CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Chiến lược mở cửa để đưa dần nền kinh tế nước ta hơn nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới đã được Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực
hiện cách đây hơn 13 năm. Một trong nhiều nội dung quan trọng của chính
sách mở cử là chủ trương thu hút vốn đầu tư của nước ngoài và đặc biệt
quan trọng là chính sách thu hút vốn trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực
sản xuất hàng xuất khẩu có vai trò then chốt trong chiến lược phát triển
kinh tế của Việt Nam.
Thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phát triển hàng xuất khẩu
không chỉ nhằm tăng thêm vốn cho đầu tư phát triển sản xuất mà còn tạo
thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, cung cấp cho nước những
máy móc kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến, sản xuất ra nhiều mặt
hàng có chất lượng cao, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của đất nước,
tăng nguồn thu ngoại tệ góp phần ổn định nền tài chính tiền tệ quốc gia,
thúc đẩy kinh tế phát triển …
Chính vì vậy, việc xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút vốn
đầu tư thị trường của nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu có
vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế Việt Nam trước
thềm thế kỷ 21. Đồng thời cũng là nhân tố quan trọng để đưa đất nước ta từ
một quốc gia nghèo nàn lạc hậu trở thành 1 nước công nghiệp để đưa chủ
trương của Đảng ta xây dựng 1 nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công
bằng văn minh sau trở thành hiện thực.
2. Mục đích chuyên đề
Mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá khái quát và phân tích tổng thể
về đặc điểm, xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất
hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng, xác định tiềm năng xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư trực tiếp nước
thời gian tới.
Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã luôn nhận được sự giúp đỡ
chỉ bảo tận tình của TS. Lê Thị Anh Vân; TS. Đào Văn Hải cùng các cô chú
công tác tại Vụ Đầu tư - Bộ Thương mại. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn
2
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
chân thành tới các cô, các chú. Kính chúc các cô, các chú có sức khoẻ và
công tác tốt.
Chương I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
HÀNG HOÁ
I. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động xuất nhập khẩu
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1 Khái niệm.
Khái niệm đầu tư.
Có nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư
Có quan niệm cho rằng
Đầu tư theo nghĩa rộng, có thể hiểu là quá trình bỏ vốn (bao gồm cả
tiền, nguồn lực, thời gian trí tuệ, công nghệ…) để đạt được mục đích hay
mục tiêu nhất định nào đó. Những mục tiêu này có thể là mục tiêu chính trị,
kinh tế, văn hoá xã hội …và cũng có khi chỉ là qúa trình bỏ vốn (tiền, nhân
lực, nguyên liệu, công nghệ… )vào các hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây được xem như bản chất cơ bản của hoạt
động đầu tư. Có thể nói trong hoạt động kinh tế không có kinh nghiệm đầu
tư không vì lợi nhuận.
Các nhà kinh tế cho rằng:
biến hiện nay.
Hay theo điều 1 chương I của luật đầu tư nước ngoài ngày 12/11/1996
quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự
quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi cao, khống có những ràng buộc
về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho kinh tế.
4
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp
liên doanh tuỳ theo tỷ lệ vốn góp của mình.
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp cận
được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là
những mục tiêu mà các hình thức khác không giải quyết được.
- Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của
chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động của
nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng
dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ
sở, các chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó.
Chỉ có điều ở đây chủ đầu tư phải đóng góp một lượng vốn đủ lớn, đủ để
họ có quyền tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp và chịu trách nhiệm
xây dựng ở tầm vĩ mô mà công cụ chủ yếu là những biện pháp mạnh mẽ
của Nhà nước thông qua những chủ trương, chính sách và pháp luật. Bên
cạnh đó muốn cho chuyển dịch cơ câú kinh tế thành công thì những yếu tố
như: Vốn đầu tư, máy móc kỹ thuật và công nghệ, nhân tố của con người…
cần được quan tâm và phát triển. Những yêu tố giúp cho việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thành công một mặt phải dựa vào nội lực của đất nước là
chính, song bên cạnh đó cũng cần tranh thủ những đièu kiện thuận lợi từ
bên ngoài để phát triển kinh tế đất nước xu thế này không chỉ được nước ta
vận dụng mà còn được nhiều quốc giá trên thế giới triển khai.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ có chuyển dịch cơ cấu theo
ngành nghề mà còn chuyển dịch cơ cấu theo vùng lãnh thổ để sao cho sự
phát triển giữa các vùng trong một nước được đồng đều, tạo những yếu tố
để các vùng phát huy hết những tiềm năng sẵn có, góp phần vào việc chung
của cả nước.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam góp phần tăng vốn cho đầu
tư phát triển và tăng thu nhập quốc dân.
