BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
VÕ THỊ THU THỦY
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG, SIÊU ÂM, KẾT QUẢ
ĐIỀU TRỊ VÀ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG BỆNH
LỒNG RUỘT CẤP Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
HUẾ, 2010
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lồng ruột là một cấp cứu ngoại khoa rất thường gặp ở trẻ em. Lồng ruột có
thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng nhiều nhất là từ 4 - 9 tháng tuổi. Theo Tổ
chức Y tế thế giới [88], tỷ lệ lồng ruột ở các nước phát triển là 0,5 - 4,3 trường hợp/
1000 trẻ sinh sống hoặc 0,66 - 1,2 trường hợp/1000 trẻ < 1 tuổi, tại Việt Nam, từ
năm 1975 - 1995 có 472 - 722 trường hợp lồng ruột/ năm ở trẻ < 12 tháng nhập viện
ở Hà Nội - Huế - Thành phố Hồ Chí Minh, chiếm 5,8% số trẻ nhập viện. Trong 5
năm (1995 - 1999), Viện Nhi Trung Ương điều trị 1027 trường hợp lồng ruột [2].
Hiện nay với sự phát triển của y học, tỷ lệ tử vong của lồng ruột đã giảm rất
thấp và ở nhiều nước phát triển như Nhật Bản, Anh không có tử vong, nhưng ở các
Do bệnh lồng ruột có tỷ lệ cao đặc biệt là ở trẻ bú mẹ, việc chẩn đoán không
kịp thời sẽ đưa đến những biến chứng trầm trọng. Các yếu tố lâm sàng, cận lâm
sàng để người thầy thuốc phân tích, đánh giá và đưa ra phương pháp điều trị thích
hợp còn chưa xác định cụ thể. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu
lâm sàng, siêu âm, kết quả điều trị và yếu tố tiên lượng bệnh lồng ruột cấp ở
trẻ dưới 24 tháng tuổi tại Bệnh viện Trung ương Huế” với các mục tiêu:
1. Khảo sát triệu chứng lâm sàng, siêu âm và kết quả điều trị bệnh lồng ruột cấp.
2. Xác định một số dấu hiệu lâm sàng và siêu âm góp phần tiên lượng tháo lồng ở
bệnh nhân lồng ruột cấp.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ BỆNH LỒNG RUỘT
Thời cổ đại, người ta đã đề cập đến bệnh lồng ruột và đã điều trị nắn tháo
lồng bằng tay ngoài thành bụng hoặc bơm không khí hay thụt nước và đại tràng để
tháo lồng, tuy nhiên đó chỉ là một vài trường hợp điều trị có tính chất mò mẫm. Từ
giữa thế kỷ thứ XVII, Paul Barbetle (1674) đã mô tả bệnh lồng ruột và gợi ý mổ để
tháo lồng. Cho đến đầu thế kỷ XX bệnh lồng ruột đã được nghiên cứu nhiều nhưng
tỷ lệ tử vong còn rất cao (50 - 70%) [37], [62].
Năm 1871, Jonathan Hutchinson đã tiến hành mổ tháo lồng thành công lần
đầu tiên. Hirschprung (1876) đã báo cáo một loạt các trường hợp được tháo lồng
thành công bằng cách thụt nước vào đại tràng và tỷ lệ tử vong đã được hạ xuống rất
đáng kể (35%) [37], [86].
Roentgen (1895) phát minh ra tia X đã đưa y học bước sang một thời kỳ mới.
Năm 1913, Ladd đã sử dụng phương pháp chụp đại tràng có bơm thuốc cản quang
như là một phương tiện để chẩn đoán. Pouliquen ở Pháp (1927) đã báo cáo dùng
1.2.1. Tỷ lệ mắc bệnh
Tổng kết của tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) về viễn cảnh toàn cầu của
bệnh lồng ruột cấp (2002) đánh giá: Lồng ruột cấp là nguyên nhân thường gặp gây
tắc ruột cấp ở trẻ nhũ nhi. Ở các nước phát triển bệnh có tỷ lệ là 0,5 - 4,3 trường
hợp/ 1000 trẻ sinh sống hoặc 0,66 - 1,2 trường hợp/1000 trẻ < 1 tuổi [67], [88]. Ở
các nước đang phát triển tỷ lệ rất khác nhau. Các nghiên cứu dịch tễ học ở Anh cho
thấy tỷ lệ lồng ruột cấp vào khoảng 1,57 - 4/1000 trẻ mới sinh còn sống; Nhật Bản
năm 2006 - 2007 có 1039 bệnh nhân bị lồng ruột cấp nhập viện trong 91 bệnh viện.
