ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***************
ĐỖ HỒNG HUYỀN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
VỀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
VÀO VIỆC NHẬN THỨC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành Triết học
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***************
ĐỖ HỒNG HUYỀN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC –
LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN
THỨC VÀO VIỆC NHẬN THỨC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.80
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việc đƣa phạm trù thực tiễn vào làm cơ sở cho lý luận nhận thức
là bƣớc phát triển về chất của triết học Mác. Quan điểm coi thực tiễn là nền
tảng của toàn bộ đời sống xã hội, là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức,
là tiêu chuẩn của chân lý đã khắc phục đƣợc những hạn chế, sai lầm có tính
siêu hình, duy tâm, không khoa học của nhận thức luận trƣớc Mác, đồng thời
bác bỏ mọi luận điệu nhằm tách rời thực tiễn khỏi nhận thức, từ đó phủ nhận
khả năng nhận thức thế giới của con ngƣời.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vai trò của thực tiễn
đối với nhận thức, về khả năng hiểu biết thế giới của con ngƣời đƣợc coi là
thành quả vĩ đại của nền triết học khoa học. Luận điểm đó đã khuyến khích
con ngƣời tích cực tƣ duy, tích cực tìm hiểu thực chất các hiện tƣợng để phát
hiện ra các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và vận dụng những quy
luật đó vào phục vụ chính cuộc sống con ngƣời.
Lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn trong quan điểm của triết học
Mác về thực tiễn và nhận thức, mà một trong những hoạt động thực tiễn quan
trọng nhất là thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nƣớc đi theo con
đƣờng xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, định hƣớng xã hội chủ nghĩa và con đƣờng đi lên chủ
nghĩa xã hội là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn rất cơ bản, vừa liên quan
đến đƣờng lối, chính sách, giải pháp, vừa liên quan tới nhận thức, ý chí cách
mạng. Trƣớc những biến động không ngừng của thực tiễn xã hội trong và
ngoài nƣớc, đặc biệt là với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội những thập niên
70, 80 thế kỷ trƣớc ở nƣớc ta, sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu năm 1991 và
xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, việc nhận thức về
thật, Hà Nội, 1961), tác giả M.A. Tác-khốp-va đã chỉ ra một cách khá thuyết
phục sự đối lập giữa chủ nghĩa Ma-khơ và chủ nghĩa thực dụng với chủ nghĩa
3
Mác - Lênin trong quan điểm về thực tiễn và nhận thức. Những kẻ theo chủ
nghĩa Ma-khơ, chủ nghĩa thực dụng cho rằng thế giới là tập hợp của các cảm
giác, kinh nghiệm của con ngƣời, vì thế không thể đƣa tới chân lý khách
quan. Bọn chúng hoặc tách rời thực tiễn khỏi nhận thức, hoặc quy quá trình
nhận thức vào thực tiễn dẫn tới quan điểm sai lầm về vai trò thực tiễn đối với
nhận thức. Tác giả cũng có sự phân tích kỹ càng về thực tiễn với tƣ cách là
tiêu chuẩn chân lý. Song khi bàn đến vai trò là cơ sở, mục đích, động lực cho
nhận thức của thực tiễn thì tác giả vẫn chƣa có sự trình bày cụ thể, sâu sắc.
Sau khi công cuộc đổi mới đƣợc tiến hành ở nƣớc ta, nhiều vấn đề về lý
luận nhận thức, thực tiễn đƣợc đề cập. Đã có rất nhiều bài viết, công trình
nghiên cứu khoa học đƣợc công bố, đăng tải trên các báo, tạp chí nhƣ: Báo
Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Triết học, Tạp chí Lý luận chính trị,
Tạp chí Khoa học xã hội, Tạp chí Giáo dục lý luận… Trong đó có một số
công trình đáng chú ý nhƣ: “Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con
đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của GS. Phạm Thành (Tạp chí
Cộng sản, số 15, 1998); “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận,
tiếp tục làm sáng tỏ hơn nữa con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta” của
GS.TS. Lê Hữu Nghĩa (Tạp chí Giáo dục lý luận, số 9, 2003), “Tiến trình đổi
mới nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đƣờng quá độ lên chủ
nghĩa xã hội” của PGS.TS. Đặng Hữu Toàn (Tạp chí khoa học xã hội, số 3,
2003), “Nhận thức mới của Ðảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đƣờng đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của GS. TS. Trịnh Quốc Tuấn” (Báo Nhân Dân
ra ngày 23/1/2010)… Mỗi công trình tuy nghiên cứu những khía cạnh khác
nhau nhƣng đều đi sâu khai thác vấn đề ở góc độ lý luận và thực tiễn cơ bản.