Theo nguyên lý chung, muốn có tăng trưởng cao phải có đầu tư cao
hay nói cách khác: đầu tư quyết định tăng trưởng. Một số quốc gia khi tiến
hành đầu tư để phát triển kinh tế đều phải dựa vào 2nguồn chủ yếu là
6
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
nguồn vốn trong nước và nguồn vốn của nước ngoài. Nguồn vốn trong
nước là do tích luỹ từ nội tại nền kinh tế có được; nguồn vốn từ bên ngoài
là do đi vay của các nước và các tổ chức tài chính quốc tế, nguồn viện trợ
không hoàn lại và nguồn quan trọng nhất là từ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam góp phần trang bị kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến cho nền kinh tế quốc dân.
Khi các dự án đầu tư được thực hiện thì cũng là lúc các nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài đưa các thiết bị kỹ thuật dây chuyền máy móc và công
nghệ …vào Việt Nam để sản xuất - kinh doanh. Đi liền với máy móc hiện
đại là quy trình công nghệ tiên tiến để vận hành sản xuất kinh doanh.
Những người tiếp quản để thực hiện sản xuất kinh doanh ấy có một số rất ít
là người nước ngoài, số còn lại hầu hết là người Việt Nam. Đây là một thời
cơ quan trọng để lực lượng lao động của chúng ta tiếp cận với thiết bị máy
móc hiện đại và công nghệ kỹ thuật tiên tiến của thế giới
Trang thiết bị hiện đại, quy trình công nghệ tiên tiến đã giúp cho các
liên doanh sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng trong nước và phục vụ cho xuất khẩu. Đây là một đóng góp
tích cực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam vào chương trình sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu mà Đảng
và Nhà nước ta đề ra
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam góp phần đào tạo nhân lực,
tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường đã có tác động mạnh
mẽ tới mọi tầng lớp trong xã hội nước ta, từ các cơ quan nhà nước các đơn
vị sản xuất kinh doanh đến những người lao động …Để dần phù hợp với cơ
chế thị trường thì việc tổ chức lại bộ máy làm việc, đặc biệt tổ chức lại bộ
máy trong sản xuất kinh doanh đã được các đơn vị quan tâm giải quyết.
Từ thực tế của việc chuyển đổi cơ chế quản lý trong những năm qua
cho thấy:
- Thứ nhất: Khi sắp xếp lại tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh cho
phù hợp với cơ chế thị trường đã dẫn tới một tình hình chung cuả các đơn
vị này là một lượng lao động đáng kể đưa ra mà các đơn vị không có khả
năng bố trí được.
8
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam những năm qua đã đóng
góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách của Nhà nước.
Thực hiện quản lý theo cơ chế thị trường, nguồn thu về tài chính bổ
sung vào ngân sách nhà nước đã có nhiều thay đổi. Phần lớn những khoản
nộp vào ngân sách trước đây của các doanh nghiệp nay đã thay bằng các
loại thuế. Để duy trì từ mọi hoạt động của cơ quan nhà nước bao gồm các
cơ quan chính quyền từ TW đến cấp quản lý phường xã ; duy trì hoạt động
của các lực lượng vũ trang đến các hệ thống giáo dục đào tạo, dạy nghề, hệ
thống an ninh xã hội…tất cả phần lớn đều trông chờ vào nguồn thu ngân
sách quốc gia.
Nguồn thu ngâ sách nhà nước không những trang trải cho các nhu cầu
trên mà còn đóng góp một phần đáng kể vào vốn đầu tư nhà nước đầu tư
cho các công trình xây dựng cơ bản , công trình cơ sở hạ tầng, góp phần
vào công cuộc phát triển đất nước.
Theo niên giám thống kê năm 1999 cho thấy nguồn thu vào ngân sách
nhà nước gồm những nguồn lớn như: Nguồn thu từ thuế chiến một tỷ trọng
lớn, thuế từ khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, thuế từ
kinh tế TW và kinh tế địa phương, thu từ các ngành: sản xuất nông nghiệp,
xuất nhập khẩu …Đặc biệt khoản thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài những năm gần đây đã dần dẫn chiếm tỷ lệ đáng kể
trong tổng các khản thu từ ngân sách nhà nước ta. Năm 1997 chiếm 7% và
năm 1998 chiếm 8,4%.
2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1 Khái niệm.
thành một vốn chung, tạo nên một cơ sở vật chất chung để thực hiện một
nhiệm vụ chung, cùng hưởng lãi và chia sẽ rủi ro theo phần vốn góp.
