ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN MINH ĐỨC
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH
TRONG DẠY HỌC NHÓM CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH
LUẬT BẢO TOÀN”
VẬT LÍ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHIẾU HỌC TẬP
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. LÊ VĂN GIÁO
1
1
1
Thừa Thiên Huế, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Thừa Thiên Huế, tháng 08 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Minh Đức
3
3
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa..............................................................................................................i
Lời cam đoan............................................................................................................. ii
Lời cảm ơn...............................................................................................................iii
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
ĐC
Đối chứng
DHN
THPT
Trung học phổ thông
TNg
Thực nghiệm
TNSP
Thực nghiệm sư phạm
5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH ẢNH VÀ SƠ ĐỒ
Trang
BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi ngành giáo dục
nước ta phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện
dạy học. Đổi mới phải dựa trên cơ sở phát huy thành tựu của nền giáo dục trong
nước và tiếp thu những thành tựu mới của khoa học giáo dục thế giới, phù hợp với
điều kiện cụ thể của nước ta sao cho có tính hiệu quả và khả thi. Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
khảo…bảo đảm cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học
sinh theo chuẩn kiến thức và kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông; chú trọng
liên hệ thực tế trong giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài học…”[2].
Định hướng trên được đưa ra trong Luật giáo dục năm 2005 là “Mục tiêu
của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân…”[15].
Tuy nhiên, khi nói đến thực tế DH ở trường THPT hiện nay, Nguyễn Cảnh
Toàn viết: “... Kiến thức, tư duy, tính cách con người chính là mục tiêu của giáo
dục. Thế nhưng, hiện nay trong nhà trường, tư duy và tính cách bị chìm đi trong
kiến thức...”[22], Hay nói cách khác, thực tế dạy hiện nay nói chung và DH vật lí
nói riêng hầu hết giáo viên (GV) chỉ chú trọng đến việc cung cấp khối lượng kiến
thức cho HS hơn là tổ chức các hoạt động DH theo hướng bồi dưỡng năng lực tự
học cho HS. Trong khi đó yêu cầu đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay là
phải điều chỉnh nội dung DH theo hướng tinh giản hơn, chuyển dần sang hướng DH
7
phát triển năng lực (làm được gì) của HS[1]. Ở các trường THPT hiện nay việc sử
dụng PHT trong dạy học chưa rộng rãi và còn hạn chế. Trong dạy học nói chung và
dạy học vật lí nói riêng, GV có sử dụng PHT nhưng còn rất ít và chưa phù hợp. Đặc
biệt, GV chưa xây dựng được một hệ thống các PHT trong quá trình dạy học, cũng
như chưa sử dụng một cách khoa học và hiệu quả vào quá trình dạy học. Chính điều
này làm cho hầu hết học sinh học tập còn thụ động, miễn cưỡng, chưa yêu thích,
học vất vả nhưng hiệu quả chưa cao.
Thực tế trong việc giảng dạy cho thấy, chương “Các định luật bảo toàn” Vật
lý 10 là chương có nội dung khá rộng và sâu nên đòi hỏi học sinh phải có tư duy
lôgic , có năng lực tự học thì các em mới chiếm lĩnh nội dung tri thức của chương.
động sáng tạo. Quyển sách đã chỉ ra cho người giáo viên làm thế nào để dạy học
sinh học tập sáng tạo.
Phạm Hữu Tòng với “Hình thành kiến thức, kỹ năng phát triển trí tuệ và
năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí” và “Dạy học vật lí ở trường phổ
thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy
khoa học” đã nghiên cứu về các biện pháp nhằm thực hiện dạy học sáng tạo.
Nguyễn Thị Thiên Nga với đề tài "Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí ở
trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho học sinh"[24],
tác giả đã hệ thống khá đầy đủ cơ sở lí luận về tự học và chỉ ra được một số biện
pháp tổ chức hoạt động tự học cho HS ở trường THPT.
Võ Thị Cẩm Quyên với đề tài “Bồi dưỡng NLTH cho học sinh trong dạy học
chương “Động học chất điểm” VL 10 qua khai thác và sử dụng bài tập Vật lí”[21],
tác giả trình bày đầy đủ cơ sở lí luận về tự học, khai thác hệ thống bài tập và đưa ra
các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS trong giờ lên lớp, tự học ở nhà và thông qua
kiểm tra đánh giá.
