MỤC LỤC
KẾT LUẬN ...............................................................................................................55
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT
:
Công nghệ thông tin
ĐC
:
Đối chứng
GDĐT
:
Giáo dục đào tạo
GV
:
Giáo viên
HS
:
Thực nghiệm
TNSP
:
Thực nghiệm sư phạm
1
TT
:
Truyền thông
MVT
:
Máy vi tính
LLDH
:
Lý luận dạy học
Trong những năm gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin và truyền thông đã tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới nội dung,
phương pháp, phương thức dạy học. Nhận thức được vai trò quan trọng của công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy học hiện nay, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X đã nêu lên định hướng phát triển Giáo dục – Đào tạo 2006 – 2010: “Phát
triển mạnh và kết hợp chặt giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào
tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức ...” [2]
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là mục
tiêu hàng đầu “đến năm 2020 đất nước ta về cơ bản phải trở thành nước công nghiệp”.
[1]
Chỉ thị 22/2005/CT – BGD&ĐT ngày 29 tháng 7 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ của toàn ngành trong năm học 2005 – 2006 đã nêu:
“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học; tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin trong các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học
tập ...” [4]
Sự kết hợp máy vi tính với hệ thống truyền thông đa phương tiện cùng với
mạng thông tin toàn cầu Internet, Website dạy học đang góp phần đổi mới phương
pháp dạy học, tạo được động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Với Website, người
sử dụng có thể mở rộng kiến thức, ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, học trực
tuyến, tham gia các diễn đàn để trao đổi kiến thức ... Từ đó giúp cho người dạy thay
đổi phương pháp dạy học của mình theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của
người học, đồng thời người học có thể rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu để
chiếm lĩnh tri thức của nhân loại.
3
Website dạy học với sự trợ giúp của máy vi tính và Internet tỏ ra có nhiều thế
mạnh. Chất lượng dạy học với sự trợ giúp của Website đã được khẳng định về mặt lý
4
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc sử dụng máy vi tính với hệ thống hỗ trợ dạy
học qua mạng internet.
- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng máy vi tính và ứng dụng công nghệ
thông tin làm phương tiện dạy học ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu nội dung, chương trình chương các định luật bảo toàn Vật lý 10
nâng cao.
- Xây dựng website dạy học và bài giảng điện tử chương các định luật bảo toàn
Vật lý 10 nâng cao.
- Thực nghiệm sư phạm, xử lý số liệu và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng
hệ thống hỗ trợ dạy học qua mạng internet trong dạy học Vật lý.
4. Giả thiết khoa học
Hiện nay, dạy học qua mạng internet chưa được nghiên cứu và áp dụng nhiều
trong dạy học, nếu xây dựng và sử dụng hệ thống dạy học qua mạng internet một cách
khoa học sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực chủ
động học tập của học sinh từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lý ở trường
trung học phổ thông.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng
Hoạt động dạy và học Vật lý ở trường trung học phổ thông với sự hỗ trợ của hệ
thống hỗ trợ dạy học qua mạng internet.
b. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu chương các định luật bảo toàn phần Cơ học vật lý 10 nâng
cao và tiến hành thực nghiệm ở trường trung học phổ thông.
6. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay ở trường trung học phổ thông, hoạt động dạy và học với sự hỗ trợ của
hệ thống hỗ trợ dạy học qua mạng internet chưa phát triển, mới chỉ dừng lại ở mức độ
thống hỗ trợ dạy học qua mạng internet và hiệu quả các giờ học có sử dụng phương
tiện dạy học hiện đại này.
d. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm ở trường phổ thông để đánh giá hiệu quả dạy học với sự
hỗ trợ của hệ thống hỗ trợ dạy học qua mạng internet.
e. Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê mô tả và thống kê kiểm định để xử lý kết quả thực
nghiệm sư phạm. Qua đó khẳng định giả thuyết sự khác biệt giữa kết quả học tập của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm từ đó khẳng định kết quả nghiên cứu của đề tài.
8. Cấu trúc luận văn
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng hệ thống hỗ trợ dạy học qua mạng
internet.
Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống dạy học qua mạng internet chương Các
định luật bảo toàn Vật lý 10 nâng cao trung học phổ thông.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
HỆ THỐNG DẠY HỌC QUA MẠNG INTERNET
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1.1.1. Bản chất của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là sự thống nhất giữa mục đích, nội dung, phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học do nhiệm vụ và tính chất của nhà trường quy định. Giáo dục
THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học
cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và
Trong thời đại hiện nay, CNTT là tiêu chí về công cụ quan trọng cần thiết để
khai thác khi dạy và học. Do hệ quả của sự tiến bộ nhảy vọt của CNTT mà khối lượng
thông tin và tri thức tăng nhanh, cũng chính CNTT có thể giúp con người xử lý thông
tin nhanh chóng để biến thành tri thức.