Hình thức này thường được tiến hành khi cả 2 bên cùng có lợi. Đó là
lúc mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cần dựa vào đối tác nứơc sở tại để
có thể tiếp xúc với môi trường đầu tư mới khi mà họ chưa thật sự hiểu biết
nhiều về nó, một nơi mà tuy hứa hẹn nhiều tiềm năng nhưng rất có thể cũng
ẩn chứa nhiều rủi ro và nguy cơ.
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Hình thức liên doanh cũng giúp cho các chủ đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể nhanh chóng giải quyết các thủ tục cần thiêts cho việc đầu tư.
Có thể nói bằng hình thức nàu họ đã tạo ra được một ‘tay trong”, người am
hiểu về luật pháp, thông lệ và tập quán của nước sở tại, và là một yếu tố
quan trọng giúp họ nhanh chóng thực hiện được nguyện vọng đầu tư của
mình, điều mà một mình họ khó có thể thực hiện được. Còn nhà đầu tư
trong nước cần đủ vón để họ được phép kinh doanh trong những ngành
nghề có mức vốn tối thiểu theo quy định cần khoa học công nghệ và cả
kinh nghiệm quản lý, thông tin về thị trường, về bạn hàng.. .Do đó hình
thức hùn vốn kinh doanh là hình thức được cả 2 bên lựa chọn, đặc biệt là
khi bắt đầu đầu tư vào thị trường mới. Chính phủ các quốc gia chậm phát
triển rất coi trọng hình thức này vì nó giúp nước sở tại tiến bộ rất nhanh về
nhiều mặt như tạo thêm công ăn việc làm giúp tiếp thu công nghệ mới,
phương pháp quản lý hiện đại, ý thức tổ chức kỹ thuật và tác phong làm
việc công nghiệp. Hơn nữa, sự có mặt trực tiếp của thành viên nước sở taị
trong hội đồng quản trị cùng tham gia điều hành trực tiếp doanh nghiệp, mà
chính phủ nước sở tại có thể nắm bắt được ý đồ đầu tư của các chủ tư bản
như vậy mục tiêu đề ra là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ không thực
hiện được. Vì thế phải tính toán sao cho cả hai bên cùng có lợi.
3. Hoạt động xuất nhập khẩu
3.1. Khái niệm
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá là việc mua bán hàng hoá và dịch
vụ của nước này đối với nước khác và ngoại tệ được lấy làm phương tiện
thanh toán. Sự mua bán trao đổi này là hình thức của mối quan hệ xã hội và
phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa người sản xuất hàng hoá
riêng biệt của các quốc gia.
Hoạt động xuất nhập khẩu đối với một quốc gia là cần thiết vì lý do cơ
ban là khai thác đựơc lợi thế so sánh của các nước xuất khẩu và mở ra tiêu
dùng trong nước nhập khẩu.
Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm
vi quốc tế có điều kiện không gian và thời gian. Nó không phải là hành vi
mua bán riêng lẻ mà nó có một hệ thống các quan hệ mua bán trong một
nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài song hoạt động mua
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
bán ở đây có những sự khác biệt phức tạp hơn mua bán trong nước, các chủ
thể thực hiện hành vi mua bán có các quốc tịch khác nhau và hàng hoá để
mua bán được đưa tới một quốc gia khác.
Một thực tế cho thấy một quốc gia cũng như một cá nhân không thể
sống riêng lẻ tự cung tự cấp mà có thể đầy đủ. Nền thương mại quốc tế có
tính chất sống còn cho phép đa dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng để có số
lượng nhiều hơn, chất lượng cao hơn, có thể tiêu thụ cùng với ranh giới của
khả năng sản xuất trong nước cao hơn khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp
không buôn bán.
và nhà nước đã có chủ trương mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại trong đó
chú trọng đến lĩnh vực vật tư và thương mại hàng hoá dịch vụ.
3.2 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu đối với kinh tế quốc dân
Trước thập kỷ 80, Việt Nam và một số nước đã có lúc xem vấn đề độc
lập về kinh tế như một mục tiêu để phấn đấu nhưng thực tế đã chứng minh
không một quốc gia nào lại có thể phát triển nếu không có sự tham gia của
thương mại quốc tế. Cuối thập kỳ 80 nhận thấy sự sai lầm trong đường lối
phát triển kinh tế cũng như sự phát triển toàn diện của đất nước, Việt Nam
đã thay đổi cách nghĩ và đổi mới đường lối phát triển kinh tế. Đó là đường
lối đối ngoại độc lập tự chủ đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.