Võ Lê Phương Dung với đề tài “Hình thành NLTH Vật lí cho HS THPT
thông qua việc sử dụng sách giáo khoa”[14], tác giả cũng trình bày đầy đủ cơ sở lí
luận về tự học và vai trò của SGK trong việc hình thành NLTH cho HS, đưa ra các
biện pháp hướng dẫn sử dụng SGK trong giờ lên lớp nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học cho HS qua hoạt động tự học.
Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trước đến nay tuy
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phát triển năng lực trong dạy học vật lý
nhưng những công trình nghiên cứu ấy chưa đề cập sâu đến năng lực tự lực trong
dạy học vật lý cấp Trung học phổ thông. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
9
trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh
qua dạy học nhóm chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT với sự hỗ trợ
rút ra kết luận.
6. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học Vật lý theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh
qua dạy học nhóm với sự hỗ trợ của phiếu học tập ở trường THPT.
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng tiến trình tổ chức dạy học chương
“Các định luật bảo toàn”, Vật lý 10 theo hướng phát triển năng lực tự học của học
sinh và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở các trường THPT trên địa bàn Quận Ninh
Kiều, Thành Phố Cần Thơ.
11
8. Phương pháp nghiên cứu đề tài
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ
Giáo dục và đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở các cấp,
các bậc học.
- Nghiên cứu cơ sở tâm lí học và cơ sở lí luận của mô hình dạy học hợp tác
với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lý.
- Nghiên cứu đặc điểm về chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương “Các
định luật bảo toàn” - Vật lý 10 THPT.
- Nghiên cứu vai trò và cách thức sử dụng phiếu học tập trong dạy học bộ
môn Vật lý.
8.2. Phương pháp thực tiễn
Điều tra thông qua đàm thoại và phiếu lấy ý kiến của giáo viên, học sinh để
biết thực trạng vấn đề của việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực tự
học của học sinh.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để đánh giá hiệu quả của
13
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TỰ HỌC QUA DẠY HỌC NHÓM VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA PHIẾU HỌC TẬP
1.1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh
1.1.1. Khái niệm năng lực
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: Năng lực là tổ hợp các đặc điểm,
thuộc tính tâm lý của cá nhân (như hứng thú, niềm tin, ý chí,…) phù hợp với yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt
hiệu quả cao.
Các năng lực được hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân
nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự
nhiên mà có, phần lớn do công tác, do học tập và rèn luyện mà hình thành. Ngoài
ra, các năng lực có đặc điểm như là: thường hình thành và bộc lộ trong các hoạt
động; nó gắn liền với một hoạt động cụ thể; chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như
môi trường và hoạt động của bản thân.
1.1.2. Năng lực học sinh
1.1.2.1. Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự
nhiên sẵn có để thực hiện một hoat động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh
lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Theo Thái Duy Xuyên: Năng lực là những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là
điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định. Năng lực
có quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu,
tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính
Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ.
-
Tính toán ứng dụng số.
-
Đọc - viết.
-
Làm việc nhóm - quan hệ với người khác.
-
Công nghệ thông tin - truyền thông.
-
Sáng tạo, tự chủ.
-
Giải quyết vấn đề.