Đổi mới PPDH ở trường THPT nên được thực hiện theo các định hướng sau:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông.
-
Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể.
-
Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS.
-
Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường.
8
-
Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các
PPDH tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH
truyền thống.
-
Tăng cường sử dụng các PTDH, TBDH và đặc biệt lưu ý đến những
1.1.3.3. Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp DHTC được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với
không hoạt động, thụ động. PPDHTC hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức
của HS, nghĩa là hướng vào việc phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ
không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy.[5]
PPDHTC nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn
luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào
9
những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin hứng thú
trong học tập.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy quyết định cách học,
tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy.
Mặt khác cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDHTC nhưng GV
chưa đáp ứng được. Do vậy, GV cần phải bồi dưỡng, kiên trì cách dạy theo PPDHTC,
tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành
thói quen cho HS.
1.1.3.4. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực
- Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông
qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS: trong phương pháp tích cực đối
tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào
các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp
đặt.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của
HS: theo cách này, quá trình dạy học cần rèn luyện cho người học có được phương
pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học. Qua đó tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội
lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội.
1.1.4.2. Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức mới,
vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy sáng tạo, được
chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết
hợp lý các vấn đề nảy sinh. Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn
ở phạm trù PPDH, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học
trong mối quan hệ thống nhất với PPDH.
1.1.4.3. Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn
khoăn, kinh nghiệm bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra
những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề
nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn
nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV.
Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý quan
trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong
nhóm.
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC SỬ DỤNG INTERNET VÀ WEBSITE TRONG DẠY
HỌC
11
1.2.1. Khái niệm Internet
Internet là sự kết nối của hệ thống các mạng máy tính thông qua các phương
tiện viễn thông trên toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang, đường điện
thoại... Khả năng truyền tải của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa được nhiều
loại thông tin như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnh động...
1.2.2. Khái niệm trang web và website dạy học
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT&TT đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh
vực hoạt động của con người. Nói riêng trong giáo dục, một loạt các khái niệm mới đã
xuất hiện và dần trở nên quen thuộc đối với mọi người. Những khái niệm ấy cho đến
âm thanh, tiếng nói… Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt với
các trang khác và giúp mọi người truy cập đến. Bảng Web (Website) là tập hợp các
trang web được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc (Home page), hay còn
gọi là trang xuất phát, trang đầu tiên. Mỗi bảng Website có một địa chỉ riêng và đó
cũng chính là địa chỉ của trang gốc hay trang xuất phát.
Để thực hiện được việc truy nhập, liên kết các tài nguyên thông tin khác nhau
theo kỹ thuật siêu văn bản, WWW sử dụng khái niệm URL (Uniform Resource
Locator), đây là một dạng tên để định danh duy nhất cho một tài liệu hoặc một dịch vụ
trong Web. Cấu trúc của URL gồm các thành phần thông tin như: giao thức Internet
được sử dụng, vị trí của server (domain name), tài liệu cụ thể trên server (path name)
và có thể có thêm các thông tin định dạng khác.
Ví dụ: URL của một tài liệu Web
http:
Giao
//www.elmvn.net
Domain name của
/vincent/index.html
Tài liệu trên Server
Trong đó: http (Hypertext Transfer Protocol) là một giao thức truyền thông sử
dụng cho Web (Web còn có thể chấp nhận các giao thức Internet khác như ftp, gopher,
WAIS,…). Với địa chỉ URL, Web cho phép truy nhập tới các tài nguyên thông tin từ
các dịch vụ khác của Internet ở trên Server khác nhau.
