BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
KHỔNG THỊ ĐỨC HẬU
CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TÒA ÁN THEO LUẬT TỔ CHỨC
TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
KHỔNG THỊ ĐỨC HẬU
CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TÒA ÁN THEO LUẬT TỔ CHỨC
TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2014
Chuyên ngành: Luật Hành chính – Hiến pháp
Tuy nhiên, do kiến thức bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy cô và
các bạn để Luận văn này được hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2016
Học viên
Khổng Thị Đức Hậu
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ Giảng viên hướng dẫn là GS.TS. Thái Vĩnh Thắng. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực. Những số liệu phục vụ cho
việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn
khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử
dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ
chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo. Tác giả hoàn toàn
chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của Luận văn.
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA
HỌC VIÊN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
GS.TS. Thái Vĩnh Thắng
Khổng Thị Đức Hậu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
7
1.1. Khái niệm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
7
1.2. Quá trình hình thành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án ở
Việt Nam
9
1.2.1. Nguyên tắc TAND được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử 10
1.2.2. Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán; bầu, cử Hội thẩm
18
1.2.3. Nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia,
trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
25
1.2.4. Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc
xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm
28
1.2.5. Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai
32
1.2.6. Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
34
67
2.2. Việc thực hiện các nguyên tắc mới và những bất cập trong thực tiễn
hoạt động của Tòa án hiện nay
73
2.2.1. Về phương diện tổ chức
73
2.2.2. Về phương diện hoạt động
75
2.2.3. Về đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
78
2.3. Phương hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của Tòa án
81
2.3.1. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
81
2.3.2 Về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân
81
2.3.3. Về việc áp dụng các nguyên tắc mới
83
KẾT LUẬN
88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người. Công tác của
TAND cũng có những nét đặc thù so với công tác của cơ quan nhà nước khác,
nên bên cạnh các nguyên tắc chung thì tổ chức và hoạt động Tòa án phải tuân
theo những nguyên tắc riêng thì mới tạo lập được bộ máy thống nhất, hoạt
động rõ ràng, hiệu quả. Luật tổ chức Toà án nhân dân đã cụ thể hóa đầy đủ
các nguyên tắc cơ bản về Tòa án được quy định trong Hiến pháp và bổ sung
thêm những nguyên tắc mới, quan trọng, có tính chất đặc thù trong tổ chức và
hoạt động của Tòa án. Những nguyên tắc này sẽ là nguyên lý, tư tưởng chỉ
đạo xuyên suốt toàn bộ tổ chức và hoạt động của TAND.
Việc nghiên cứu các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án theo
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 góp phần nâng cao nhận thức để áp
dụng đúng đắn, linh hoạt các nguyên tắc này đảm bảo cho Tòa án thực sự là
công cụ bảo vệ công bằng, công lý, các quyền con người, quyền công dân và
chế độ xã hội chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong nhiều giai đoạn lịch sử của Nhà nước ta, Toà án nhân dân đã trải
qua những cuộc cải cách và đổi mới về tổ chức cũng như phương thức hoạt
động để đáp ứng nhiệm vụ ngày càng nặng nề của nền tư pháp, nhất là trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Vấn đề hoàn thiện
tổ chức và hoạt động của TAND ngày càng nhận được sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước và toàn dân. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học, tôi
thấy có không ít các công trình nghiên cứu về vấn đề “tổ chức và hoạt động
của Tòa án nhân dân”, nổi bật là các công trình :
- Luận án tiến sĩ Luật học của Tiến sĩ Lê Thành Dương năm 2002,
“Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay”;
11
phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của Tòa án.