Ở Việt Nam, từ năm 1975 - 1995 có 472 - 722 trường hợp lồng ruột cấp/ năm ở trẻ
dưới 12 tháng nhập viện ở Hà Nội - Huế - thành phố Hồ Chí Minh, chiếm 5,8 % số
trẻ nhập viện [6], [16], [39], [42],[50].
1.2.2. Tuổi
Lồng ruột cấp có thể gặp ở bất kỳ tuổi nào, song thường gặp nhất ở trẻ dưới
24 tháng tuổi tỷ lệ 80 - 90%, trong đó tập trung ở lứa tuổi 4 - 9 tháng chiếm 75%.
Tại Việt Nam, Nguyễn Lung [13] gặp 75,9 % ở lứa tuổi 4 - 8 tháng; Phan Thu Hiền
[7] gặp 76,3% bệnh nhân dưới 12 tháng. Trong nghiên cứu phối hợp giữa Viện Nhi
5
Trung ương (Việt Nam) và Bệnh viện Nhi Hoàng Gia (Úc) [27] cho thấy: Tuổi trung
bình bị lồng ruột cấp của Việt Nam là 9,3 tháng, của Úc là 8,4 tháng. Một nghiên
cứu của Nhật Bản là 11 tháng [67].
1.2.3. Giới tính
Theo TCYTTG tất cả các báo cáo trên thế giới về lồng ruột cấp đều ghi nhận
trẻ trai mắc bệnh nhiều hơn trẻ gái, tỷ lệ nam/nữ khoảng 2/1 - 3/1 [88] . Tỷ lệ bệnh
nhân nam theo một số tác giả: Flischer. K.T [44] 61%, Ngô Đình Mạc [14] 79%.
Nghiên cứu của Yang.SG [91] tỷ lệ nam/nữ của Hàn Quốc là 2,06/1; Tỷ lệ của Nhật
Bản là 1,54 [67]. Sự hơn hẳn về số lượng mắc bệnh của trẻ trai đã được ghi nhận
qua tất cả các nghiên cứu lồng ruột cấp trên thế giới, do đó TCYTTG đã chấp nhận
+ Lồng ruột còn do polyp ruột hoặc u ác tính, u máu và nhân tụy lạc chỗ gây
nên. Những bệnh lý khác như ruột đôi, dây chằng góc hồi manh tràng cũng có thể là
nguyên nhân gây lồng ruột.
- Lồng ruột nguyên phát: Lồng ruột cấp không có nguyên nhân rõ ràng chiếm
tỷ lệ cao từ 75 - 90% và có các giả thuyết về yếu tố thuận lợi của lồng ruột tự phát
[10], [20], [86], [90].
+ Yếu tố thần kinh, thể dịch: Một số tác giả cho rằng những xáo trộn chức
năng hệ thần kinh thực vật ở các cơ quan có thể gây rối loạn nhu động bình thường
của ruột dẫn tới lồng ruột.
Một số nghiên cứu tìm cách chứng minh thuyết thần kinh thực vật trên thực
nghiệm lâm sàng. Reilly khi nghiên cứu tác dụng của Chloramphenicol với vi khuẩn
thương hàn và phó thương hàn, bằng cách tiêm salmonella vào bạch huyết của con
vật thí nghiệm đã làm cho 50% trường hợp bị lồng ruột. Laborit cho rằng lồng ruột
ở trẻ em còn bú là do tăng tiết Acetylcholin [20], [37].
Theo Wyllie Robert [90], trẻ bú mẹ thường bị lồng ruột vì hoạt động của dây
thần kinh X trội lên gây tăng nhu động ruột dẫn tới lồng ruột.