Hệ thống năng lực học sinh VN được đưa ra trong dự thảo chương trình
giáo dục tổng thể được công bố tháng 04 năm 2017 [ 34]
15
- Nhận ra ý tưởng mới
- Phát hiện và làm rõ vấn đề
- Hình thành và triển khai ý tưởng mới
- Đề xuất, lựa chọn giải pháp
- Thực hiện và đánh giá giải pháp giải
quyết vấn đề
- Tư duy độc lập
16
2. Các năng lực chuyên môn
Năng lực ngôn ngữ
Năng lực tính toán
Năng lực tìm hiểu tự nhiên
và xã hội
Năng lực công nghệ
Năng lực tin học
Năng lực thẩm mỹ
- Sử dụng tiếng Việt
- Sử dụng ngoại ngữ
- Hiểu biết các khái niệm, kiến thức toán
học phổ thông, cơ bản
- Biết cách vận dụng các thao tác tư duy,
mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong
xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức
- Nhận biết và giải quyết vấn đề trong
môi trường công nghệ tri thức
- Học tập, tự học với sự hỗ trợ của các
hệ thống ứng dụng CNTT và TT
- Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp
với thời đại kinh tế tri thức
- Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái
17
Năng lực thể chất
bi, cái hài, cái chân, cái thiện, cái cao cả)
- Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ
- Tái hiện và tạo tác các yếu tố thẩm mỹ
- Sống thích ứng và hài hòa với môi
trường
- Nhận biết và có các kỹ năng vận động
cơ bản trong cuộc sống
- Nhận biết và hình thành các tố chất thể
lực cơ bản trong cuộc sống
- Nhận biết và tham gia hoạt động TDTT
- Đánh giá hoạt động vận động
1.1.3. Các xu hướng tiếp cận trong phát triển chương trình giáo dục
1.1.3.1. Tiếp cận nội dung
Là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực, môn học nào
Chu trình tự học của HS là một chu trình gồm 3 quá trình:
-
Tự nghiên cứu
-
Tự thể hiện
-
Tự kiểm tra và tự điều chỉnh
1.2.3. Kỹ năng tự học
Những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho cuộc sống và lao động của con người
trong xã hội hiện đại đang ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng. Trong quá trình
19
dạy học, những kiến thức và kĩ năng trong chương trình SGK tuy đã được chọn lọc cẩn
thận, tuy nhiên không thể đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Chính vì vậy, trong
quá trình dạy học, GV nên coi trọng việc rèn luyện kĩ năng cho HS, nhất là kĩ năng tự
học ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức cho HS. Nếu như trong nhà trường, GV
chỉ dạy HS những nguyên tắc đại cương, thì khi vào đời các em sẽ không ứng xử được
những tình huống phức tạp và đa dạng. Thực tế đó, đặt ra cho GV nhiệm vụ phải rèn
luyện những kĩ năng tự học cho HS bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, để các em có
cơ hội tự hoàn thiện bản thân mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn.
Thực tế cho thấy một kĩ năng nào đó thường là tổ hợp của nhiều kĩ năng con
hợp thành. Kĩ năng tự học cũng không nằm ngoài quy luật đó, cũng bao gồm nhiều
kĩ năng khác hợp thành, mà có thể chỉ ra là:
20
+ Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có sách giáo
khoa, có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương
tiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti-vi, mạng, các phần mềm dạy học…Sự
hướng dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức,
hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm. Dưới
sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoàn
thành các nhiệm vụ học tập. Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khích
nhưng chất lượng của nó là vấn đề cần quan tâm.
+Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HS nhận nhiệm vụ và tự học ở
nhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Có thể gọi hình thức này là tự học
có hướng dẫn hay tự học sau giờ lên lớp.
1.2.5. Phát triển năng lực tự học của HS
1.2.5.1. Sự cần thiết phát triển năng lực tự học của HS
Đối với người học nói chung và đối với HS nói riêng thì tự học có vai trò rất
quan trọng, tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt
đời, xã hội học tập. Tự học là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiến lược của giáo dục
Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung, nó có vai trò cụ thể như:
- Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức
và hiệu quả học tập.
- Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học.
- Tự học góp phần rèn luyện kĩ năng, cách học.
- Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy.
- Tự học có vai trò to lớn trong sự sinh tồn của mỗi người.
Ngày nay nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú, từ sách, mạng
internet, băng, đĩa CD… nên nếu có kĩ năng tự học tốt thì sẽ tận dụng được nguồn
thông tin phong phú, đa dạng đó trong việc thu nhận khiến thức cho mỗi cá nhân.