Xuất phát từ khái niệm của Website ở trên, ta có thể hiểu Website dạy học là một
PTDH (dưới dạng phần mềm trên máy tính), được tạo ra bởi các siêu văn bản (là các
tài liệu điện tử như bài giảng, Sách giáo khoa, Sách giáo viên, Sách bài tập,…) trên đó
bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin
Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh), để hỗ trợ việc dạy và học, cung cấp cho
trên ba phương diện chính yếu là giáo dưỡng, giáo dục và rèn luyện kỹ năng. Trong
bài viết này, tôi chỉ xin bàn tới mục tiêu thứ nhất. Giáo dưỡng tức là nhằm giúp học
sinh, sinh viên trau dồi tri thức về tự nhiên, xã hội và con người. Phương châm chỉ đạo
ở đây là: tri thức phải cơ bản, toàn diện, hiện đại, phù hợp và hệ thống. Nội dung
chương trình các cấp học, bậc học phải nhằm hướng tới mục tiêu đó. Phương pháp dạy
và học của thầy và trò cũng vậy. Từ đó tiêu chí đánh giá trên phương diện giáo dưỡng
cũng rất rõ rệt. Thầy có hiểu biết sâu rộng về chuyên môn, chuyên ngành mình phụ
trách và biết cách truyền thụ những tri thức sâu rộng đó đến người học hay không? Trò
có hiểu đúng, đủ, sâu những tri thức sâu rộng mà người thầy có ý định truyền đạt hay
14
không? Đó đồng thời là cơ sở để xem xét đóng góp của nhà trường đối với xã hội.
Thành bại của một nền giáo dục phần chính cũng tuỳ thuộc vào điều đó.
Vì vậy, trước hết là việc dạy của thầy. Đã là thầy thì phải hơn trò về tri thức,
hơn một cái đầu. Để truyền thụ tri thức có hiệu quả, người truyền thụ phải có niềm tin
khoa học, phải tin vào điều mình nói. Càng tin càng có sức thuyết phục người học.
Trong khi hiểu biết của người thầy vốn rất có giới hạn. Chính khoa học còn có giới
hạn kia mà! Nghịch lý bắt đầu hé lộ. Nên sử lý như thế nào ở đây? Một mặt, chính
người thầy không được phép nghi ngờ những gì có ý định nói với người học nơi giảng
đường. Mặt khác, điều này mới thật đáng lưu tâm, người thầy không nên coi những gì
mình nói ra là chân lý tuyệt đối. Nhất là không được phép nghĩ rằng mình biết được
mọi thứ, hiểu được mọi điều, thậm chí hiểu biết mọi thứ mọi điều đến ngọn ngành. Rất
nhiều lĩnh vực nằm ngoài nhận thức của chúng ta. Đó là chuyện bình thừơng. Không
phải thầy là biết được hết. Và không phải khi không biết một điều gì là không xứng
đáng làm thầy. Cần ghi nhớ lời dạy chí lý của Đức Khổng Tử: Biết thì bảo là biết,
không biết thì bảo là không biết, ấy mới là người biết.
Thêm nữa, nghề dạy học cùng với nghề y, rất cần kinh nghiệm. Càng hành nghề
lâu càng có điều kiện thấu nghề, lành nghề, tinh nghề. Ưu thế thật rõ. Nhưng nếu
dục đang diễn ra trên qui mô toàn cầu, tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục,
từ quan niệm về chất lượng giáo dục, đến quá trình tổ chức và hệ thống giáo dục.
Với sự phát triển nhanh của KHCN, dẫn đến kết quả là xuất hiện nhanh, nhiều
những tri thức, những kĩ năng và những lĩnh vực nghiên cứu mới, đồng thời những tri
thức cũ trở nên lỗi thời, lạc hậu, nảy sinh mâu thuẫn giữa khối lượng thông tin với
trình độ, thời gian, sức lực của người học quá tải.
Trước những thay đổi ấy nếu con người không tiếp cận được với những tri thức
mới, những hiểu biết mới, họ sẽ trở nên nhanh chóng lạc hậu với thời cuộc và bị đào
thải. Xã hội hiện đại đòi hỏi con người phải nhạy bén với cái mới, nhanh chóng tiếp
cận và nắm bắt các thành tựu KHCN hiện đại. Để giải quyết vấn đề này, giáo dục phải
tiếp cận được những thành tựu mới nhất của KHCN bằng cách chọn lọc nội dung, đổi
mới phương pháp dạy học và ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại để giúp cho
người học trong một thời gian ngắn có thể thu nhận được một lượng thông tin lớn.
Vấn đề đổi mới giáo dục hiện nay đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Để
làm được việc lớn đó, chúng ta phải thực sự cầu thị, chuyển biến từ cái nhỏ nhất: đó là
cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học trong từng bài học, trong từng giờ học, làm cho
quá trình dạy của Thầy và học của Trò đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện có thể có.
