Đề tài nghiên cứu các thông số lưu huyết não và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường - Pdf 51

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một trong những bệnh rối loạn chuyển hóa rất thường gặp.
Bệnh không chỉ phổ biến ở các nước phát triển mà ngay ở các nước đang phát triển và
các nước nghèo cũng có tỷ lệ mắc bệnh đáng kể
Theo ước tính của Viện Đái Tháo Đường quốc tế, năm 1997 trên thế giới có
khoảng 124 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó 120 triệu người mắc đái
tháo đường type 2. Ước tính đến năm 2010, bệnh đái tháo đường sẽ tăng gấp 2-3 lần ở
các nước châu Á, châu Phi.Trong những năm gần đây, theo thống kê của một số bệnh
viện lớn trong toàn quốc thấy rằng số bệnh nhân đái tháo đường type 2 nhập viện
ngày càng tăng
Bệnh tim mạch bao gồm bệnh động mạch vành và bệnh mạch máu não là nguyên
nhân thường gặp nhất ở bệnh nhân đái tháo đường type 1 và type 2-chiếm hơn 65%
nguyên nhân tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường (50% do bệnh động mạch vành,15%
do bệnh động mạch não). Đối với não,bệnh nhân đái tháo đường thường có vữa xơ
động mạch não đưa đến những biến chứng như xuất huyết não, tắc mạch não.
Trên thực tế, một tỷ lệ không nhỏ bệnh lý mạch máu lớn im lặng ở bệnh nhân
đái tháo đường với hình thành những tổn thương nội mạc động mạch không triệu
chứng trên lâm sàng, đặc biệt tỷ lệ này rất cao ở bệnh nhân đái tháo đường type
2.Chính vì thế khi bệnh nhân nhập viện vì biến chứng mạch máu não cũng chính là lúc
phát hiện bệnh đái tháo đường
Hiện nay, việc đánh giá mức độ tổn thương mạch máu não trên bệnh nhân đái
tháo đường chủ yếu thông qua siêu âm Doppler mạch. Siêu âm Doppler mạch đã trở
thành phương pháp không xâm nhập cho phép chẩn đoán chính xác, không những thăm
dò về hình thái mà còn cả huyết động.Tuy nhiên siêu âm Doppler mạch đòi hỏi kinh
nghiệm của người làm siêu âm, chi phí tương đối cao, và chỉ sẵn có ở một số trung
tâm chuyên khoa. Ngoài ra quá trình thực hiện tương đối tốn thời gian và không thích
hợp cho các chương trình sàng lọc. Phương pháp đo Lưu huyết não đáp ứng những yêu
cầu này bởi cấu trúc đơn giản, phân tích kết quả chủ yếu dựa vào phần mềm và dễ
sử dụng (Angiologic Diagnostic System P.5)
Khảo sát các chỉ số lưu huyết não để phát hiện sớm và đánh giá mức độ tổn
thương xơ vữa động mạch não thông qua đánh giá lưu lượng tuần hoàn lên não ở nước

Khoảng đầu thế kỷ 19, Brokman đã ghi nhận về đảo tụy nhưng mang tên
Langerhans (Langerhans đã mô tả đảo tuỵ năm 1869). Năm 1877, Lancereau phát hiện
tổn thương đảo tụy ở bệnh nhân mắc ĐTĐ. Năm 1889, Vonmering và Minkovski đã
chứng minh các tiểu đảo Langerhans của tuỵ có chức năng bài tiết insulin, là hormon
chủ yếu chuyển hoá glucose trong cơ thể và gây bệnh ĐTĐ trên chó bằng cách cắt bỏ
tụy. Năm 1921, Banting và Best cùng các cộng sự đã được giải thưởng Nobel về công
trình nghiên cứu phân lập insulin từ tụy. Năm 1922, lần đầu tiên insulin được sử dụng
cho bệnh nhân ĐTĐ. Trong giai đoạn này một số tác giả cũng đề cập đến bệnh lý
ĐTĐ xuất hiện ở người nhiều tuổi có các triệu chứng lâm sàng như ĐTĐ ở người trẻ
nhưng không cần điều trị insulin suốt đời mà có thể chỉ dùng chế độ ăn kiêng bệnh
cũng có thể thuyên giảm rõ rệt.
Năm 1951, Bornstein và Lawrence dựa trên phương pháp định lượng insulin huyết
thanh bằng RIA đã chia ĐTĐ ra làm hai thể:
+ĐTĐ thể 1 (giảm hoặc không có insulin máu)
+ĐTĐ thể 2 (insulin máu bình thường hoặc cao)
Năm 1985 TCYTTG phân loại ĐTĐ thành 4 thể:
+ĐTĐ phụ thuộc insulin
+ĐTĐ không phụ thuộc insulin
+ĐTĐ liên quan đến suy dinh dưỡng
+ĐTĐ thai kỳ


Năm 2004 Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đưa ra bảng phân loại gồm:
+ĐTĐ type 1
+ĐTĐ type 2
+Các type đặc biệt khác: bao gồm:
Giảm chức năng tế bào bêta do khiếm khuyết gene
Giảm hoạt tính insulin do khiếm khuyết gene
Bệnh lý tụy ngoại tiết
Bệnh nội tiết

trừ cho sự đề kháng insulin và duy trì mức đường huyết bình thường. Sự đề kháng
insulin và các yếu tố về gene được cho là đóng vai trò quan trọng trong sự rối loạn
chức năng tế bào bêta và giảm tiết insulin. Những yếu tố góp phần trong sự rối loạn
chức năng tế bào bêta tuỵ bao gồm sự tăng đường huyết và acid béo tự do trong máu
làm nhiễm độc tụy. Hơn nữa sự tăng tiết insulin trong thời gian dài để bù trừ sự đề
kháng insulin cũng làm tuyến tụy hoạt động quá sức dẫn đến rối loạn chức năng tế
bào bêta tụy
1.1.3.3. Sự liên quan của các acid béo tự do