Nghe giảng và ghi chép là những kĩ năng mà ai cũng phải sử dụng trong quá
trình học tập. Trình độ nghe và ghi chép của người học không giống nhau ở những
môn học khác nhau. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập. Tuy nhiên đây là
vấn đề mà xưa nay chưa có ai nghiên cứu. Mỗi người đều phải tự mình rèn luyện
thói quen ghi chép để có thể có được những thông tin cần thiết về môn học. Điều
quan trọng trước tiên là GV cần truyền đạt cho HS những nguyên tắc chính của hoạt
động nghe - ghi chép. Trong nhà trường THPT, các em thường mang lối học thụ
động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV
đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học nếu ngược lại thì đành bỏ trống vở
22
khiến tâm lí bị ức chế ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức. Thực tế đó đòi
hỏi người học phải tập trung tư tưởng cao độ để có khả năng lĩnh hội vấn đề một
cách khoa học nhất. Phải rèn luyện để có khả năng huy động vốn từ, sử dụng tốc độ
ghi chép nhanh bằng các hình thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ
những ý chính, các luận điểm quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần là
điều vô cùng cần thiết. Ngoài ra, trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn đề nào
không hiểu cần đánh dấu để hỏi ngay sau khi GV ngừng giảng nhằm đào sâu kiến
thức và tiết kiệm thời gian. Rất tiếc, trên thực tế đây là điểm yếu mà phần lớn HS
không quan tâm rèn luyện để có được.
Muốn tạo điều kiện cho HS nghe giảng và ghi chép tốt, GV cần lưu ý:
-
Nội dung bài giảng phải mới mẻ, thiết thực, cần thiết có thể tạo ra những tình
huống giả định yêu cầu HS suy nghĩ phản biện.
-
Bên cạnh đó còn phải rèn luyện năng lực tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy
23
sáng tạo để tìm ra những hướng tiếp cận mới các vấn đề khoa học.
Việc đưa ra các tình huống vấn đề gắn với thực tiễn đời sống xã hội là ưu thế
của việc học Vật lý. GV cần cho những tình huống sau mỗi bài, chương, mục và yêu
cầu HS chuẩn bị trước. Sau đó tùy tình hình để cho từng cá nhân hay từng nhóm (cả
lớp) thảo luận, giải quyết.
Một trong những hình thức giúp HS làm việc nhóm tốt nhất là tạo cơ hội cho
các em diễn ngôn trực tiếp. Từ cách lấy dẫn chứng để chứng minh một vấn đề, giải
thích, phản biện, nêu quan điểm ý tưởng hay thuyết trình, giới thiệu, tổng thuật một
sự kiện, một vấn đề khoa học hoặc đơn giản chỉ là sự bày tỏ chính kiến trước một
hiện tượng. Thông qua đó người dạy cũng có thể nắm được mức độ nhận thức của
HS để có sự bổ sung điều chỉnh hợp lí, kịp thời. Đảm bảo chất lượng giờ giảng luôn
được cải thiện theo hướng tích cực.
d) Dạy cách nghiên cứu
Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp với
sở trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo. Tiếp đến là dạy
cách lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử lí thông tin trong khuôn
khổ thời gian cho phép. Trước tình hình thay đổi của đất nước việc xác định nguồn
tài liệu, điều tra, thực nghiệm là một yêu cầu tương đối khó đối với người học. HS
phải quan tâm tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách viện
dẫn những thông tin ra sao cho chính xác, trích dẫn những vấn đề điển hình nào cho
có tính thuyết phục… là những vấn đề cần được hướng dẫn kĩ lưỡng chu đáo từ
phía GV. Cần hình thành và rèn luyện cho các em sớm có được kĩ năng ấy. Ngoài
ra, việc tự kiểm tra đánh giá kết quả nghiên cứu trên cơ sở tranh thủ ý kiến của bạn
bè thầy cô cũng đem lại lợi ích thiết dụng cho người nghiên cứu, nhất là những HS
nhau trong sự thống nhất toàn vẹn để tạo ra một chất lượng mới của quá trình dạy học.
Như vậy, bản chất của hình thức tổ chức dạy học theo nhóm là quá trình thực
hiện những biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển mối tương tác giữa
các thành tố: người dạy, nhóm người học và tri thức làm cho chúng vận động và
phát triển theo một trật tự nhất định.
1.3.2. Đặc điểm
Dạy học theo nhóm có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp, như mô hình giờ
học truyền thống;
- Việc phân chia nhóm học sinh vừa tuân theo đặc điểm tâm lý lứa tuổi - nhận
thức của học sinh, vừa phụ thuộc vào nhiệm vụ học tập học sinh cần phải giải quyết;
- Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành
25