Mạng máy tính, Internet, website đã được ứng dụng trong giáo dục ở nhiều
nước, đây vừa là môi trường thông tin vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tương
tác mạnh. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, những thư viện tranh ảnh,
16
video clip, những thí nghiệm mô phỏng, những vấn đề về nội dung, PPDH... đã được
đưa lên website giáo dục của nhiều quốc gia phát triển, sẽ trở thành những cơ sở hiện
thực hoá việc ứng dụng CNTT và TT trong giáo dục ở các nước chậm và đang phát
triển. Nghiên cứu ứng dụng CNTT và TT trong giáo dục ở nước ta hiện nay, đặc biệt
là việc sử dụng MVT với Multimedia, mạng Internet, website... cũng chính là xác định
con đường để đi đến sự hội nhập trong xu thế toàn cầu hoá nhiều lĩnh vực.
1.2.4. Ưu điểm của dạy học qua mạng internet
người sử dụng. Những phương pháp học tập thành nhóm trên mạng làm cho người học
năng động hơn, có tác động qua lại tích cực hơn. Vai trò của GV hướng dẫn là rất quan
trọng, mỗi GV phụ trách một nhóm HS phân theo lớp. HS thực hành và thực hiện các
hoạt động của lớp học dưới sự hướng dẫn của GV nhưng với hình thức liên lạc, trao
đổi thông tin với nhau một cách chủ động thông qua thảo luận hoặc trao đổi thông qua
Internet.
1.2.5.1.2. Sử dụng Website như công cụ hỗ trợ giảng dạy
GV có thể sử dụng trang web trình bày bài giảng với những tính năng đa
phương tiện (văn bản, âm thanh, hình ảnh,…) làm cho bài giảng sinh động hơn.
Những hiện tượng khó quan sát, những TN khó thực hiện do các lý do kỹ thuật và tài
chính, GV có thể đưa ra các đoạn băng hình vào Web để giúp người học tiếp cận với
các phương tiện hiện đại mà với điều kiện của một trường phổ thông, thậm chí các
trường đại học trong nước khó thể thực hiện được. Thông qua Web, GV cũng có thể
kiểm soát việc học tập của người học qua những lần truy cập vào trang Web, hoặc các
phần mềm kiểm tra trên Web.
1.2.5.1.3. Sử dụng Website như công cụ hỗ trợ học tập
Qua việc xây dựng trang web học tập một nội dung, một chương, thậm chí cả
chương trình học một môn học. Người học tự học tập thông qua web với các trình tự
giảng dạy được lập sẵn hoặc người học làm việc với máy tính có sự trợ giúp của GV,
giúp cho người học có thói quen học tập tự chủ. Thông qua các trang web kiểm tra,
người học còn có thể tự đánh giá khả năng của mình. Ngoài ra, người học còn học
được cách điều khiển web, đây cũng là một yếu tố quan trọng trong việc truy tìm
thông tin trên Internet của HS – SV mà sẽ được sử dụng rộng rãi trong tương lai.
1.2.5.1.4. Sử dụng Website như công cụ quản lý học tập
Các chương trình ứng dụng có khả năng kiểm soát việc sử dụng web của HS –
SV (ví dụ: các chương trình kiểm tra việc truy cập web, kiểm tra và lưu trữ kết quả,
…). Các ứng dụng trên Web có khả năng cung cấp thông tin chọn lọc, chính xác,
khách quan góp phần tạo nên những quyết định kịp thời, đúng đắn. Điều này càng trở
nên quan trọng hơn khi lượng thông tin ngày càng lớn, phức tạp và vượt quá khả năng
bao quát của GV.
có hệ thống liên kết, điều hướng và chỉ dẫn rõ ràng. Khả năng tương tác, cập nhật
thông tin nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và thể hiện được tính mở. Việc sử dụng
các tương tác âm thanh, màu sắc phải khéo léo, không nên lạm dụng khả năng trình
diễn thông tin dưới dạng hình ảnh của máy tính. Đặc biệt Website phải dễ sử dụng,
19
phần mềm thiết kế ổn định và có khả năng thích ứng cao với các thế hệ máy tính và
các hệ điều hành.
1.2.5.3. Những hạn chế khi sử dụng Website dạy học
Không có phương pháp, PTDH vạn năng, nó có thể tốt cho người này, mục đích
này nhưng chưa hẳn đã tốt với người khác và mục đích khác. Với vai trò là PTDH hiện
đại, Website dạy học tỏ ra có nhiều ưu thế nổi trội. Tuy nhiên, cần hiểu rằng nó không
phải là “chìa khóa vạn năng”, và dù phát triển đến mức độ nào cũng không thể thay
thế vai trò của người GV. Như vậy phải khẳng định rằng Website dạy học là một
PTDH đa năng chứ không phải vạn năng, vì vậy trong QTDH phải biết sử dụng một
cách hợp lý để phát huy tối đa những thế mạnh và hạn chế những yếu điểm của nó.