Hy vọng rằng quá trình nghiên cứu đề tài không chỉ mang đến những
kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho bản thân tác giả mà kết quả nghiên cứu
còn mang lại thông tin hữu ích, có cái nhìn tổng quan hơn cho mọi người.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, phạm vi nghiên cứu chủ yếu
của đề tài được xác định là các Hiến pháp và các Luật tổ chức Tòa án nhân
dân ở nước ta, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2014. Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể như sau:
- Quy định của pháp luật qua các thời kỳ về tổ chức và hoạt động của
hệ thống Tòa án Việt Nam; tham khảo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của cơ quan Tòa án ở nước ngoài.
- Thực trạng việc thực hiện các nguyên tắc mới và những bất cập trong
thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tòa án hiện nay.
- Đề ra phương pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Tòa án theo Luật tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
năm 2014.
4. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu làm rõ những câu hỏi sau:
- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án là gì? Nguyên tắc có ý
nghĩa như thế nào trong hoạt động của cơ quan Tòa án?
- Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014, có những nguyên tắc nào mới trong tổ chức và hoạt động của cơ quan
Tòa án?
- Những nguyên tắc nào trong tổ chức và hoạt động của Tòa án ở nước
ngoài có thể áp dụng ở Việt Nam?
13
14
Hy vọng rằng, những kết quả của luận văn sẽ là những đóng góp có
giá trị cho quá trình hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Tòa án và quá trình áp dụng trong thực tiễn, là tài liệu tham khảo
bổ ích cho những người nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập về Luật
tổ chức Tòa án.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục
lục, luận văn được cơ cấu thành hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa
án nhân dân.
Chương 2: Thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án
theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Theo từ điển tiếng Việt “nguyên tắc” là: “Điều cơ bản đã định ra, nhất
thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [29, tr.672]. Nguyên tắc là sản
phẩm của quá trình nhận thức thế giới khách quan, được đúc rút lại thành
những nguyên lý, phản ánh những quy luật khách quan và được coi là “cái
chuẩn” cho một quá trình hoạt động.
Trong khoa học pháp lý, theo nghĩa chung nhất thì nguyên tắc của pháp
luật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cơ bản có tính chất xuất phát điểm,
thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao trùm, quyết định nội dung
- Nguyên tắc bổ nhiệm thẩm phán; bầu, cử hội thẩm (Điều 7);
- Nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có hội thẩm tham gia, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn (Điều 8);
- Nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của
thẩm phán, hội thẩm (Điều 9);
- Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 11);
- Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường
hợp xét xử theo thủ tục rút gọn (Điều 10);
- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 13);
- Nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (Điều 6);
- Nguyên tắc trách nhiệm chứng minh tội phạm và bảo đảm quyền bào
chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
(Điều 14);
- Nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 12);
17
- Nguyên tắc mọi người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và
chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án (Điều 15);
- Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của TAND (Điều 16);
- Nguyên tắc TAND chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước
(Điều 19).
1.2. Quá trình hình thành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án ở
Việt Nam
Nguyên tắc hoạt động của bộ máy Nhà nước là tư tưởng chỉ đạo xuyên
suốt hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tòa án nhân dân thuộc hệ thống cơ
quan tư pháp đã cùng với hệ thống cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp hợp
thành bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, Tòa án
13/SL ngày 24/01/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng
hòa về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán).
Sơ đồ Tổ chức Tòa án nhân dân
(Theo Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946) [32]
Toà thượng thẩm Bắc
Kỳ
Toà thượng thẩm Trung
Kỳ
Toà thượng thẩm Nam
Kỳ
Toà án đệ nhị cấp
(ở các tỉnh)
Toà án sơ cấp
(ở các quận, huyện)
Ban tư pháp
(ở các xã)
Ngày 9-11-1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông
qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta. Tại Chương VI bản Hiến pháp
này quy định về “Cơ quan tư pháp”, theo đó Cơ quan tư pháp của nước Việt
19
Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các
ban có thể vạch đường lối từng thời kỳ nhất định và đặc biệt có thể vạch
đường lối cho một vụ án xét thấy quan trọng. Tuy nhiên Tòa án không nhất
thiết phải theo. Tòa án có thể xử khác nhưng phải nói lý do. Ủy ban có thể
giao Công tố viện kháng cáo lên Tòa án trên”. Điều đó chứng tỏ rằng, tình
hình kháng chiến đã dẫn đến việc buộc phải “can thiệp” vào công tác xét xử
của Tòa án từ cơ quan Chính phủ nhưng cũng chỉ hạn chế ở mức đưa ra
khuyến nghị về đường lối xét xử cho những vụ án quan trọng và Tòa án chỉ
có nghĩa vụ tham khảo mà thôi.
- Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN (1959-1980) [33]
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Uỷ ban Thẩm phán TANDTC
Toà hình sự
Toà dân
TAND khu tự
trị Việt Bắc
TAND khu tự
trị Tây Bắc
TAND tỉnh
trong khu tự trị
TAND tỉnh
trong khu tự trị
TAND thị xã,
Vào tháng 4/1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối
cao và Viện công tố nhân dân trung ương, tách hệ thống Tòa án nhân dân và
21
Viện công tố khỏi Bộ Tư pháp. Quyết định này đánh dấu một giai đoạn phát
triển mới của Tòa án nhân dân và tinh thần Nghị quyết này được ghi nhận vào
Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Về độc lập xét xử, Điều 100 Hiến pháp năm 1959 quy định rằng: “Khi
xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Căn cứ
vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 về tổ chức và hoạt động của Toà
án nhân dân, ngày 14-7-1960, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
khoá II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 tại Điều 4 cũng quy định, khi
xét xử Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Luật
cũng quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu (với nhiệm
kỳ là 5 năm) và bãi miễn; các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm phán dự
khuyết, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Ủy ban
thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban
thường vụ Quốc hội. Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu
(với nhiệm kỳ 4 năm) và bãi miễn. Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa
án nhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu (với nhiệm kỳ 3 năm) và bãi miễn (Các Điều 26, 27 và 28 Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960).
Trong giai đoạn này, Hiến pháp và pháp luật quy định về độc lập xét xử
theo hướng Tòa án độc lập khi xét xử (chứ không phải là sự độc lập của Thẩm
phán như được quy định tại các giai đoạn sau). Chưa có một công trình
tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối
hợp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện
nhiệm vụ đó” (Điều 16). Về quản lý các Tòa án quân sự, thì Pháp lệnh năm
1985 đã giao “Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc quản lý về mặt
tổ chức các Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương và các Tòa án quân
sự khu vực”.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN
23
(Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981, được sửa đổi, bổ sung năm
1988 và Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 1990) [34]
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Hội đồng Thẩm phán TANDTC
Uỷ ban Thẩm phán TANDTC
Toà hình
sự
Toà Dân
sự
Các Toà phúc thẩm tại Hà
Nội, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí
Minh
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương và cấp tương đương
24
- Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2013:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TAND
(Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 1993 và
năm 1995; Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự năm 1993) [35]
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao
Toà
Hình
sự
Toà
Dân
sự
Toà
Hình
sự
Toà
Kinh
tế
Toà
Hành
chính
Dân
sự
Toà
Kinh
tế
Toà
Lao
động
Toà
Hành
chín
TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Bộ
máy
giúp
Bộ máy giúp việc
Tòa án quân sự khu vực
Về độc lập xét xử, Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân năm 1992 vẫn giữ nguyên quy định của Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân năm 1981. Tuy nhiên, trong giai đoạn này có một mốc
quan trọng về độc lập xét xử được quy định tại Hiến pháp năm 1992 được sửa
đổi, bổ sung năm 2001, đó là sự thừa nhận quyền tư pháp trong mối quan hệ
án nhân dân năm 2014 quy định các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập
theo thẩm quyền xét xử để bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án không bị lệ
thuộc hoặc chịu tác động không khách quan đến việc xét xử. Hệ thống tổ chức
của Tòa án nhân dân theo Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 thì hệ thống
Tòa án nhân dân năm 2014 gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân