BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ YẾU TỐ
NGUY CƠ CỦA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO
ROTAVIRUS Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA
NHIỄM BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ
NĂM 2015 – 2016
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
CẦN THƠ – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ YẾU TỐ
NGUY CƠ CỦA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO
Cần Thơ, ngày 31 tháng 05 năm 2016
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Văn Tuấn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là do tôi thực hiện cùng với sự
hướng dẫn của Thạc sĩ - Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Cúc, số liệu và kết quả thu được là
hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được từng công bố. Nếu những thông tin
trên có gì sai sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Văn Tuấn
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh sách các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1. Tiêu chảy cấp ở trẻ em.............................................................................. 6
1.2. Tiêu chảy cấp do Rotavirus ...................................................................... 7
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 18
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 18
C-reactive protein
ELISA
Enzyme-Linked Immunosortbent Assay
fl
femtolit (1 fl = 10-15 lít)
Hb
Hemoglobin
Hct
Hematocrit
KTC 95%
Khoảng tin cậy 95%
MCH
Mean Corpuscular Hemoglobin
MCV
Mean Corpuscular Volume
Bảng 2.1 Chẩn đoán mức độ thiếu máu ở trẻ em dựa vào Hb ............................... 23
Bảng 2.2 Chẩn đoán mức độ thiếu máu ở trẻ em dựa vào Hct .............................. 23
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu ..................................................... 30
Bảng 3.2 Tỷ lệ bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ................................................... 31
Bảng 3.3 Giới tính và nhóm tuổi của trẻ ................................................................ 31
Bảng 3.4 Nơi sống và tình trạng dinh dưỡng của trẻ ............................................. 32
Bảng 3.5 Sốt và số ngày sốt của trẻ ....................................................................... 32
Bảng 3.6 Tính chất phân ........................................................................................ 33
Bảng 3.7 Số lần, số ngày tiêu phân lỏng và tình trạng mất nước........................... 33
Bảng 3.8 Các triệu chứng khác .............................................................................. 34
Bảng 3.9 Kết quả xét nghiệm bạch cầu, CRP trong máu ....................................... 34
Bảng 3.10 Kết quả xét nghiệm Hct, Hb, MVC, MCH ........................................... 35
Bảng 3.11 Kết quả xét nghiệm ion đồ .................................................................... 35
Bảng 3.12 Mối liên quan về giới tính, nhóm tuổi, nơi sống với bệnh TCC .......... 36
Bảng 3.13 Mối liên quan về tuổi, trình độ học vấn, nghề mẹ với bệnh TCC ........ 37
Bảng 3.14 Mối liên quan về tình trạng dinh dưỡng của trẻ với bệnh TCC ........... 38
Bảng 3.15 Mối liên quan của bú sữa, cai sữa mẹ với bệnh TCC ........................... 38
Bảng 3.16 Mối liên quan về vệ sinh đầu vú, vệ sinh bình sữa với bệnh TCC ....... 39
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa ăn dặm của trẻ với bệnh TCC ............................... 40
Bảng 3.18 Mối liên quan về nước uống, nước nấu ăn với bệnh TCC ................... 40
Bảng 3.19 Mối liên quan của vấn đề rửa tay với bệnh TCC .................................. 41
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa cách xử lý phân, rác với bệnh TCC....................... 42
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tiếp xúc người bị tiêu chảy với bệnh TCC ............ 43
Bảng 3.22 Kết quả điều trị chung........................................................................... 43
Bảng 3.23 Số ngày điều trị bệnh kèm theo ............................................................ 44
Bảng 3.24 Theo dõi sốt của trẻ............................................................................... 44
Bảng 3.25 Theo dõi đánh giá mất nước, nôn ói, tiêu chảy .................................... 45
Bảng 3.26 Tổng số ngày sốt, nôn ói, tiêu chảy từ khởi phát đến lúc xuất viện ..... 45
Tiêu chảy cấp có nhiều nguyên nhân nhưng Rotavirus là tác nhân quan trọng
gây tiêu chảy nặng và đe dọa tính mạng ở trẻ em < 5 tuổi trên toàn thế giới. Ước
tính có 527.000 trẻ em < 5 tuổi trên thế giới tử vong do Rotavirus vào năm 2004.
Tần suất mắc tiêu chảy cấp do Rotavirus từ 25-47% ở trẻ em < 5 tuổi nhập viện vì
tiêu chảy cấp [35]. Năm 2009, kết quả giám sát bệnh tiêu chảy cấp do vi rút Rota tại
3 bệnh viện của Việt Nam cho tỷ lệ nhiễm vi rút này là từ 59,57-68,43% [15]. Theo
ghi nhận 1/3 số trẻ em < 2 tuổi ít nhất bị 1 đợt tiêu chảy do Rotavirus [3].