+ Yếu tố nhiễm trùng
Những công trình nghiên cứu gần đây cho rằng virus gây viêm hạch mạc treo
làm rối loạn phản xạ thần kinh thực vật và gây nên lồng ruột. Ngoài ra, một số tác
giả khác nhận thấy viêm hạch của mạc treo có vai trò trong cơ chế lồng ruột. Ở trẻ
còn bú, van Bauhin nhô vào trong lòng đại tràng, các nang bạch huyết (mảng payer)
rất phong phú, nhất là ở con trai. Mật độ các nang bạch huyết giảm dần về hướng
ruột non. Khi các mảng Payer viêm và sưng nề sẽ trở thành điểm bắt đầu của lồng
7
ruột vì nó cản trở nhu động của ruột non đang tăng lên do hạch mạc treo bị viêm
[4], [10], [25].
William H [86] cho rằng nhiễm trùng tai mũi họng, viêm đường hô hấp trên,
thấm thành mạch, do nôn. Vì vậy gây nên rối loạn tại chỗ và toàn thân [10], [11],
[20], [23], [76].
- Rối loạn tại chỗ
+ Cản trở lưu thông của ống tiêu hoá:
Khối lồng làm tắc ruột, lúc đầu tắc ít, còn lưu thông một phần, sau tắc hoàn toàn
gây ứ đọng hơi và dịch trong lòng ruột phía trên chỗ tắc.
Giai đoạn đầu: do cơ chế thần kinh, nhu động tăng đưa khối lồng vào sâu
đồng thời gây nên sóng nhu động bất thường tạo nên cơn đau bụng dữ dội, từng đợt.
Giai đoạn sau nhu động ruột giảm, ruột giãn nhiều do ứ đọng, bệnh nhân nôn
nhiều. Sự ứ đọng hơi và dịch do lưu thông ngừng trệ gây kích thích đám rối
Aurebach làm tăng tiết dịch tiêu hoá, hậu quả làm mất nhiều dịch, điện giải.
Trên chỗ tắc, vi khuẩn lên men thối tăng sinh và hoạt động thoát vào ổ bụng, hấp
thụ vào máu gây nên tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân.
+ Cản trở tuần hoàn của đoạn ruột lồng
Khi bị lồng ruột, mạc treo đoạn ruột bị lồng bị ép giữa các lớp của khối lồng, các
tĩnh mạch mạc treo ứ máu, quai ruột lồng bị phù nề làm các tĩnh mạch bị chèn ép
thêm. Tĩnh mạch ứ máu gây thoát quản vào lòng ruột kết hợp với niêm mạc ruột
tăng tiết chất nhầy gây nên hiện tượng ỉa nhầy máu.
Lúc đầu áp lực động mạch còn cao, thắng được áp lực tĩnh mạch nên ruột vẫn còn
được nuôi dưỡng, về sau áp lực tĩnh mạch ngày càng tăng lên, ruột bị chèn ép ngày
càng nhiều, không còn chênh lệch áp lực giữa động mạch và tĩnh mạch nữa. Các
tiểu động mạch thiếu oxy nuôi dưỡng nên khối lồng bị hoại tử. Thông thường, lớp
giữa khối lồng hoại tử trước, sau đó đến lớp ruột trong, lớp ruột ngoài ít bị hoại tử.
- Rối loạn toàn thân
Diễn biến tùy theo thời gian mắc bệnh. Lúc đầu chưa có biểu hiện toàn thân, về
sau có những biểu hiện sau:
+ Mất nước:
Do bệnh nhi nôn nhiều, dịch tiêu hoá ứ đọng trên chỗ tắc, tăng tiết dịch tiêu
hoá, giảm tái hấp thu, thấm dịch vào ổ phúc mạc.
Vỏ lồng
Khối lồng
của đoạn ruột dưới, bị thắt nghẹt lại ở cổ khối lồng. Do tĩnh mạch bị chèn ép nên
máu không lưu thông đượcDưới
làm xuất hiện phù nề, hậu quả các mạch máu càng bị
chèn ép nặng hơn. Niêm mạc của đoạn ruột bị lồng nhanh chóng bị thương tổn và
Cắt dọc khối lồng
Cắt ngang khối lồng
xuất hiện chảy máu. Nếu không được điều trị kịp thời, khối lồng sẽ bị hoại tử (2,5%
hoại tử trước 48 giờ và 82% sau 72 giờ) [20], [76].
Hình 1.2. Lồng ruột đại thể
treo ruột
Hình 1.3. Mạc treo thắt nghẹt trongMạclồng
thắt nghẹt
((Nguồn: Galiffer. RB (2005), www.med-univ-montp.fr/.../MIB [97])
10
Các thương tổn giải phẫu của khối lồng thay đổi phụ thuộc vào thời gian bị
bệnh, kiểu lồng, mức độ lồng chặt hay lỏng. Nếu bệnh nhân tới viện sớm, cổ khối
lồng rộng, thương tổn nhẹ hơn và ngược lại, nếu bệnh nhân tới viện muộn cổ khối
lồng chặt thì thương tổn nặng hơn [4], [5], [10].
Trước 24 giờ: khi mổ tháo lồng thường thấy ổ phúc mạc có ít dịch trong, ruột
phù nề do bị cản trở tuần hoàn là chủ yếu.
Trong khoảng 24 - 48 giờ: đoạn ruột bên trên khối lồng bị ứ hơi và dịch nên
manh tràng và tiếp sau đó của đại tràng cuốn vào, đẩy khối lồng đi xuống dưới,
cuốn theo ruột thừa, nằm chen giữa ống vỏ trong và ống vỏ giữa. Ống vỏ trong là
ruột non, đường kính nhỏ, ống vỏ ngoài là manh tràng, đường kính to hơn gấp 2 - 3
lần, con chêm mạc treo mỏng, ít bị phù nề, nên khối lồng không bị chèn ép chặt, di
chuyển rất xa đến đại tràng ngang, qua cả góc lách đại tràng, thậm chí qua cả hậu
môn (nếu manh tràng chưa cố định hay đại tràng hoàn toàn di động trong dị dạng
"mạc treo chung"). Cơ chế lồng này giải thích tại sao khối lồng dài, nhưng lại
"lỏng" dễ tháo, nếu bệnh nhi đến không quá muộn [20], [76], [96].
+ Lồng manh - đại tràng: thường do ruột đôi hay góc hồi manh tràng dạng u.
Khởi điểm lồng là một múi của manh tràng.
+ Lồng hồi - hồi tràng đơn thuần rất ít gặp trừ khi có nguyên nhân thực thể
Đầu
Van
Bauhin
Van
Bauhin
Cổ khối lồng lỏng.
MT hình ngón tay
đi găng
+/- ruột thừa
Cổ lồng
thắt nghẹt
Hình 1.4. Lồng hồi - đại tràng
(Ruột thừa và van Bauhin ở lại vị
trí cũ (lồng xuyên van))
- hồi - đại tràng.
Theo Buettcher. M [28], tỷ lệ thường gặp của các loại lồng như sau: lồng hồi manh tràng chiếm 83%, lồng hồi - hồi tràng chiếm 16%, lồng đại - đại tràng chiếm 0,5%.
1.5. LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH LỒNG RUỘT CẤP
1.5.1. Triệu chứng lâm sàng
- Đau bụng: đau đột ngột, dữ dội, không có dấu hiệu báo trước. Trẻ khóc
thét, ưỡn người từng cơn, chân giãy đạp, mặt tím tái. Mỗi cơn kéo dài 5 - 10 phút,
13
sau cơn đau trẻ mệt ngủ thiếp đi. Khi thức dậy trẻ có thể bú được một ít rồi lại lên
cơn đau tiếp theo, khoảng cách giữa các cơn khoảng 15 - 30 phút. Đau là triệu
chứng điển hình thấy ở hầu hết tất cả bệnh nhi [4], [5], [10], [20].
- Nôn: thường xuất hiện sau cơn đau đầu tiên, chất nôn là sữa hoặc thức ăn
vừa ăn vào. Nếu lồng ruột đến muộn bệnh nhân có thể nôn ra dịch mật, có thể có
nôn ra phân. Nôn nhiều ở thể lồng hồi - hồi tràng [4], [5], [10], [20].
- Ỉa máu: là một dấu hiệu ít nhiều đã muộn. Vì vậy không nên chờ đợi để
xác nhận chẩn đoán. Ỉa máu xuất hiện ở 95% trẻ còn bú. Ỉa máu có thể xuất hiện rất
sớm sau cơn đau đầu tiên (thường do lồng chặt khó tháo) hoặc muộn sau 24 giờ.