của chủ nghĩa xã hội phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
điều kiện thực tiễn cụ thể; Đảng ta quan tâm đến các nhận thức mới về nhân
tố con ngƣời, khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết của nhận thức về xã
hội chủ nghĩa có liên quan đến vấn đề con ngƣời…
5
Có thể thấy số lƣợng các bài viết bàn về thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, về thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhận thức của Đảng ta về con
đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội là khá đồ sộ. Song bàn đến một cách trực tiếp
vấn đề vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và sự vận dụng quan điểm này
vào việc nhận thức con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta thì chƣa
nhiều. Tuy nhiên với những cách tiếp cận, triển khai vấn đề khác nhau, cùng
với những kết luận quan trọng, các công trình ở trên đã có tác dụng gợi mở,
định hƣớng cho công việc nghiên cứu của chúng tôi.
Xuất phát từ đòi hỏi cấp bách của thực tiễn xây dựng đất nƣớc, việc
nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc hơn quan điểm nêu trên của triết học
Mác - Lênin là một công việc quan trọng, góp phần hoàn thiện hơn nữa nhận
thức lý luận về con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội cũng nhƣ hiện thực hóa lý
luận đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm rõ quan điểm triết học Mác Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, luận văn chỉ ra cơ sở của
việc nhận thức đúng đắn con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta trong
giai đoạn hiện nay. (Con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở đây đƣợc nghiên
cứu dƣới góc độ là cách thức, đƣờng lối mà Đảng ta tiến hành trong giai đoạn
quá độ lên chủ nghĩa xã hội).
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn thực hiện 2 nhiệm vụ:
Thứ nhất: Khái quát quan điểm của triết học Mác - Lênin về thực tiễn,
nhận thức và mối quan hệ giữa chúng, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thực
Luận văn đã hệ thống hóa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua
từng thời kỳ, có sự so sánh đối chiếu giữa các thời kỳ đó để làm nổi bật lên
bƣớc tiến trong nhận thức về con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta.
Qua mỗi giai đoạn lịch sử, trƣớc những biến động của thực tiễn, nhận thức
7
của Đảng (cụ thể hóa qua các Văn kiện Đại hội Đảng) lại có sự biến đổi, vận
động để trƣớc hết là phản ánh đúng đắn thực tiễn khách quan, và sau đó là tìm
ra phƣơng thức thích hợp hƣớng dẫn thực tiễn, chỉ đạo thực tiễn hƣớng theo
con đƣờng đúng đắn đã xác định.
7. Ý nghĩa luận văn
Luận văn làm rõ nội hàm các khái niệm thực tiễn và nhận thức, chỉ ra
mối quan hệ giữa chúng, trong đó thực tiễn có vai trò quyết định. Luận văn
còn chỉ ra tầm quan trọng của việc tổng kết, nghiên cứu thực tiễn, lý luận hóa
thực tiễn và sự vận dụng, phát triển lý luận nhận thức trong điều kiện thực
tiễn một cách sáng tạo, đó là thực tiễn hóa lý luận.
Luận văn cũng đã làm rõ sự vận dụng của Đảng về quan điểm thực tiễn,
nhận thức của triết học Mác - Lênin vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn
đang đặt ra, đồng thời thấy đƣợc sự hoàn thiện dần trong nhận thức về con
đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa
đang diễn ra gay gắt hiện nay.
Ở một mức độ nhất định, luận văn có thể giúp ích cho những ai quan
tâm đến quá trình phát triển nhận thức về con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam của Đảng ta.
8. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn gồm hai chƣơng, 5 tiết.
thực tiễn” [55, tr. 9]. Có thể coi đây là sự khác nhau về nguyên tắc giữa chủ
nghĩa duy vật cũ, là sự đối lập giữa tính chất thực tiễn và tính trực quan của
toàn bộ hoạt động của con ngƣời.
Có những nhà triết học duy tâm tuy đã thấy đƣợc mặt năng động, sáng
tạo trong hoạt động của con ngƣời nhƣng cũng chỉ hiểu thực tiễn nhƣ là hoạt
động tinh thần chứ không phải hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm
tính của con ngƣời, “thành thử mặt năng động đƣợc chủ nghĩa duy tâm phát
triển, đối lập với chủ nghĩa duy vật, nhƣng chỉ phát triển một cách trừu tƣợng
vì chủ nghĩa duy tâm dĩ nhiên là không hiểu hoạt động hiện thực, cảm giác
đƣợc, đúng nhƣ hoạt động hiện thực, cảm giác đƣợc” [55, tr. 9]. Cho tới đỉnh
cao nhất trong cách tiếp cận phạm trù thực tiễn của triết học trƣớc Mác là
phép biện chứng của Hêghen thì thực tiễn cũng chỉ là phƣơng tiện giúp cho
việc “tha hóa” ý niệm tuyệt đối, thực hiện một bƣớc trong quá trình tự hoàn
thiện của ý niệm tuyệt đối.
Lý luận của Hêghen đã chỉ ra rằng: bằng thực tiễn, chủ thể “tự nhân đôi
mình”, đối tƣợng hóa bản thân mình trong quan hệ với bên ngoài. Theo ông,
hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con ngƣời chính là công cụ để
“tinh thần tuyệt đối” với tƣ cách là sự thống nhất giữa tƣ duy và tồn tại, tinh
thần và vật chất, chủ thể và khách thể nhận thức và trở về với chính bản thân
mình. Thực tiễn theo Hêghen chỉ dừng lại ở mức độ “ý niệm”, ở hoạt động tƣ
tƣởng, thực tiễn chỉ là một “suy lý logic, một hình tƣợng logic” [67, tr. 234].
Trong việc xây dựng lý luận nhận thức, Hêghen cho rằng “Thực tiễn là hoạt
động có ý chí của tƣ tƣởng”, là ý niệm tuyệt đối tự tạo mục đích cho mình,
với tƣ cách là cái chủ quan nó lại “có tiền đề là một tồn tại tự nó; nó là khuynh
hướng tự mình hiện thực mình, nó là cái mục đích muốn cho mình, qua bản
thân mình, một tính khách quan trong thế giới khách quan và muốn thực hiện
mình” [67, tr. 228-229]. Nhƣ vậy thực tiễn theo Hêghen là sự thống nhất giữa
10
thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi. Vì vậy, ông không hiểu đƣợc
ý nghĩa của hoạt động “cách mạng”, của hoạt động “thực tiễn - phê phán” ”
[55, tr. 9].
Tuy nhiên, cho dù các nhà duy vật cũ đã thừa nhận sự tồn tại khách
quan, độc lập của thế giới vật chất với ý thức của con ngƣời nhƣng họ chỉ
dừng lại ở sự hiểu biết về thế giới đó nhƣ một sự tồn tại thuần túy, không chịu
sự tác động trở lại của con ngƣời, không thấy đƣợc tự nhiên là sản phẩm hoạt
động sáng tạo của con ngƣời khi “thế giới không thỏa mãn con ngƣời, và con
ngƣời quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” [66, tr. 229].
Đó là hành động sáng tạo, có ý thức và tự giác, thông qua đó con ngƣời tự cải
biến bản thân mình. Con ngƣời không chỉ là một thực thể vật chất mà hơn thế
còn là thực thể xã hội năng động, sáng tạo và không ngừng hoàn thiện, không
chỉ thích nghi đƣợc với cuộc sống hiện thực mà luôn có ý thức cải tạo, nắm
bắt hiện thực. Do đó, qua hoạt động thực tiễn, con ngƣời ngày càng phát triển
hơn về nhận thức. Chủ nghĩa duy vật trƣớc Mác đã không thấy đƣợc ý nghĩa
của hoạt động thực tiễn đối với con ngƣời, không thấy đƣợc tính tích cực chủ
động cải tạo thế giới của con ngƣời, do đó đã phủ nhận vai trò hết sức quan
trọng của thực tiễn trong nhận thức, cải tạo thế giới và rơi vào quan điểm duy
tâm về lịch sử.