Theo báo cáo tổng kết của Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ, tổng số trường hợp
tiêu chảy tại khoa Nhiễm năm 2009 là 2.504 ca, 2010 là 3.520 ca, 2011 là 3.768 ca
2
[2]. Từ những số liệu trên cho thấy tình hình tiêu chảy ở trẻ em ngày càng gia tăng
và Rotavirus vẫn là tác nhân hàng đầu. Để tìm hiểu thêm về đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng, các yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị nhằm góp phần cho việc
chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tiêu chảy do Rotavirus, Chính vì thế em
quyết định tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng, kết quả điều trị và yếu tố nguy cơ của bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ở trẻ
em dưới 5 tuổi tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2015-2016”
với những mục tiêu nghiên cứu:
1. Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh tiêu chảy cấp do
Rotavirus ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng Cần
Thơ năm 2015-2016.
2. Xác định một số yếu tố nguy cơ của bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus
ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm
2015-2016.
3. Đánh giá kết quả điều trị của bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ở trẻ em
dưới 5 tuổi tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2015-2016.
- Không nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu: Sữa mẹ là thức ăn thích hợp
nhất đối với trẻ em, nhất trong 6 tháng đầu. Sữa mẹ có đủ các acid amin cần thiết và
4
chứa những protein phân tử lượng nhỏ nên dễ hấp thu và tiêu hóa. Sữa mẹ có nhiều
IgA giúp ngăn cản sự xâm nhập, phát triển và gây bệnh của vi khuẩn đường ruột.
Sữa mẹ còn chứa nhiều bạch cầu đa nhân trung tính và lympho bào có tác dụng diệt
khuẩn và giúp cơ thể bé sản xuất kháng thể. Trong khi cơ thể bé còn yếu chưa thể tự
sản xuất kháng thể bảo vệ nếu nuôi trẻ bằng thức ăn khác (sữa bò, nước cháo, bột
khuấy) trẻ rất dễ bị rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy.
- Tập quán cai sữa trước một tuổi: chính từ những lợi ích của sữa mẹ nên cho
trẻ bú sữa mẹ kéo dài làm giảm chỉ số mắc bệnh và sự trầm trọng của một số loại
bệnh như tiêu chảy, lỵ trực trùng và tả.
- Cho trẻ bú bình: việc cho trẻ bú bình làm cho trẻ có nguy cơ bị tiêu chảy do
bình sữa dễ bị ô nhiễm bởi các vi khuẩn đường ruột. Việc khó đánh rửa, cho sữa
vào bình không sạch sẽ dẫn đến ô nhiễm, nếu trẻ không ăn hết sữa ngay vi khuẩn
phát triển gây tiêu chảy.
- Thức ăn, nguồn nước không đảm bảo vệ sinh: Thức ăn bị ô nhiễm trước và
sau khi chế biến. Nước uống không sạch (không đun sôi hoặc để lâu) hoặc nguồn
nước sinh hoạt bị ô nhiễm.
- Không xử lí phân (đặc biệt là phân trẻ em) một cách hợp vệ sinh. Phân trẻ
nhỏ bị tiêu chảy, phân súc vật cũng chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh cho người [24],
[29].
Các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy:
- Tuổi: trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi hay bị mắc tiêu chảy do trẻ mới tập ăn dặm,
giảm kháng thể thụ động, kháng thể chủ động chưa hoàn thiện. Nguy cơ tiếp xúc
mầm bệnh tăng lên khi trẻ biết bò và tăng hoạt động cá nhân.
- Suy dinh dưỡng: Trẻ em suy dinh dưỡng thì bệnh tiêu chảy kéo dài và nặng
thường gây tiêu chảy nặng và kéo dài ở trẻ suy dinh dưỡng hoặc suy giảm miễn
dịch).
- Ngoài ra còn do những nguyên nhân khác như do dùng kháng sinh kéo dài, dị
ứng thức ăn hay không dung nạp thức ăn đặc biệt là sữa…[3], [17], [18].
1.1.4. Bệnh sinh của tiêu chảy
1.1.4.1. Sinh lí trao đổi nước bình thường của ruột non
Ở ruột non nước và điện giải đồng thời được hấp thu ở nhung mao ruột và bài
tiết ở các hẽm tuyến tạo nên sự trao đổi hai chiều giữa lòng ruột và máu.
6
Hình 1.1 Quá trình hấp thu bài tiết nước và điện giải [24]
Bình thường 90% dịch được hấp thu ở ruột non do vậy chỉ còn khoảng 1 lít dịch
được đi vào ruột già.
Ở ruột già nước tiếp tục được tái hấp thu. Qua các liên bào chỉ còn khoảng 100 –
200ml nước được bài tiết bình thường ra ngoài theo phân. Khi quá trình trao đổi
nước và điện giải ở ruột non bị rối loạn, dẫn tới lượng nước đi vào đại tràng vượt
quá khả năng hấp thu của đại tràng gây nên triệu chứng tiêu chảy [3].