Sau đây là những hạn chế khi sử dụng Website làm PTDH và phương án khắc phục
chúng:
-
Thực tiễn cho thấy, sử dụng Website có sẵn nhiều khi còn tuỳ thuộc vào sự
hiểu biết của một số người. Về mặt kiến thức mặc dù đã được chuẩn hóa, tuy nhiên
nếu xét về góc độ sư phạm thì chưa hẳn đã có giá trị cao. Vì vậy có thể phù hợp với
người này nhưng lại không thể áp đặt cho người khác. Đây là hạn chế lớn khi sử dụng
Website dạy học được thiết kế sẵn. Khi sử dụng Website dạy học nếu GV không hiểu
chủ đích của nhà thiết kế sẽ dễ xa rời định hướng của bài học, còn người học khi độc
lập sử dụng Website để học tập có thể có hiện tượng “nhảy cóc” giữa các nội dung của
dụng thành thạo MVT và chưa có sự đầu tư thời gian cho lĩnh vực này nhất là các
trường ở vùng sâu, vùng xa. Để khắc phục các ban ngành có liên quan cần có chính sách
hỗ trợ đầu tư thích đáng. Nên tổ chức các lớp đào tạo tin học định kỳ về ứng dụng
CNTT vào dạy học cho GV, tăng thời lượng giảng dạy chuyên đề tin học ứng dụng cho
SV các ngành sư phạm.
Trên đây là một số hạn chế khi sử dụng Website làm PTDH. Tuy nhiên nếu biết
sử dụng hợp lý thì có thể khắc phục đáng kể các hạn chế trên.
1.2.6. Hình thức triển khai website trong dạy học Vật lý
Căn cứ vào thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của nhà trường để có
thể tiến hành cài đặt và khai thác Website dạy học dưới các hình thức:
- Cài đặt Website trên các máy tính cá nhân của HS.
- Cài đặt Website lên máy chủ của hệ thống mạng cục bộ trong trường.
- Đưa Website lên mạng Internet để phổ biến Website trên toàn thế giới.
Trong điều kiện hiện nay khi mà hầu như các trường học đều có hệ thống
phòng máy thì một giải pháp công nghệ mới, đơn giản, không qua tốn kém là: hệ
thống mạng đào tạo đa phương tiện (multimedia Education Networrk System HiClass).
21
Với hình thức dạy học này GV điều khiển một hệ thống máy tính được kết nối
với nhau và kết nối với máy chủ, từ màn hình máy chủ GV điều khiển, quan sát toàn
bộ hoạt động của người học. Mọi hoạt động của GV trên màn hình máy tính cùng với
lời nói của GV đều có thể chuyển tải tới người học, vì vậy GV có thể thuyết trình
BGĐT, giao nhiệm vụ học tập… trên máy chủ còn người học tiếp nhận mọi thông tin
nhận được từ máy tính cá nhân của mình. Trong quá trình học tập người học có thể
trao đổi ý kiến của mình với GV thông qua micro và headphone (tai nghe) khi GV
nhận được tín hiệu từ máy tính.
Các kết quả nghiên cứu về hệ thống giáo dục đa chức năng này cho thấy: HiClass
là một sự đổi mới quan trọng về PTDH, nó cho phép tạo ra môi trường DH hiệu quả cao
Hiện nay có nhiều các hệ thống quản lý học tập LMS (Learning Management
System) mã nguồn mở như BlackBoard, Atutor, Itias, LRN, … Trong đó Moodle đang
được ứng dụng rộng rãi tại nhiều trường học, nhiều công ty tổ chức của nhiều nước
trên thế giới.
Moodle (Modular Object - Oriented Dynamic Learning Environment) được sáng
lập năm 1999 bởi Martin Dougiamas, người tiếp tục điều hành và phát triển chính của
dự án. Do không hài lòng với hệ thống LMS/LCMS thương mại WebCT trong trường
học Curtin của Úc, Martin đã quyết tâm xây dựng một hệ thống LMS mã nguồn mở
hướng tới giáo dục và người dùng hơn.
