Thiết kế và sử dụng website học tập cho chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 nâng cao - Pdf 30

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là khóa luận của riêng em, các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác.
Tác giả
Phan Quang Mạnh
1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN !
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm, Ban
Chủ nhiệm khoa Vật lý cùng Quý thầy giáo, cô giáo tham gia giảng dạy Lớp 10SVL
– Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự hướng dẫn tận tình của
PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực
hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Trịnh Khắc Đức và thầy Lê Thanh Huy đã
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình em trong quá trình thiết kế website cũng như ứng dụng
công nghệ thông tin vào quá trình thiết kế bài giảng.
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, các bạn sinh viên lớp 08SVL đã dành
nhiều tình cảm, giúp đỡ, động viên em hoàn thành khóa luận này.
Xin trân trọng cảm ơn !
Đà Nẵng, 05/2014
Sinh viên thực hiện
Phan Quang Mạnh
2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNTT Công nghệ thông tin GV Giáo viên
DH Dạy học HS Học sinh
ĐC Đối chứng BGĐT Bài giảng điện tử

- Ba năm sau đó, tiếp theo thành công này của Việt Nam, VAST đã khai
trương Trung tâm Vệ tinh Quốc gia Việt Nam. Tháng 5 năm 2013, một lần nữa từ
Kourou, vệ tinh giám sát môi trường đầu tiên của Việt Nam đã được phóng vào quỹ
đạo.
- Cùng với việc thành lập các viện nghiên cứu như mô hình của VAST, Việt
Nam đã thành lập nhiều trường đại học công lập theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó
có Trường Đại học Việt – Đức, TP. Hồ Chí Minh được thành lập năm 2008. Trường
4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đại học Khoa học Công nghệ Hà Nội (USTH) hợp tác với Cộng hòa Pháp cũng
được khai trương năm 2009. Năm 2010, USTH đã bắt đầu đưa ra một chương trình
giảng dạy Pháp – Việt tại trụ sở của VAST ở Hà Nội nhưng các tòa nhà của trường
vẫn chưa được hoàn thiện, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2018. Trụ sở của trường
trong tương lai sẽ được đặt ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, cách Hà Nội 30km về
phía Tây với sức chứa khoảng 2000 sinh viên, với 6 lĩnh vực khoa học chính được
đào tạo là công nghệ sinh học, vật liệu nano, nước và môi trường, công nghệ thông
tin, năng lượng và vũ trụ.
Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về
tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo
dục giai đoạn 2008-2012 đã nêu “Công nghệ thông tin (CNTT) là công cụ đắc lực
hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục,
góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục…”
Cũng trong chị thị trên ở điều 4 ta có “Triển khai áp dụng CNTT trong dạy
và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay
trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị
tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục; phát huy tính tích cực tự
học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để người
học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xoá bỏ sự lạc
hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại. Cụ thể là:
- Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử

nhiên, vì vậy học Vật Lý chúng ta cần phải nắm rõ phần lí thuyết và việc giải bài
toán Vật Lý có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện sự tư duy định hướng họ sinh
một cách tích cực, khả năng vận dụng kiến thức cũng như giải quyết vấn đề của học
sinh.
Chúng ta thấy rằng yêu cầu đối với môn học là rất lớn, thế nhưng thời gian
trên lớp của GV lại rất hạn chế, và môn Vật Lý là môn học đòii hỏi chúng ta phải
học mãi vì kiến thức của nó thay đổi mới liên tục.
Vì những lí do trên, em xin thực hiện đề tài: Thiết kế và sử dụng website học tập
cho chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 nâng cao.
6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ việc học tập các kiến thức giáo khoa cũng như
việc giải bài tập Vật Lý (Vận dụng vào chương “Các định luật bảo toàn” – Vật Lý
10 Nâng cao) góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Vật Lý ở trường THPT.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu việc thiết kế và sử dụng website học tập thành công thì sẽ góp phần hỗ trợ học
tập Vật Lý trong cả lí thuyết lẫn bài tập. Nâng cao chất lượng dạy học ở trường
THPT, hỗ trợ hoạt động dạy học của GV. Phát huy tích tích cực tự giác của HS
trong học tập.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
- Hoạt động dạy và học Vật Lý ở trường THPT
- Hoạt động tự học của HS trung học phổ thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 Nâng cao
- Dạy học Vật Lý ở một số trường trên địa bàn Đà Nẵng
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lí luận về việc dạy học Vật Lý ở trường THPT cả về lí thuyết và bài tập.
- Cơ sở lí luận về việc tự học cũng như cách phát huy tính tích cực, tự giác trong