Đa số các trường hợp máu trộn lẫn với chất nhầy, máu có thể đỏ hoặc nâu và
có khi có các cục máu đông. Trong nhiều trường hợp máu chỉ được phát hiện khi
thăm trực tràng. Thông thường, sau những cơn đau đầu tiên chưa biểu hiện ỉa máu,
sau 5 - 6 giờ trẻ ỉa ra máu hơi thẫm kèm theo phân nhầy hồng, đôi khi ỉa ra máu
tươi. Trẻ đến muộn chỉ ỉa ra máu không có phân [23], [49], [50].
Trong đa số trường hợp lồng ruột, sau khi bệnh nhân đã tống hết phân ở
trong ruột phía dưới chỗ lồng ra ngoài, hơi và các chất chứa đựng ở phía trên không
thể xuống dưới nữa vì ruột đã bị tắc hoàn toàn. Tuy nhiên, đôi khi ruột có thể không
tắc hoàn toàn nên bệnh nhân vẫn tiếp tục đi đại tiện. Đây là một tình huống dễ làm
cho chẩn đoán nhầm lẫn, nhất là có đến 7% số bệnh nhân bị ỉa chảy sau khi lồng
hiệp hội Brighton (Brighton Collaboration) đề xuất [24] và đã được Trung tâm
Kiểm soát và Dự phòng bệnh Mỹ (CDC: US Centers for Disease control and
Prevention), Tổ chức y tế thế giới (WHO: World Health Organization) sử dụng để
chẩn đoán lồng ruột cấp ở trẻ em [24], [27].
1.5.2. Cận lâm sàng của lồng ruột cấp
1.5.2.1. Chụp phim bụng không chuẩn bị
Chụp bụng đứng ít có giá trị chẩn đoán tuy nhiên có thể thấy có một số dấu
hiệu gợi ý [6], [10], [20], [58]:
+ Một vùng cản quang dưới gan hoặc thượng vị tương đương vị trí khối lồng.
+ Không có hơi ở hố chậu phải do manh tràng đã di chuyển.
+ Có biểu hiện của tắc ruột: một vài mức hơi nước ở bên phải trong giai đoạn
sớm hoặc hình ảnh tắc ruột điển hình khi bệnh nhân đến muộn.
+ Trường hợp có liềm hơi chứng tỏ khối lồng đã bị hoại tử, thủng do đó
chống chỉ định tháo lồng bằng hơi hoặc thụt baryt vào đại tràng.
15
1.5.2.2. Chụp đại tràng có cản quang.
- Chống chỉ định:
+ Có các dấu hiệu của viêm phúc mạc như phản ứng thành bụng, co cứng
thành bụng hoặc cảm ứng phúc mạc [4], [5].
+ Ỉa máu ào ạt
+ Có liềm hơi trên phim chụp bụng không chuẩn bị.
Hội chứng tắc ruột không phải là một chống chỉ định tuyệt đối. Nếu bệnh
nhân có biểu hiện mất nước, có thể tiến hành truyền dịch và đặt sonde dạ dày trước
khi chụp [10], [20].
- Hình ảnh đặc hiệu của lồng ruột: hình càng cua, đáy chén hay âm thoa.
Lồng ruột kép hình ảnh thường thấy nhất là hình nhiều vòng tròn liên tiếp nhau.
Theo Nguyễn Tòng [20], lồng hồi - hồi tràng, thuốc cản quang thường không tới
ngày càng được hiểu rõ hơn. Tất cả những điều này đã góp phần làm cho khám
nghiệm siêu âm ngày càng được áp dụng rộng rãi trong lâm sàng để khảo sát ống
tiêu hoá [8], [15], [53].
- Hình ảnh khảo sát ruột non bình thường: Thường khảo sát quai ruột tối
thiểu trên hai mặt cắt dọc trục và mặt cắt ngang trục để đánh giá khẩu kính ruột, bề
dày thành ruột, chất chứa trong lòng ruột. Tuỳ theo chất chứa bên trong lòng ruột
mà có thể gặp 3 mẫu hình ảnh siêu âm của ống ruột:
+ Mẫu nhầy: Trên mặt cắt ngang cấu trúc ống của ruột cho hình xoan, thành
ruột áp sát vào nhau tạo hình ảnh giảm hồi âm thường là nhăn nhúm. Trên mặt cắt
dọc cho hình ảnh cấu trúc ống với hai dải giảm hồi âm của thành trước và thành sau
17
áp sát vào nhau. Khi sử dụng đầu dò tần số cao, có thể cho thấy cấu trúc lớp của
thành ruột, lòng ruột có thể được nhận ra như lớp dịch mỏng giảm hồi âm hoặc
không có hồi âm len giữa thành trước và thành sau.