Có thể thấy trong phƣơng pháp luận và nhận thức luận trƣớc Mác, chức
năng thực tiễn – cải tạo hiện thực – đã bị lãng quên. Mác khẳng định “các nhà
triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách, song vấn đề là cải tạo thế
giới” [55, tr. 12]. Luận điểm này của Mác đã nói lên thực chất của bƣớc tiến
mới về chất trong cách hiểu chức năng thực tiễn – cải tạo thế giới, điều mà
các nhà triết học trƣớc đó đã không thể vƣơn tới.
b. Quan niệm của triết học Mác - L ênin về thực tiễn
12
13
của lý luận duy vật về nhận thức và hai ông gọi những ý định không dựa vào
thực tiễn để giải quyết vấn đề cơ bản của lý luận nhận thức là “triết học kinh
viện” và là “những điều quái tƣởng trong triết học”. “Chính nơi mà tƣ biện
dừng lại – chính trong đời sống hiện thực – là nơi bắt đầu khoa học thực sự,
thực chứng sự miêu tả hoạt động thực tiễn và quá trình thực tiễn của sự phát
triển của con ngƣời” [54, tr. 39].
Nguyên tắc thực tiễn của Mác với tƣ cách là cơ sở lý luận để chỉ đạo
hoạt động thực tiễn cách mạng không phải đã đƣợc hoàn chỉnh ngay từ đầu
mà đƣợc hình thành và phát triển trong suốt cuộc đời của các nhà tƣ tƣởng
xây dựng nên học thuyết đó. Những luận điểm mà Mác, Ăngghen, Lênin đề ra
không phải từ sự suy tƣ tƣ biện mà đƣợc rút ra từ sự kế thừa, phát huy những
tinh hoa lý luận của tất cả các học thuyết triết học trƣớc đó và từ sự khái quát
những thành tựu khoa học mới. Với việc đƣa phạm trù thực tiễn vào trong lý
luận của mình, Mác và Ăngghen đã tạo nên một bƣớc chuyển biến cách mạng
trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
Triết học Mác - Lênin quan niệm “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt
động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải
biến tự nhiên và xã hội” [3, tr. 261]. Hoạt động thực tiễn trƣớc hết là hoạt
động vật chất, mà hình thức cơ bản nhất là sản xuất vật chất, vì đời sống xã
hội, sự sống con ngƣời là do sản xuất quyết định.
Hoạt động sản xuất vật chất của con ngƣời là dạng hoạt động cơ bản
bởi nó là cơ sở cho sự tồn tại xã hội và phân biệt con ngƣời với tƣ cách chủ
thể xã hội với con vật. Bản chất của hoạt động này đƣợc thể hiện ra là sự tác
động qua lại giữa chủ thể và khách thể. Chủ thể của hoạt động thực tiễn là con
ngƣời (tồn tại ở những cấp độ khác nhau) thông qua việc sử dụng công cụ,
phƣơng tiện lao động để biến đổi khách thể nhằm đạt những mục đích nhất
định, đồng thời chủ thể cũng tự biến đổi cả bản thân mình. Con ngƣời với tƣ
15
bản chất,… để con ngƣời ngày càng có thể đi sâu, khám phá và nhận thức sâu
sắc hơn về thế giới.
Song thực tiễn không chỉ dừng lại là dạng hoạt động vật chất giản đơn,
thụ động mà hơn thế còn có tính mục đích. Nếu nhƣ con vật chỉ hoạt động
theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài thì
con ngƣời nhờ vào thực tiễn nhƣ là hoạt động có mục đích, có tính xã hội, mà
cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động,
tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Có thể nói lao động và ngôn ngữ
là hai động lực cơ bản nhất giúp cho con ngƣời thực sự thoát ra khỏi thế giới
loài vật.
