý chủ yếu hướng về đạo lý (chứ không
phải bản thân đạo lý). Nó chủ yếu đặt vấn đề tốt hay xấu, nên hay không nên; chứ
không đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải.
GS.Vũ Khiêu thì cho rằng triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình; nó
không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà nó thể hiện ý nghĩ
và hành vi chỉ đạo cuộc sống con nguời.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu trên, dựa trên quan niệm được nhiều
người tán thành nhất về khái niệm triết lý (nội dung, cách hiểu khái niệm triết lý)
chúng tôi thấy rằng có thể hiểu triết lý là quan niệm định hướng nhận thức và hành
vi (với tính cách là kết quả của sự ứng dụng những tri thức triết học, hay trực tiếp
khái quát từ thực tiễn của hoạt động người), được thể hiện dưới dạng những luận
điểm, những mệnh đề, những tư tưởng được coi là cốt lõi nhất về cuộc sống, về con
người và về xã hội, được nhiều người thừa nhận và coi đó là nguyên tắc xử thế,
phương châm sống và hành động.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về con người và đời sống con người
Công trình nghiên cứu do Phạm Minh Hạc chủ biên với tên gọi “Vấn đề con
người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996. Tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về truyền thống, cơ sở
hình thành cùng những nội dung cơ bản của truyền thống Việt Nam và phát huy vai
trò của truyền thống trong nhân tố con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Tác giả cũng khái quát những phẩm chất tốt đẹp của con


phân tích các diễn biến của cuộc chiến và nhìn thẳng vào nguyên nhân khiến Mỹ
thất bại trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Trong số các nguyên nhân được chỉ ra,
tác giả đặc biệt chú ý tới hai nguyên nhân. Mắcnamara cho rằng Mỹ đã thua vì Mỹ
không thể hiểu nổi tại sao người Việt Nam lại đấu tranh cho lý tưởng của mình một

13


cách kiên cường như thế; không hiểu vì sao con người Việt Nam lại dũng cảm, bền
bỉ, hy sinh để bảo vệ những giá trị của họ. Theo Mắcnamara, người Việt Nam có
một loại văn minh, văn hóa khác với Mỹ mà Mỹ không hiểu được. Mỹ thua là thua
“phần Việt Nam”, thua “chất Việt Nam” chứ không phải thua về mặt khoa học – kỹ
thuật. Sự đúc kết và suy ngẫm của Mắcnamara khiến tác giả bài viết hiểu thêm tầm
quan trọng của ý thức dân tộc của dân tộc Việt Nam bởi Mỹ đã thua tinh thần
Việt Nam, tinh thần đấu tranh cho những giá trị của dân tộc.
Công trình này cũng rất chú ý tới nghiên cứu của Hồ Chí Minh bởi từ rất
sớm, Hồ Chí Minh đã hiểu được tầm quan trọng của ý thức dân tộc của dân tộc Việt
Nam, sức mạnh của tinh thần dân tộc. Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề dân tộc vào đúng
tầm quan trọng và vị trí của nó, hiểu được quan hệ của cách mạng dân tộc với cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tư tưởng của Hồ Chí Minh rất quốc tế chủ nghĩa
chứ không hề dân tộc hẹp hòi. Điều thú vị là theo Hồ Chí Minh, nếu nghiên cứu con
người Việt Nam thì phải nghiên cứu xem con người Việt Nam có những đặc điểm
gì, có những gì bí ẩn. Có thể thấy, theo Trần Văn Giàu thì bản lĩnh, phẩm chất, văn
hóa của con người là vô cùng quan trọng đối với việc khai thác các giá trị của con
người và của xã hội.
Hồ Sĩ Quý với “Con người và phát triển con người”, Giáo trình Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa Triết học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007.
Giáo trình trình bày một cách đầy đủ nhất những vấn đề cơ bản, có hệ thống về con
người và phát triển con người như: Phương pháp luận nghiên cứu con người, định
nghĩa, khái niệm về con người, sự phát riển con người, nguồn lực con người, nhân