Moodle nổi bật là hướng giáo dục, được thiết kế dựa trên triết lý giáo dục tốt, là
nền tảng cho dạy học trực tuyến. Một điểm nữa là Moodle có cộng đồng rất đông đảo,
thường xuyên đóng góp ý kiến và tài chính để nâng cao chất lượng phần mềm. Một tổ
chức có quyền truy cập hoàn toàn mã nguồn và có thể thay đổi nếu cần thiết. Thiết kế
có tính mô đun, giúp dễ dàng tạo các khóa học mới, đưa nội dung giúp học viên tham
gia nhiệt tình hơn.
Điều đáng mừng là hiện tại Việt Nam đã thành lập cộng đồng Moodle, sẵn sàng
cung cấp hỗ trợ miễn phí bằng tiếng Việt cho các trường học và cơ sở đào tạo, tại địa
chỉ website: />1.3.2.2. Tại sao lựa chọn Moodle
1.3.2.2.1. Mã nguồn mở miễn phí
Cụm từ “mã nguồn mở” đã trở thành một thuật ngữ trong công nghệ phần mềm.
Nó đã làm thay đổi lớn sự phát triển và kinh doanh ứng dụng máy tính. Tuy nhiên ý
tưởng thật đơn giản, mã nguồn mở nghĩa là ai cũng có quyền xem, đánh giá và sửa
phần mã chương trình của phần mềm sao cho phù hợp với mục đích và yêu cầu sử
dụng, nếu nó hay hơn, tiến bộ hơn, bạn có thể gửi cho các người khác cùng sử dụng
thông qua đánh giá của cộng đồng.
23
Moodle sử dụng công nghệ mà nguồn mở do đó dễ tùy biến sao cho phù hợp
với mục đích sử dụng mà đặc biệt là miễn phí. Đồng thời, khi sử dụng công nghệ mã
Ví dụ, HS có thể đọc bài học trong SGK một vài lần và quên vào ngày hôm sau,
nhưng nếu cho HS thử và giảng giải các ý tưởng này cho HS khác đó bằng ngôn ngữ
riêng của bạn, hoặc tạo các slide trình chiếu để giảng giải các ý tưởng này thì có thể
khẳng định là HS đó sẽ hiểu rõ hơn về nó. Đây là nguyên nhân tại sao truyền thống bắt
HS ghi chép trong các giờ lên lớp, thậm chí có khi HS không bao giờ đọc nó.
- Xây dựng xã hội (Social Constructivism)
Quan niệm này mở rộng các ý tưởng ở trên và để thực hiện các quan điểm trên
rằng nhóm HS thành một nhóm mang tính xã hội xây dựng kiến thức bổ sung cho
nhau, hợp tác tạo một “nền văn hóa nhỏ” chia sẻ các vấn đề có cùng ý tưởng. Khi một
kiến thức được đưa vào “nền văn hóa” này, như đề cập ở trên, mọi người sẽ được và sẽ
phải học mọi lúc sao cho trở thành một bộ phận của “nền văn hoá” đó. Tuy nhiên,
trong “nền văn hóa” đó cũng sẽ xuất hiện nhiều trình độ khác nhau.
- Kết hợp và phân chia (Connected and Separate)
Quan niệm này nhìn sâu hơn vào động cơ thúc đẩy của mỗi cá nhân trong một
cuộc thảo luận. Hành vi phân chia (Separate) xuất hiện khi một ai đó có xu hướng bảo
vệ ý kiến của riêng họ, sử dụng logic để tìm lỗ hổng trong các ý kiến của đối thủ. Hành
vi kết hợp (Connected) là cách tiếp cận lý luận của người khác dựa trên sự cố gắng
nghe và đặt câu hỏi để hiểu và tiếp nhận vấn đề của người khác. Hành vi xây dựng
(Constructed) chỉ hành vi của một người sử dụng cả hai cách tiếp cận trên để xây dựng
và phản biện vấn đề, họ có thể chọn một trong hai cách tùy tình huống cụ thể.
Trong việc xây dựng cộng đồng học tập thì việc phát huy sự liên kết rất quan
trọng, không những chỉ giúp mang mọi người gần nhau hơn mà còn là cơ hội để kiểm
tra lại các kiến thức mình có.
Theo đó, các nhà xây dựng Moodle đã tích hợp cho nó những khả năng tuyệt vời,
xứng đáng được đánh giá là một “trung tâm học tập” trong khi hầu hết các hệ thống
học tập khác là một “trung tâm công cụ”.
1.3.2.2.3. Tính cộng đồng
Moodle có một hệ thống cộng đồng trên mạng to lớn. Những người đang sử
dụng và phát triển Moodle bất kỳ ai cũng có thể gia nhập vào cộng đồng này và tham