Mở đầu
Chương I: Cơ sở lí luận về việc xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt
động tự học, tự giải bài tập của HS
Chương II: Xây dựng và sử dụng website học tập cho chương “ Các định luật
bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC VẬT LÝ
8
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1.1. Cơ sở lí luận về việc dạy học vật lý theo định hướng tích cực tự động hóa
hoạt động nhận thức cho học sinh
1.1.1.Bản chất của quá trình dạy và học
1.1.1.1.Bản chất của quá trình học
Theo quan điểm tâm lí học thì học tập là quá trình hình thành và phát triển của
các dạng thức hành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể với tình huống,
thông qua sự đồng hóa và sự điều tiết. Hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với
động cơ thúc đẩy hoạt động đó.
1.1.1.2. Bản chất của quá trình dạy
Nếu học là hành động của học sinh xây dựng kiến thức cho chính bản thân mình
và vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động (hành động chiếm
lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) và do đó trong dạy học người dạy cần
tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh, để qua đó học
sinh chiếm lĩnh được tri thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của
mình.
1.1.1.3. Mối liên hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học
Quá trình dạy học là quá trình thống nhất bao gồm quá trình dạy và quá trình

- Tích cực tái hiện: chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện.
- Tích cực tìm tòi: được đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực
về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khát khao tìm tòi kiến thức, hứng thú học
tập. Tính tích cực đó không bị hạn chế trong khuôn khổ những yêu cầu của
giáo viên trong giờ học.
- Tích cực sáng tạo: là mức độ cao nhất của tính tích cực. Nó đặc trưng bằng sự
khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường mà mọi
người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa, để đạt được mục đích.
1.1.2.2. Những biểu hiện của tính tích cực
Trong quá trình học tập, tính tích cực được biểu hiện thông qua:
- Sự hứng thú trong học tập, sự sẵn sàng trong tư duy
- Sự tự giác, chủ động, hăng hái tham gia các nhiệm vụ học tập
- Sự sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức
10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Quyết tâm vượt khó trong quá trình học tập
1.1.2.3. Mục đích của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động của nguời thầy nhằm chuyển vị trí người
học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể để tìm
kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
1.1.3 Đặc trưng của các PPDHTC
1.1.3.1 Dạy học tăng cực tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động,
sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS
Trong phương pháp tổ chức, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng
thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV
tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó HS tự lực khám phá những điều mình chưa rõ,
chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt. Được
đặt vào những tình huống đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận ,
làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ của mình, từ đó nắm được
kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng,

trường THPT, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học ngay sau tiết học có
sự hướng dẫn của GV.
1.1.3.3. Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều
tuyệt đối thì khi áp dụng PPDH tích cực buột phải chấp nhận sự phân hóa cường độ,
mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế
thành một chuỗi hoạt động độc lập.
Áp dụng PPDH tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa ngày càng lớn.
Việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu
cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng tự học của mỗi HS.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái dộ diều được
hình thành bằng những hoạt động cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy –
trò, trò- trò, tạo mối quan hệ hợp tác của các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội
dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân
12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ
mới.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, cả
lớp…Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các
thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Chuyển từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ
chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh nội dung học tập chủ động đạt đến mục tiêu, kiến thức, thái độ theo yêu
cầu của chương trình. Trên lớp học sinh hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn
nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so
với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp và vai trò là người gợi
mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào
hứng, tranh luận sôi nổi của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình

chắc.
Môi trường học tập mới khuyến khích hình thành thói quen tự học và tự đánh
giá của HS, thói quen của cả đời.
Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây.
* Dạy học vấn đáp
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS
trả lời, hoặc có thể tranh luận vói nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội
dung bài học.
Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa và vấn đáp tìm
tòi.
* Dạy và học phát hiện và giải quyết
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay
gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là
một năng lực bảo đảm sự hình thành trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho HS biết
phát hiện, đặt và giả quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống
của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ trong học tập , trong cuộc sống của cá
14
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
nhân, gia đình cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như
một mục tiêu giáo dục. Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề , HS vừa nắm
được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư
duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội;
phát hiện kịp thời giải quyết vấn đề nảy sinh. Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn
đề không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mói cách
tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với PPDH.
* Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ là mói với đa số vói GV. PPDH hợp tác giúp các
thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau
xây xựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể
nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm

Tài liệu in ấn như sách giáo khoa, sách bài tập, sổ tay tóm tắt công thức, phiếu
học tập…
c) Công nghệ thông tin và truyền thông
Thuộc nhóm này có máy vi tính, đĩa mềm, đĩa CD…
1.2.1.3. Vai trò của phương tiện dạy học
Phương tiện có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình dạy học. Các phương tiện
dạy học thay thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xãy ra trong thực
tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp cận trực tiếp được. Chúng giúp cho
thầy giáo phát huy tất cả các giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến
thức, do đó học sinh nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện những
khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học
và thực tế sản xuất.
Thực tiễn sư phạm cho thấy, phương tiện dạy học có các đặc trưng chủ yếu như
sau:
- Có thể cung cấp cho học sinh các kiến thức một cách chắc chắn và chính xác, như
vậy nguồn tin họ thu nhập được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn.
16
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn, vì vậy tăng thêm khả năng của học sinh
tiếp thu những sự vật, hiện tượng và các quá trình phức tạp mà bình thường học
sinh khó nắm vững được.
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà việc lĩnh hội kiến thức của học sinh lại nhanh hơn.
- Giải phóng người thầy giáo khỏi một khối lượng lớn các công việc tay chân, do đó
làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học.
- Dễ dàng gây được cảm tình và sự chú ý của học sinh.
- Bằng việc sử dụng phương tiện dạy học, giáo viên có thể kiểm tra một cách khách
quan khả năng tiếp thụ kiến thức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo của học
sinh.
1.2.1.4. Sử dụng phương tiện dạy học thích ứng linh hoạt với những ý đồ về
phương pháp dạy học

1.2.2.3. Những hình thức sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như
công cụ dạy học
- Giáo viên trình bày bài dạy có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
- Học sinh làm việc trực tiếp với công nghệ thông tin và truyền thông dưới sự hướng
dẫn giáo viên và sự kiểm soát chặt chẽ của thầy giáo.
- Học sinh học tập độc lập nhờ công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là nhờ
những chương trình máy tính.
- Học sinh tra cứu tài liệu và học tập độc lập hoặc trong giao lưu trên mạng cục bộ
hay internet.
1.2.3. Website dạy học
1.2.3.1. Khái niệm về Website dạy học
WWW (World Wide Web) là một dịch vụ thông tin mới và hấp dẫn nhất trên
Internet dựa trên kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là “Siêu văn bản”. WWW
không phải là một hệ thống cụ thể mà là một tập hợp các công cụ tiện ích và các
siêu giao diện giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản và cung cấp cho
những người sử dụng khác trên Internet, ta gọi tắt là công nghệ Web. Công nghệ
Web cho phép truy cập và sử lí các trang dữ liệu đa phương tiện trên Internet. Để
18
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
xây dựng các trang đa phương tiện như vậy, Web sử dụng một ngôn ngữ gọi là
HTML. HTML cho phép đọc và liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau trên cùng một
trang thông tin.
Như vậy, trang Web là trang tin trên mạng Internet. Nội dụng thông tin được
diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ họa, ảnh tĩnh, ảnh động, phim, âm
thanh, tiếng nói…Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt với
các trang khác và giúp mọi người tri cập đến. Bảng Web là tập hợp các trang Web
được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc hay còn gọi là trang xuất phát,
trang đầu tiên. Mỗi bảng Web có một địa chỉ riêng và đó cũng chính là địa chỉ trang
gốc hay trang xuất phát.
Xuất phát từ khái niệm Website trên. Có thể hiểu Website dạy học là một