xuất phát từ bên trong để hội nhập, chứ không thụ động đón nhận bất cứ thứ gì áp
đặt từ bên ngoài” [15;240]. Theo chúng tôi, đây là những ý tưởng lớn, có ý nghĩa
quan trọng về triết học. Bởi tác giả khẳng định, con người đang biến đổi theo chiều
hướng tốt đẹp, xuất phát từ bản chất tốt đẹp, cao quý của con người, sự biến đổi ấy
dựa vào nội lực của con người. Đây là những luận điểm quan trọng để luận án kế
thừa và phát triển ở nội dung chương 2, chương 3 của luận án.
Lê Công Sự với “Con người qua lăng kính triết gia”, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2012. Tác phẩm đã trình bày một cách khái quát nhất quan niệm về con
người trong triết học phương Đông, phương Tây mà cụ thể là triết lý về con người
của Lão Tử, Khổng Tử, con người trong sự trăn trở của Trần Đức Thảo và quan
niệm về con người trong triết học phương Tây hiện đại là “Xây dựng một cuộc sống
ấm no hạnh phúc ở chốn trần gian”[97; 85] Theo tác giả, hạnh phúc không phải là
hư ảo, mà nó gắn liền với đời sống con người, từ những sinh hoạt hàng ngày như:
ăn, mặc, ở, đi lại…

15


Như vậy, có thể khẳng định nghiên cứu về con người và đời sống con người
ở phương diện nào đều được các tác giả nhấn mạnh. Đây là những công trình có ý
nghĩa quan trọng cho tác giả luận án tiêp cận khi nghiên cứu về vấn đề triết lý nhân
sinh trong các chương 2 và 3 của luận án.
1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về giá trị ca dao, tục ngữ nói chung
Đã từ lâu nghiên cứu về con người, về giá trị, về các triết lý trong ca dao, tục
ngữ Việt Nam đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu theo những hướng
khác nhau. Có thể kể tên các công trình nghiên cứu liên quan như sau:
Tác giả Nguyễn Văn Ngọc với công trình sưu tập ca dao, tục ngữ công phu
nhất, có nội dung rất phong phú là bộ sách “Tục ngữ phong dao”, Nxb. Đại Nam,

Có thể nói, đây là một trong những công trình đồ sộ đầu tiên nghiên cứu một
cách có hệ thống về tục ngữ, ca dao, dân ca. Qua công trình này tác giả giúp người
đọc có cái nhìn cụ thể hơn về ca dao, tục ngữ, phân loại ca dao tục ngữ theo các chủ
đề về: Nguồn gốc của con người, quan hệ với thiên nhiên, quan hệ với xã hội… Tuy
nhiên, trong giới hạn nào đó, tác phẩm cũng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu giá
trị nghệ thuật và chú trọng vào việc phân loại, liệt kê tục ngữ, ca dao, dân ca chứ
chưa đề cập nhiều đến các vấn đề triết học.
Nghiên cứu về tục ngữ, ca dao Việt Nam không thể không nói đến công trình
có tên “Văn học dân gian Việt Nam” của các tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên),
Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn đồng tác giả, do Nxb. Giáo dục ấn hành năm
1998. Các chương trong bộ giáo trình này có đề cập đến việc phân loại ca dao, dân
ca Việt Nam, đất nước và con người trong ca dao, dân ca Việt Nam, các thể loại trữ
tình trong văn học dân gian Việt Nam… tác phẩm nhằm mục đích phục vụ cho việc
giảng dạy và nghiên cứu văn học trong các trường phổ thông và giáo dục chuyên
nghiệp. Theo các tác giả: Văn học dân gian hay văn học truyền miệng là những sáng
tác văn học do nhân dân tạo nên và lưu truyền. Văn học dân gian cũng là những
sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, nhưng lại có những đặc điểm riêng về
lịch sử ra đời và phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác và lưu truyền,
về nội dung tư tưởng và thể loại nghệ thuật. Do mục đích đã được xác định trước là
thiên về văn học nên không tiếp cận tục ngữ, ca dao dưới góc độ triết học.
Cuốn “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn
Đang, Phương Tri, Nxb. Khoa học xã hội in và phát hành năm 1975. Công trình này
ngoài phần sưu tập tục ngữ Việt Nam, nội dung cuốn sách còn có phần nghiên cứu
về kho tàng sáng tác dân gian này do Chu Xuân Diên viết gồm 6 chương, trong hơn