Trong bài viết “Tác động của lao động trong quá trình chuyển biến từ
vƣợn thành ngƣời”, Ăngghen đã chỉ ra vai trò của lao động là điều kiện cơ
bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài ngƣời và nhƣ thế đến một mức và trên
một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói “Lao động đã sáng tạo ra chính bản
thân con ngƣời”. “Con ngƣời không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự
nhiên có tính chất người”, nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do
đó là thực thể loài” [56, tr. 234]. Con ngƣời không bằng lòng với những gì tự
nhiên ban phát, có sẵn mà tiếp tục lao động sản xuất ra của cải vật chất nuôi
sống mình qua việc chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Đó là cơ sở giúp
cho sự tồn tại của bản thân con ngƣời, là yêu cầu tất yếu của cuộc sống, đồng
thời là động lực cho sự đấu tranh sinh tồn.
Nhƣ vậy, nếu không có hoạt động thực tiễn mà trƣớc hết là sản xuất vật
chất thì con ngƣời và xã hội loài ngƣời không thể tồn tại và phát triển đƣợc.
Thực tiễn được xem như phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội,
là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế
giới. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, trình độ và các hình thức
hoạt động thực tiễn có thay đổi nhƣng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động
loài ngƣời, đồng thời quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn. Từ
17
hoạt động sản xuất vật chất, tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của
con ngƣời hình thành và đƣợc coi là cơ sở nền tảng cơ bản giúp con ngƣời
thoát khỏi giới hạn của động vật, thoát khỏi những gì thuộc về bản năng
không mang tính ngƣời. “Bản thân con ngƣời bắt đầu bằng tự phân biệt với
súc vật ngay khi con ngƣời sản xuất ra những tƣ liệu sinh hoạt của mình – đó
là một bƣớc tiến do tổ chức cơ thể của con ngƣời quy định. Sản xuất ra những
tƣ liệu sinh hoạt của mình, nhƣ thế con ngƣời đã gián tiếp sản xuất ra chính
đời sống vật chất của mình” [55, tr. 29]. Rõ ràng hoạt động sản xuất vật chất
là hình thức hoạt động thực tiễn cơ bản nhất mà thông qua đó con ngƣời biến
đổi không những sự tồn tại hiện thực của mình mà cả tƣ duy và sản phẩm của
tƣ duy.
Dạng cơ bản thứ hai của thực tiễn là dạng hoạt động chính trị - xã hội
nhằm biến đổi quan hệ xã hội, chế độ xã hội thông qua hàng loạt các hoạt
động khác nhƣ: đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh
cho tự do, bình đẳng, đấu tranh vì hòa bình… Hoạt động chính trị - xã hội ở
một góc độ nào đó cũng đƣợc xem là hoạt động cách mạng. Hoạt động này
thuộc về những lực lƣợng xã hội, những giai cấp, tập đoàn xã hội nhằm mục
đích xóa bỏ chế độ xã hội nào già cỗi, không còn phù hợp với sự phát triển
của xã hội đƣơng đại để thay thế vào đó bằng một chế độ xã hội mới, tiên
tiến, phù hợp và thuận lợi cho sự tiến bộ của xã hội. Cách mạng xã hội là sự
cải biến căn bản chế độ xã hội, là sự thay thế chế độ xã hội này bởi chế độ xã
hội khác tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ phát triển của lịch sử.
Tiêu biểu cho cách mạng xã hội thời nay là cách mạng xã hội chủ nghĩa
– một cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ tƣ bản chủ nghĩa lỗi thời bằng
chế độ xã hội chủ nghĩa khi những điều kiện vật chất và tinh thần cho sự thay
phát triển của hai hình thức sau. Song giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ và
đều là những dạng hoạt động cơ bản và cần thiết cho sự phát triển xã hội.
19
Nhƣ vậy thực tiễn theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thực sự là
dạng hoạt động cơ bản của con ngƣời, là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời
và xã hội loài ngƣời, qua thực tiễn có thể nhìn nhận đƣợc mối quan hệ của
con ngƣời và thế giới. Khi cuộc sống ngày càng phát triển, ngƣời ta lại càng
phải công nhận vai trò hết sức quan trọng của thực tiễn đối với nhận thức.