1.1.4.2. Cơ chế gây tiêu chảy
Cơ chế tiêu chảy có thể phân chia đại cương thành hai loại:
- Tiêu chảy xâm nhập: Các yếu tố gây bệnh xâm nhập vào trong tế bào liên bào
ruột non, ruột già nhân lên trong đó và phá hủy tế bào, làm bong tế bào và gây phản
ứng viêm. Những sản phẩm phá hủy tế bào, viêm bài tiết vào trong lòng ruột gây
nên tiêu chảy.
- Tiêu chảy xuất tiết: Khi bài tiết dịch (muối và nước) vào lòng ruột không bình
thường sẽ gây ra tiêu chảy xuất tiết. Việc này xảy ra khi hấp thu Na+ ở nhung mao
ruột bị rối loạn trong khi xuất tiết Cl- ở vùng hẽm tuyến vẫn tiếp tục hay tăng lên.
Tăng sự bài tiết Cl- ở tế bào hẽm tuyến vào trong lòng ruột làm tăng tính thấm của
1.2.1.2. Phân nhóm
Rotavirus được chia làm 7 nhóm, đặt tên từ A đến G, trong đó chỉ 3 nhóm gây
bệnh cho người là A, B, C [6], [8].
-
Nhóm A: chiếm hơn 90% số ca nhiễm Rotavirus, chủ yếu gây bệnh tiêu chảy
ở trẻ em và người già [33].
-
Nhóm B: gây ra 2 vụ dịch lớn ở LanZhou (Trung Quốc) năm 1982 và 1983
với hơn 12000 người mắc bệnh. Ở Ấn Độ cũng ghi nhận các trường hợp
nhiễm Rotavirus nhóm B. Các nước khác chưa ghi nhận [37].
-
Nhóm C: thỉnh thoảng tìm thấy gây bệnh cho người và lợn.
-
Nhóm D, E, F, G: chỉ phát hiện gây bệnh cho loài vật.
1.2.1.3. Sức đề kháng
Rotavirus có sức đề kháng cao ở nhiệt độ thường, có thể tồn tại nhiều ngày. Ở
nhiệt độ từ 4oC đến 20oC, Rotavirus vẫn giữ được tính gây bệnh trong nhiều tháng,
có khả năng tồn tại lâu trong buồng bệnh nhân nên tỷ lệ nhiễm chéo trong bệnh viện
rất cao.
Virus bất hoạt nhanh chóng khi bị xử lý bằng EDTA (Ethylene Diamino Tetra
Acetic acid) và một số chất tẩy uế khác. Virus có khả năng đề kháng với Clor. Các
định là nguyên nhân chính gây tiêu chảy ở trẻ em. Tại Viện Nhi tỷ lệ trẻ em tiêu
chảy cấp do nhiễm Rotavirus là 63,5% trong đó chủ yếu là trẻ
trẻ nhỏ. Bệnh kéo dài trung bình từ 5 đến 7 ngày và thường tự giới hạn nếu không
có biến chứng .
Bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus có thể gây mất nước đẳng trương và toan huyết
biến dưỡng. Mức độ mất nước nặng, đến 20% trọng lượng cơ thể, có thể đưa đến tử
vong.
Tính chất phân: phân lỏng toàn nước, không nhầy máu, có tính acid, chứa một
lượng lớn carbohydrate và nhiều hạt dưỡng mỡ vì ruột hấp thu kém, không có hồng
cầu, bạch cầu hoặc có rất ít. Virus được thải ra theo phân với nồng độ tối đa ngay
sau khi triệu chứng bệnh bắt đầu xuất hiện và giảm dần cho đến ngày thứ 9-10.
Triệu chứng nôn ói là dấu hiệu đặc trưng và thường gặp của tiêu chảy do
Rotavirus. Tác giả Phạm Thị Chinh ghi nhận tỉ lệ trẻ bị tiêu chảy cấp do Rotavirus
có nôn ói là 63.1%, Nguyễn Gia Khánh cũng ghi nhận tỉ lệ này là 75%.
Triệu chứng ở đường hô hấp trên (hắc hơi, sổ mũi) cũng được ghi nhận ở một số
trường hợp nhưng không tìm thấy Rotavirus ở đường hô hấp trên. Ngoài ra còn có
thể có đau bụng hoặc co giật [11], [18], [20].
1.2.2.4. Biến chứng
- Tiêu chảy mãn thứ phát do thiếu men disaccharidase.
- Mất nước.
- Viêm não.
- Xuất huyết tiêu hóa.
- Lồng ruột.
- Hội chứng Reyes [6], [19], [32].