Việt Nam mong muốn được làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới
trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng
cùng có lợi quan hệ ngoại giao với 165 quốc gia và có quan hệ buôn bán
với trên 100 nước hợp tác đầu tư với hơn 50 nước. Trong quá trình phát
triển đường lối kinh tế đối ngoại, Việt Nam rất coi trọng quan hệ xuất nhập
khẩu, bởi: xuất khẩu là biểu hiện tích cực của nền kinh tế, nhờ có xuất khẩu
mà kích thích sản xuất trong nước phát triển, thu được ngoại tệ nhằm phục
vụ cho thúc đẩy sản xuất phát triển và phục vụ cho CNH - HĐH đất nước.
Xuất nhập khẩu sẽ phát huy tính năng động sáng tạo của con người, chuyên
môn hoá được hình thành và phát triển.
Dựa trên nguyên lý lợi thế so sánh thì một quốc gia phải được tiến
hành song song đồng bộ với nhau. Có như vậy thì nền kinh tế quốc dân mới
phát triển đồng bộ, bền vững.
3.3 Các yếu công tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Yếu tố pháp luật: Hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra với sự tham gia
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
việc chuyên môn hoá ở mức cao hơn, tay nghề của người lao động ngày
càng được củng cố và nâng cao.
Khoa học công nghệ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có được sự nhạy
bén trong việc nhận biết các thông tin, sự kiện đang xảy ra xung quanh.
Khoa học công nghệ phần nào giúp cho doanh nghiệp hiểu được thị hiếu,
nhu cầu kịp thời với sự biến đổi của thị trường.
Khoa học công nghệ đặc biệt là trong lĩnh vực máy tính, điện gia
dụng, các sản phẩm giải trí và hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu đã làm
tăng khả năng truyền đạt nhận biết các thông tin về ý tưởng cải tiến hoặc
đổi mới sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp có khả năng bắt kịp với sự phát
triển chung, đẩy lùi lạc hậu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Khoa học công nghệ giúp cho doanh nghiệp tìm hiểu và nắm bắt chính
xác về bạn hàng, khách hàng, đối tác làm ăn về các phương diện để từ đó
có thể hạn chế được rủi ro trong kinh doanh.
Hơn nữa, doanh nghiệp có thể áp dụng thành tựu của khoa học vào
việc thiết kế, thử nghiệm, cái tiến sản phẩm, phân tích và dự báo xu hướng
biến động của thị trường và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị có thể là yếu tố khuyến khích hoặc
yếu tố hạn chế quá trình xuất nhập khẩu.
Việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, thiết lập các quan
hệ là sự tác động mang tính tích cực, làm tăng cường sự liên kết các thị
trường và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu.
Chính sách của chính phủ đặt ra để bảo vệ các doanh nghiệp trong
nước và thị trường nội địa bởi sự cạnh tranh của nứơc ngoài với chính sách
kinh tế có lợi cho doanh nghiệp trong nước bằng các hình thức như hàng
rào thuế quan. Nhưng ngược lại, sự không ổn định về chính trị sẽ làm chậm
tốc độ tăng trưởng kinh tế và kìm hãm các mối quan hệ quốc tế.
Nhiều nơi trên thế giới hiện nay, sự bất ổn định về chính trị và các
Hoạt động xuất nhập khẩu được coi là hoạt động hết sức phức tạp vì
hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự tác động của nền văn hoá -xã hội của
nhiều quốc gia có quan hệ ngoại thương.
Yếu tố thuộc về doanh nghiệp: Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
18
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Ban lãnh đạo doanh nghiệp: Đây là bộ phận đầu não của doanh
nghiệp, là nơi xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp để đề ra
các mục tiêu, chiến lược phát triển công ty đồng thời giám sát, kiểm tra và
đánh giá việc thực hiện kế hoạch đề ra. Ban lãnh đạo có ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu khi ra chiến lược kinh doanh.
Cơ cấu tổ chức bộ máy: Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ loại trừ sự bất
hợp lý cùng các nhiều trong sự truyền tải thông tin từ ban lãnh đaọ đến các
thành viên trong doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức này cũng có thế sửa đổi bổ
sung lượng thông tin kịp thời, chính xác, đúng vị trí một cách nhanh chóng.
Đồng thơì cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng đến việc ra quyết định trong kinh
doanh bởi cách tổ chức theo từng loại cơ cấu như: Trực tuyến chức năng,
trực tuyến tham mưu… Cơ cấu tổ chức phải tìm được cách tổ chức hợp lý
sao cho phát huy được hết sức mạnh của từng ban ngành, bộ phận tạo hiệu
quả kinh doanh cao nhất.