lượng người sử dụng đông nhất. Hiện NukeViet cũng là một trong những mã nguồn
mở chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam, cơ quan chủ quản của NukeViet là
VINADES, JSC - đơn vị chịu trách nhiệm phát triển NukeViet và triển khai
NukeViet thành các ứng dụng cụ thể cho doanh nghiệp.
Nói tóm lại, nếu bạn cần xây dựng một website, dù là website cá nhân hay là
một website ngân hàng, một đại công ty, một hệ thống bán hàng trực tuyến, một hệ
thống viễn thông, một trường học online,…bạn hãy dùng NukeViet!.NukeViet!có
thể làm được mọi thứ liên quan đến web.
1.2.3.4. Một số nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng Website dạy học
Muốn đưa một Website trở thành phương tiện dạy học, khi xây dựng cần tuân
theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
 Đảm bảo tính sư phạm: Xây dựng Website dạy học trước tiên cần phải xuất phát
từ những ý đồ sư phạm đối với các hoạt động dạy học trên lớp, chứ không phải chỉ
xuất phát từ khả năng của máy vi tính trong việc lưu trữ, xử lí và truy xuất thông
tin. Sự hấp dẫn người sử dụng khi truy cập các Website trên mạng là ở khả năng
trình diễn các thông tin Multimedia rất sinh động. Tuy nhiên, nếu lạm dụng nó
trong thiết kế thì có khi sẽ phản tác dụng trong dạy học. Trình tự xuất hiện của các
thông tin, sử dụng các hiệu ứng, các hình ảnh động, phim ảnh, màu sắc…đều phải
được cân nhắc một cách kỹ lưỡng tuân theo những nguyên tắc sư phạm trong quá
20
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
trình dạy học.Như vậy, muốn xây dựng Website cần phải xây dựng trước cấu trúc
mang tính chất kịch bản cho quá trình trình diễn thông tin.
 Đảm bảo tính hiệu quả: Các hoạt động dạy học rất đa dạng và phong phú bao gồm
cả những hoạt động chân tay và hoạt động trí óc. Website với tư cách là một phần
mềm, cùng với máy tính phải hỗ trợ được nhiều mặt trong quá trình dạy học. Giải
phóng người dạy thoát khỏi những lao động phổ thông để có nhiều thời gian đầu tư
cho việc tổ chức, thiết kế, điều khiển, giám sát và điều chỉnh hoạt động nhận thức
của người học. Đồng thời phải tạo được những điều kiện tốt để hoạt động nhận thức
của học sinh được diễn ra một cách tích cực, độc lập, chủ động và sáng tạo.