17


170 trang. Chu Xuân Diên đã bàn luận nhiều vấn đề trong tục ngữ Việt Nam. Ông
phân tích, chứng minh và khẳng định có sức thuyết phục rằng, tục ngữ là một hiện

18


tình cảm của mỗi thời. Dù hiện nay, ca dao có biến đổi thế nào đi nữa thì ca dao vẫn
là một loại hình của văn học dân gian, nên vẫn tiếp thu truyền thống dân gian. Và vì
lẽ đó, nó là viên ngọc quý cần được giữ gìn và phát huy. Công trình này nghiên cứu
ca dao, tục ngữ cũng chỉ nghiêng về giá trị văn học và văn hóa chứ chưa bàn đến giá
trị triết học.
Tác giả Sương Nguyệt Minh với bài viết “Hạt ngọc trầm bích” đăng trên tạp
chí “Tiếp thị và gia đình” ngày 17/01/2009. Trong giới bài viết đăng tạp chí, tác giả
bàn về việc tục ngữ và ca dao là phương tiện để người Việt giãi bày tâm trạng, tình
cảm hoặc gửi gắm tâm sự lúc buồn đau và cả khi hạnh phúc. Qua bài viết này, cho
thấy người viết có suy nghĩ sâu sắc và chứng tỏ với độc giả một hướng tiếp cận,
hiểu những câu tục ngữ, ca dao như thế nào cho đúng. Theo tác giả, ngày nay hầu
hết những viên ngọc quý (chỉ tác phẩm ca dao, tục ngữ hay) vẫn còn nguyên giá trị,
rất đáng trân trọng, nâng niu. Mặc dù đây là một bài viết ngắn về cách tiếp cận, hiểu
tục ngữ ca dao như thế nào cho đúng nhưng cũng có những giá trị về mặt triết lý
như: quan niệm về cuộc sống của con người, về giá trị của con người và về giá trị
đạo đức…
Tác giả Vũ Thị Thu Hương với công trình “Ca dao Việt Nam - Những lời
bình” Nxb.Văn hóa –Thông tin, Hà Nội, 2000. Nội dung cuốn sách gồm một bài
chính của người sưu tập, biên soạn và hơn ba mươi chuyên luận của các tác giả
khác, được chia làm hai phần; phần I: Những đặc điểm nổi bật của ca dao Việt Nam
như: Có sự lặp lại, dùng hình ảnh so sánh ẩn dụ lấy từ cuộc sống đời thường hoặc từ
thiên nhiên, thể thơ lục bát và lục bát biến thể. Những điều này không có hoặc ít có
ở thơ của văn học viết. Nó là nghệ thuật đặc thù của ca dao in đậm sắc màu dân gian,
bởi nó là tiếng nói của cộng đồng chứ không phải là tiếng nói của cá thể nghệ sĩ như
ở văn học viết. Phần II: Đến với những bài ca dao tiêu biểu như: những bài ca dao
về tình yêu lao động, ca dao trào phúng, ca dao trữ tình…. Nhìn chung, các bài
trong cuốn sách đều đem đến cho độc giả cách tiếp cận, cảm thụ tinh tế về nhiều tác

thành ngữ. Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức
của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ,
dễ truyền.
Tác giả Phúc Hải với “Ca dao việt Nam đặc sắc”, Nxb. Thời đại, 2003. Tác
phẩm trình bày theo dạng sưu tập có sự phân loại các sản phẩm của ca dao, tục ngữ
Việt Nam. Tuy nhiên, tác phẩm mới chỉ dừng lại ở dạng liệt kê những câu ca dao
Việt Nam đặc sắc chứ chưa có sự phân tích về giá trị ca dao, tục ngữ.
Phan Mậu Cảnh với bài viết: “Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn hóa và sự
thể hiện chúng trong ca dao người Việt”, tạp chí Văn hóa học, số 10/2008. Theo tác

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status