+ Mẫu hơi: Được gặp khi lòng ruột chứa đầy hơi, tạo nên ở phía sau một dải
bóng lưng do hiện tượng dội lại.
+ Mẫu dịch: Khi lòng ruột chứa đầy dịch thì rất dễ dàng cho khảo sát thành
ruột, đặc biệt trên mặt cắt dọc sẽ cho thấy các van đồng quy.
Dù thể hiện dưới các mẫu hình ảnh khác nhau, khẩu kính của ống ruột bình
thường không vượt quá 3cm, thành ruột với đặc tính cấu trúc lớp có bề dày không
quá 3mm, sự nhu động ruột được ghi nhận ở mức độ vừa phải và là chuyển động
một chiều.
- Hình ảnh siêu âm của lồng ruột: Siêu âm chẩn đoán lồng ruột được áp
dụng trong những năm gần đây, dù lâm sàng điển hình hay không điển hình đều có
thể áp dụng được, không có chống chỉ định.
+ Phương tiện: sử dụng máy siêu âm với đầu dò tần số cao từ 7,5 - 10MHz
để khảo sát các cấu trúc nông với ưu điểm tạo ra độ ly giải cao. Việc kết hợp kỹ
đoán và theo dõi tiến triển của lồng ruột cơ năng cũng như thực thể.
Ji Hye Kim [46] nêu lên các đặc điểm của lồng ruột tự tháo là: đường kính
khối lồng nhỏ (
treo trong khối lồng).
(Nguồn:
Bristish
*Không có sự di chuyển hoặc thay đổi các hình
ảnh biaPark
đạn NH,
hoặc hình
Journal of Radiology [70] )
mặt cắt ngang và hình giả thận trên mặt cắt dọc.
bánh kẹp khi quan sát.
Với độ nhạy 97,9%, tác giả kết luận: siêu âm không những có giá trị chẩn đoán xác
định mà còn giúp định hướng được phương pháp điều trị thích hợp. Ông gợi ý nên
sử dụng siêu âm ít nhất là trong những trường hợp không điển hình hoặc lồng ruột
đến muộn, đặc biệt đối với các bệnh nhân lồng ruột bán cấp hoặc mãn tính.
+ Shanbhogue và Cs [75] trong 10 năm đã sử dụng siêu âm chẩn đoán lồng
ruột cho 130 trẻ. Siêu âm xác định chẩn đoán ở 128 trẻ, còn lại 2 trẻ lồng ruột
20
không được xác định trên siêu âm. Với độ nhạy của chẩn đoán siêu âm là 98,5% tác
giả khẳng định lợi ích của siêu âm chẩn đoán: nhanh, đơn giản, không can thiệp, có
độ chính xác cao.
Ngoài ra, tác giả nhấn mạnh vai trò của siêu âm trong chẩn đoán loại trừ lồng
ruột, đặc biệt ở trẻ em có cơn đau bụng cấp vì viêm ruột thừa, viêm hạch mạc treo.
+ Verschelden và Cs [84] nghiên cứu 83 trẻ bị lồng ruột, với độ nhạy và độ
đặc hiệu của chẩn đoán là 100%, tác giả nhấn mạnh: hình ảnh đặc thù của siêu âm
phải được tìm kiếm dọc khung đại tràng: 88% nằm ở đại tràng ngang hoặc ở đại
22
Hình 1.12. Lồng ruột chụp cắt lớp vi tính
(Nguồn: William H, Arch. Dis. Child. Ed. Pract [86])
1.6. CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG BỆNH LỒNG RUỘT CẤP
1.6.1. Yếu tố lâm sàng
- Tuổi: Bệnh nhân tuổi càng nhỏ đặc biệt ≤ 4 tháng, tháo lồng bằng hơi khó
khăn, tỷ lệ mổ cao. Theo Kim và cộng sự [52], tỷ lệ tháo lồng bằng hơi thất bại tăng
khi tuổi càng nhỏ. Kết quả nghiên cứu của Newman và Schuch [69] cho thấy lồng
ruột ở trẻ dưới 4 tháng ít gặp nhưng tỷ lệ thất bại tháo lồng không phẫu thuật cao
mặc dầu đã đến sớm.
Khảo sát của Jenning [93] trên 115 bệnh nhân lồng ruột được điều trị bằng
thụt baryt đã ghi nhận tỷ lệ thành công ở trẻ trên 3 tháng là 60%, cao hơn tỷ lệ thành
công ở trẻ dưới 2 tháng tuổi là chỉ 20%. Với tỷ lệ thành công thấp như vậy, tác giả
cho rằng nên đặt lại vấn đề chỉ định tháo lồng ở trẻ dưới 3 tháng tuổi.
Nghiên cứu của Trần Ngọc Bích [1] nhận xét, 59,4% bệnh nhân mổ tháo
lồng ≤ 4 tháng có thời gian vào viện sớm < 24 giờ , điều này có thể lý giải là liên
quan tới tuổi bệnh nhân nhỏ.
- Thời gian bị lồng ruột: Thời gian trẻ bị lồng ruột quyết định sự thành công
hay thất bại của tháo lồng bằng hơi. Nó tác động đến việc lựa chọn phương pháp
điều trị của người thầy thuốc [1], [3], [10], [23], [24].
23
Trẻ bị lồng ruột sau 24 giờ đặc biệt sau 48 giờ thất bại của tháo lồng bằng
hơi cao, tỷ lệ mổ cắt đoạn ruột tăng.
Nghiên cứu của Kaiser [51], thời gian lồng ruột kéo dài > 24 giờ tỷ lệ thành
- Tiên lượng dựa vào đường kính khối lồng: Theo Shanbhogue và Cs [75],
khi khối lồng càng chặt, sự tắc ruột càng trầm trọng, mạch máu bị chèn ép nhiều, sự
phù nề của thành ruột nhận lồng càng lớn, độ rộng của vòng giảm âm càng lớn, nếu
càng có nhiều lớp của thành ruột thì đường kính khối lồng càng lớn.
- Tiên lượng dựa vào chiều dày vòng giảm âm của khối lồng: Chiều dày
vòng giảm âm biểu hiện sự phù nề của thành ruột. Sự thiếu máu cấp của thành ruột
có nguồn gốc động mạch được đặc trưng bởi sự dày lên của đoạn ruột tương ứng
với vòng giảm Echo quan sát trên siêu âm. Khi có hoại tử, thiếu máu, thành ruột cho
hình ảnh siêu âm có bóng hơi trong thành ruột. Thiếu máu có nguồn gốc tĩnh mạch
được đặc trưng bởi sự dày lên mạnh của thành ruột. Sự phù nề, dày lên này tương
ứng trên siêu âm cho vòng giảm Echo rõ. Như vậy, nếu tình trạng khối lồng chặt,
mạch máu ở mạc treo ruột lồng bị chèn ép nhiều thì sự cấp máu cho ruột lồng giảm
hoặc không có, sự phù nề của ruột càng tăng lúc này trên siêu âm biểu hiện độ dày
vòng giảm âm lớn. Tuy nhiên khi nghiên cứu mối liên quan giữa chiều dày thành
ruột lồng và kết quả tháo lồng, giá trị tiên lượng của nó còn đang được các tác giả
bàn cãi:
Verscheldem [84] nghiên cứu trên 83 trẻ bị lồng ruột có chiều dày vòng giảm
âm từ 5-16 mm (trung bình 10 mm) không thấy có sự liên quan giữa chiều dày
thành ruột nhận lồng và sự cần thiết phải can thiệp phẫu thuật.
Pracos và cs [71] khi nghiên cứu 241 bệnh nhân lồng ruột đã kết luận : khi
chiều dày vòng giảm âm từ 8-10mm thì việc tháo lồng bằng áp lực thuỷ tĩnh khó
khăn hoặc không thể tháo được.
Lee [59] với 48 bệnh nhân lồng ruột, tác giả ghi nhận chiều dày vòng giảm
âm đo được lớn hơn hoặc bằng 5 mm. Trong đó:
+ Chiều dày thành ruột trên 16 mm có 13/13 bệnh nhân phải mổ (100%).
+ Chiều dày thành ruột từ 5 - 16 mm có 15/35 bệnh nhân phải mổ (42,8). Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p