tính tích cực, tự lực của học sinh.
- Là diễn đàn trao đổi thông tin của nhiều người.
1.2.4. Website dạy học vật lý
1.2.4.1. Cơ sở lí luận của việc xây dựng Website trong dạy học vật lý
 Xây dựng trang Web đảm bảo trình độ xuất phát
Xây dựng trang Web giúp học sinh tái hiện những tri thức và tái tạo kỹ năng cần
thiết. Việc tái hiện hoặc tái tạo có thể thực hiện theo hai cách:
- Minh họa các hiện tượng vật lý, những câu hỏi để ôn tập những kỹ năng cần thiết
một cách tường minh trước khi dạy nội dung bài mới. Tái hiện hoặc tái tạo kiểu này
gọi là tái hiện hoặc tái tạo tường minh.
- Nêu và minh họa các hiện tượng vật lý ở những lúc thích hợp trong mối liên quan
từng nội dung mới chứ không thành một pha tách biệt. Tái hiện hoặc tái tạo kiểu
này gọi là tái hiện hoặc tái tạo ẩn tàng.
 Xây dựng trang Web hỗ trợ học sinh làm việc với nội dung mới
Các phần mềm mô phỏng, minh họa các hiện tượng vật lý, hình ảnh tĩnh, hình
ảnh động, videoclip có tác dụng rất lớn cho học sinh khai thác và đi tìm nguồn tri
thức mới một cách chủ động và sáng tạo. Phần này thể hiện rõ trong cách thiết kế
site bài giảng điện tử.
 Xây dựng trang Web cũng cố tri thức và kỹ năng
Việc cũng cố tri thức, kỹ năng một cách có định hướng và có hệ thống có một ý
nghĩa to lớn trong dạy học.
22
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Luyện tập: Xây dựng trang Web nhằm mục tiêu rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của học
sinh. Khi xây dựng nội dung của site này cần phân bậc hoạt động nghĩa là cần xây
dựng những mạch bài tập phân bậc để điều khiển quá trình dạy học phù hợp với các
đối tượng học sinh.
- Hệ thống hóa kiến thức: Nhằm vào việc so sánh, đối chiếu những tri thức đạt được,
nghiên cứu những điểm giống nhau và khác nhau làm nỗi rõ những mối quan hệ
giữa chúng. Nhờ đó mà người học đạt được không phải chỉ là những tri thức riêng

chóng và chính xác.
1.3. Kết luận chương 1
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học thì phương tiện dạy học đóng vai
trò hết sức quan trọng. Thiết kế và sử dụng Website dạy học trên cơ sở lí luận dạy
học hiện đại là một hướng đi phù hợp với xu thế dạy học hiện đại ngày nay.
Website dạy học phát huy vai trò của người thầy trong quá trình dạy học. Thầy
giáo phải lập kế hoạch cho những hoạt động của mình trước, trong và sau khi học
sinh học tập. Website dạy học sẽ tạo ra khả năng để giáo viên trình bày bài giảng
sinh động hơn, dễ dàng cập nhập và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của
khoa học hiện đại.
Wesite dạy học là công cụ hỗ trợ cho học sinh học tập theo hướng tích cực hóa
hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh có thể học trước, trong và sau bài dạy
của giáo viên; có thể học ở nhà, ở trên phòng máy của trường, trên internet. Có
nghĩa là học mọi lúc, mọi nơi sao cho phù hợp với hoàn cảnh của từng học sinh.
Thông qua học tập bằng website học sinh được trải nghiệm với những ứng dụng
của tin học , điều đó có tác dụng gợi động cơ cho việc học tập những nội dung tin
học.
Website dạy học vật lý với nguồn tri thức được khai thác từ internet giúp giáo
viên và học sinh có cái nhìn rộng hơn về thế giới bên ngoài và bước đầu hình thành
thói quen khai thác và sử dụng thông tin vô tận để tự học và học tập suốt đời.
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG
TỰ GIẢI BÀI TẬP KHI HỌC CHƯƠNG “ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT
LÝ 10 NÂNG CAO.
24
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2.1 Tổng quan về cấu trúc nội dung và kiến thức trong chương “Các định luật
bảo toàn”
2.1.1 Cấu trúc nội dung chương các định luật bảo toàn vật lý 10
Số tiết phân phối chương trình trên một tuần đối với Vật Lý 10 nâng cao là 2,5
tiết/tuần, còn Vật Lý 10 cơ bản là 2 tiết/tuần. Số tiết phân phối trong chương “Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status