Thực tiễn là cơ sở, nền tảng nhận thức của con ngƣời.
1.1.2. Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con
ngƣời
Việc tìm hiểu bản chất quá trình nhận thức là một vấn đề khá phức tạp,
đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh vấn đề này.
Trong tác phẩm “Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ
điển Đức”, Ăngghen khẳng định rằng chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
là những trào lƣu triết học cơ bản và “vấn đề tối cao của bất cứ triết học nào
là vấn đề mối quan hệ giữa tƣ duy và tồn tại, giữa tinh thần và giới tự nhiên”.
Ngoài ra vấn đề cơ bản của triết học còn một mặt khác nữa tức là tƣ tƣởng của
chúng ta về cái thế giới xung quanh chúng ta có quan hệ với bản thân thế giới
đó nhƣ thế nào? Tƣ duy của chúng ta có khả năng nhận thức thế giới của con
ngƣời hay không là việc mà không phải bất cứ trƣờng phái triết học nào cũng
thừa nhận. Các quan điểm triết học khác nhau có những câu trả lời khác nhau
về vấn đề nêu trên.
a. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về nhận thức
Các nhà triết học duy tâm khách quan mà tiêu biểu là Hêghen mặc dù
không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới song coi nhận thức cũng không
phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự nhận thức của ý
vật thế kỷ XVII-XVIII đều thừa nhận có những “khách thể tự nó” tồn tại ở
ngoài ý thức của chúng ta. Cái “vật tự nó” của Phoi-ơ-bắc hoàn toàn trái
ngƣợc với cái “vật tự nó” của Cantơ. “Đối với Phoi-ơ-bắc thì “vật tự nó” là
một “sự trừu tƣợng có tính thực tại”, tức là thế giới tồn tại ở ngoài chúng ta,
21
hoàn toàn có thể nhận thức đƣợc và về nguyên tắc không có gì khác với hiện
tƣợng” cả” [27, tr. 137]. Tuy nhiên do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và
trực quan nên chủ nghĩa duy vật trƣớc Mác đã không giải quyết đƣợc một
cách khoa học những vấn đề lý luận nhận thức, đặc biệt chƣa thấy đƣợc vai
trò của thực tiễn đối với nhận thức. Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức đƣợc thực hiện.
b. Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nhận thức
Triết học Mác - Lênin quan niệm “Nhận thức là quá trình phản ánh
tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở
thực tiễn” [4, tr. 260]. Đó là quá trình phản ánh dựa trên cơ sở thực tiễn lịch
sử - xã hội. Nó diễn ra không giản đơn, thụ động, máy móc, nhận thức không
phải là cái có sẵn, bất di bất dịch mà là quá trình phản ánh thế giới khách quan
vào bộ óc con ngƣời, theo đó nhận thức của con ngƣời đi từ không biết đến
biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông đến sâu, “từ hiện tƣợng đến bản chất, từ
bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn” [67, tr. 240].
Quan niệm về nhận thức đƣợc Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng dựa
trên 4 nguyên tắc:
Một là, chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận thế giới vật chất tồn tại
khách quan, ở ngoài con ngƣời, độc lập với cảm giác, tƣ duy, ý thức con
ngƣời. Do yêu cầu của hoạt động thực tiễn đòi hỏi con ngƣời phải có những
hiểu biết về các sự vật, hiện tƣợng trong thế giới ấy. Và cũng từ hoạt động
thực tiễn, thông qua thực tiễn mà con ngƣời mới có đƣợc những tri thức cụ
thế giới vật chất và nhận thức của con ngƣời, nó còn là đòn bẩy chủ yếu của
toàn bộ sự tiến bộ tinh thần và đƣợc giải quyết hàng ngày, thƣờng xuyên
trong quá trình phát triển tiến lên không ngừng của nhân loại.
Với khẳng định ở trên, lý luận nhận thức mác-xít đề cao sức mạnh của
con ngƣời trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Nhờ nhận thức con ngƣời
23