Nguồn lực của công ty: Hoạt động xuất nhập khẩu chỉ có thể tiến hành
tốt khi đã có sự nghiên cứu thị trường. Do đó vấn đề ở đây là phải có được
đội ngũ cán bộ kinh doanh có chuyên môn trong lĩnh vực này, có kiến thức
về thị trường quốc tế cũng như cách giải quyết các thủ tục hành chính trong
hoạt động xuất nhập khẩu .
Ngoài ra, một doanh nghiệp hoạt động được tốt thì cũng cần có hệ
Từ việc nắm bắt các nhu cầu của thị trường thế giới một cách nhanh
nhậy đã giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạch định và đề ra một chiến
lược sản xuất có hiệu quả cao. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam thường là vệ tinh, các chi nhánh của các công ty,
tập đoàn nước ngoài, do vậy việc bao quát, nắm bắt thị trường thế giới có
rất nhiều thuận tiện, việc đầu tư vào thị trường Việt Nam nhằm sản xuất
kinh doanh ngành hàng gì, mặt hàng gì…là nằm trong chiến lược sản xuất kinh doanh của các công ty, tập đoàn nước ngoài, ngoài mục đích chiếm
lĩnh thâm nhập thị trường nước ta, còn có nhu cầu sản xuất để xuất khẩu và
như thế phù hợp với mục đích khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu cuả
ta, sự gặp gỡ đó đã là một trong những điều kiện để giúp cho các liên
doanh đi đến thành công.
Bằng những máy móc kỹ thuật và công nghệ cao, các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã sản xuất ra nhiều mặt hàng
mới có chất lượng cao, đóng góp thêm phong phú các mặt hàng xuất khẩu
của Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh đang diễn ra một cách quyết liệt
trên thương trường quốc tế, yếu tố chất lượng sản phẩm có một vai trò vô
cùng quan trọng, khi kết hợp với yếu tố về giá thành sản phẩm thấp hơn sẽ
có nhiều cơ hội thành công.
Thị trường xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp có nhiều lợi thế so với đa phần các doanh nghiệp trong nước, bởi lẽ họ
22
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
nắm bắt được nhu cầu của thị trường thế giới, do vậy họ dễ dàng đề ra một
chiến lược sản xuất và tiếp cận thị trường hợp lý. Trong điều hành sản xuất
họ áp dụng biện pháp quản lý tiên tiến, hợp lý hoá mọi công đoạn của quá
trình sản xuất và bao tiêu sản phẩm để mang lại hiệu quả kinh tế cao…cùng
với những ưu thế về vốn , máy móc kỹ thuật và quy trình công nghệ (như
nghiệp trong nước, nên kết quả xuất nhập khẩu đã nhanh chóng đạt được
những kết quả đáng khích lệ, nhất là kim ngạch xuất khẩu bởi sản phẩm có
sức cạnh tranh cao trên thương trường quốc tế.
Chỉ tiêu một thời gian ngắn triển khai các dự án đầu tư, các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã từng bước tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ra thị trường bên ngoài và đã đóng
góp ngày càng tăng đáng kể vào tổng số kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam.
Tuy kim ngạch xuất khẩu chưa tương xứng với kim ngạch nhập khẩu,
thời gian đầu kim ngạch xuất khẩu tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam chưa có và kim ngạch nhập khẩu lại ra tăng
nhanh chóng, đến những năm gần đây kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng và
đồng thời kim ngạch xuất khẩu hình thành và ra tăng với tốc độ nhanh hơn
so với tốc độ của kim ngạch nhập khẩu, đây là một tín hiệu đáng mừng, nó
chứng minh cho một điều là tăng nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu. Tăng
nhập khẩu thiết bị máy móc để phát triển sản xuất, tăng nhập khẩu nguyên
nhiên vật liệu ở trong nó chưa có điều kiện đáp ứng để sản xuất ra hàng hoá
phục vụ tiêu dùng xã hội và tham gia xuất khẩu. Khi kim ngạch xuất khẩu
được gia tăng tương xứng sẽ là bằng chứng cụ thể để đánh giá hiệu quả cuả
nhập khẩu. Bước tiếp theo của phát triển phát triển xuất khẩu nhằm phát
triển sản xuất trong nước và phát triển sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu, đây
là một chu trình có quan hệ hữu cơ và quan hệ nhân quả với nhau. Thực
tiễn hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần làm sáng tỏ luận cứ này.
Tăng cán cân xuất khẩu là góp phần giảm thâm hụt thương mại, tiến
tới cân bằng và thặng dư trao đổi mậu dịch quốc tế của nước nhà, đây là
một định hướng đúng đắn mà nền kinh tế Việt Nam cần hướng tới, khi có
24
sản lượng quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tác động đến sản lượng
của toàn ngành công nghiệp. Các nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng
25