1.2.2.5. Cận lâm sàng
- Công thức máu cho trẻ:
+ Tỷ lệ thể tích huyết cầu tăng trong trường hợp có cô đặc máu.
+ Số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi thường không thay đổi, chỉ tăng
trong trường hợp có nhiễm khuẩn phối hợp.
- Phân loại hồng cầu theo MCV:
+ Hồng cầu đẳng bào khi MCV từ 80 - 95 fl.
14
+ Thiếu K+ do mất nhiều K+ trong phân.
+ Khi cơ thể trong tình trạng nhiễm toan, calci được giải phóng khỏi
protein huyết thanh và làm tăng Ca2+ máu (calci ion), khi nhiễm kiềm calci gắn với
protein huyết thanh và làm giảm Ca2+ máu [1].
1.2.2.6. Điều trị
Việc điều trị bệnh chủ yếu và quan trọng nhất là bù nước, bù điện giải, bằng
đường uống tốt nhất là nước oresol và chế độ dinh dưỡng thích hợp. Do trẻ vừa bị
tiêu chảy vừa nôn ói nhiều lần trong ngày nên bù dịch bằng đường uống thường gặp
khó khăn. Trong những trường hợp này, trẻ phải nhập viện để truyền dịch bằng tĩnh
mạch [17].
Đối với trẻ bị bệnh nhẹ, có thể chăm sóc tại nhà theo sự hướng dẫn của thầy
thuốc. Lưu ý những điểm sau đây:
- Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường. Có thể dùng nước đun sôi để
nguội, nước canh rau, nước khoáng (không có gas), nước dừa tươi hoặc cho trẻ
uống nước ORESOL theo chỉ dẫn của thầy thuốc [17], [18].
- Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng như bình thường, phù hợp theo lứa tuổi
của trẻ. Nên chia nhỏ bữa ăn làm nhiều lần, đút chậm bằng muỗng vì trẻ dễ bị nôn.
Nếu trẻ nôn, cho trẻ nghỉ một chút rồi đút lại, chậm rãi hơn.
- Theo dõi số lần đi đại tiện, số lượng phân, màu phân, khả năng uống bù
nước và ăn uống của trẻ [5].
- Theo dõi phát hiện các dấu hiệu mất nước để kịp thời đưa trẻ nhập viện:
Môi lưỡi khô, mắt trũng, da khô nhăn nheo, nếp véo da mất chậm, trẻ khát, uống
háo hức, li bì, lờ đờ,…
- Kháng sinh không có tác dụng đối với bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus.
Do vậy không dùng kháng sinh, vì bệnh không khỏi mà trẻ có nguy cơ bị rối loạn vi
khuẩn đường tiêu hóa, làm bệnh nặng hơn hoặc gây tình trạng tiêu chảy kéo dài,
chưa kể các tác dụng phụ do thuốc gây ra.
huyết thanh chuột lang kháng Rotavirus. Thử nghiệm này tương đối tốn kém có thể
cho dương giả do có sự kết hợp kháng thể không đặc hiệu với virus đường ruột hoặc
với các sản phẩm khác [6].
Kỹ thuật miễn dịch phóng xạ: là kỹ thuật có độ nhạy cao nhưng trang bị tốn kém
nên ít sử dụng [41].
16
Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang: có độ nhạy thấp hơn kỹ thuật miễn dịch phóng
xạ và đòi hỏi phải trang bị kính hiển vi huỳnh quang [6], [18], [41].
Kỹ thuật li trích và điện di RNA: kỹ thuật này li trích mảnh kép RNA từ nhân
Rotavirus sau đó đem đi điện di và đọc kết quả. Kỹ thuật này có thể thay thế kỹ
thuật ELISA để phát hiện Rotavirus trong phân [6].
Kỹ thuật ngưng kết hạt Latex: có độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối cao nhưng
không chính xác bằng kỹ thuật li trích điện di RNA [6], [33].
Kỹ thuật sắc ký miễn dịch: màng sắc ký được gắn kháng nguyên nhạy cảm với
huyết thanh đa giá chuột lang đối kháng đặc hiệu với Rotavirus [41].
Kỹ thuật khuếch đại gen RT-PCR: được sử dụng để phát hiện các serotype của
Rotavirus, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao [41].
1.2.4. Một số nghiên cứu về tiêu chảy cấp do Rotavirus
- Một nghiên cứu gần đây tại nhiều bệnh viện ở Ấn Độ của nhóm tác giả T.
Saluja từ tháng 4/2011 đến tháng 7/2012 trên các trẻ em dưới 5 tuổi bị mắc tiêu
chảy cấp ghi nhận các kết quả sau: tỷ lệ nhiễm Rotavirus là 26,4%, tỷ số nam/nữ là
1,7. Phần lớn trẻ tiêu chảy do Rotavirus ở lứa tuổi