Nồng độ acid béo cao trong máu có ảnh hưởng tới đề kháng insulin:
+Ức chế quá trình oxy hoá glucose
+Giảm nhạy cảm của insulin với tổ chức mỡ
+Ức chế gắn insulin với thụ thể đặc hiệu ở tế bào đích
1.2.Lưu huyết não đồ
1.2.1.Lịch sử Lưu huyết não đồ
Vấn đề ghi lưu huyết để đánh giá tuần hoàn não được đề cập từ những năm 20
của thế kỷ XX do các tác giả Schulter Grant,Meyer Grant,Ganller và một số tác giả
khác. Năm 1937, H.Mann đã đề nghị dùng cầu Wheatstone để nghiên cứu tính dẫn điện
của cơ thể sống. Sau đó, Nyboer qua các công trình nghiên cứu của mình đã sử dụng
dòng điện xoay chiều tấn số cao để nghiên cứu tuần hoàn máu và gọi phương pháp
này bằng một tên mới là ghi thể tích điện trở (Impedance plethysmography)
Danh từ”Ghi lưu huyết” do W.Holzer và K.Polzer nêu ra năm 1945. Hai tác giả
này cùng Marko (1945) là những người đầu tiên sử dụng phương pháp ghi lưu huyết
vào mục đích lâm sàng, nghiên cứu hoạt động của tim, các tác giả gọi phương pháp
của mình là ghi lưu huyết tim (Rheocardiography)
Vào năm 1950, K.Polzer và F.Schuhfried là những người đầu tiên sử dụng phương
pháp ghi lưu huyết để nghiên cứu hệ thống mạch máu não. Những công trình của K.
Iarrullin vào những năm 1962, 1963, 1966 và một số tác giả khác đã nghiên cứu sâu
hơn và đặt nền móng cho phương pháp ghi lưu huyết não, chỉ ra những khả năng to

về thực chất đường ghi lưu huyết não thể hiện sự biến thiên điện trở của mạch máu
Máy ghi lưu huyết: Có 2 kiểu máy chính dùng để ghi lưu huyết não và thường
được gọi là kiểu REGI và REGII
Máy ghi lưu huyết kiểu I được cấu tạo sao cho dòng điện xoay chiều tần số cao
được truyền vào các vùng não qua các điện cực đặt trên đầu và những biến thiên điện
trở của các mạch máu não được dẫn vào máy ghi lưu huyết thông qua chính các điện
cực này
Máy ghi lưu huyết kiểu II có một đôi điện cực chuyên dùng để đưa dòng điện
xoay chiều vào não,còn các điện cực khác thu nhận biến thiên điện trở ở các vùng não
khác nhau rồi đưa vào máy lưu huyết. Hai điện cực đưa dòng điện vào não cần được
đặt ở các vị trí đối xứng của đầu theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang
Ưu điểm của máy ghi lưu huyết kiểu II là khắc phục được ảnh hưởng của điện
trở tiếp xúc giữa da đầu-điện cực và phân bố dòng điện không đều tại điểm tiếp xúc
của kiểu máy REGI gây nên kết quả thiếu chính xác
1.2.3.Phân tích, đánh giá đường ghi lưu huyết não
1.2.3.1 Hình dạng sóng:

Hình dạng sóng cho ta thông tin tổng quát về trạng thái chức năng của mạch máu
não, gồm có: nhánh lên, đỉnh sóng, nhánh xuống và sóng phụ
Nhánh lên của đường cong tương ứng với thời gian máu qua các động mạch não
trong pha dồn máu nhanh, khi máu qua nhiều nhất thì đường cong đạt tới đỉnh của nó
Đỉnh sóng REG tương ứng với điểm biến đổi rõ nhất về tính dẫn điện ở vùng
não đang nghiên cứu. Nếu sự biến đổi điện trở xảy ra nhanh, đỉnh sóng có dạng nhọn
và ngược lại, sự biến đổi điện trở xảy ra chậm đỉnh sóng có dạng phẳng
Nhánh xuống tương ứng với lúc máu qua các tiểu động mạch, mao mạch rồi tĩnh
mạch. Thông thường ở 1/3 trên xuất hiện 1 hoặc 2 sóng phụ thể hiện sóng dội của
mạch máu. Số lượng sóng phụ và sự biểu hiện của sóng phụ (rõ, mờ, không xuất
hiện)là chỉ tiêu đánh giá trương lực mạch máu não. Khi trương lực mạch máu tăng:
sóng phụ mờ, nằm ở vị trí cao sát đỉnh hay mất. Khi trương lực mạch máu giảm
(mạch giãn), sóng phụ xuất hiện rõ nét và nằm ở vị trí thấp gần đường đẳng điện


ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.Chọn bệnh nhân
Chúng tôi chọn 40 bệnh với chẩn đoán xác định ĐTĐ type 2
Tuổi bệnh nhân từ 40 trở lên
Nhập viện và điều trị tại khoa Nội-bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
Thời gian chọn mẫu nghiên cứu từ tháng 5/2007 đến tháng 03/2008
2.1.2.Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ
Tiêu chuẩn chẩn đoán của TCYTTG năm 1998 và đã được xác định lại 2002.
Chẩn đoán xác định ĐTĐ nếu có một trong ba tiêu chuẩn dưới đây và phải có ít nhất
hai lần xét nghiệm ở hai thời điểm khác nhau
1.Glucose huyết tương bất kỳ trong ngày >=200mg/dl (>=11,1mmol/l), kèm ba
triệu chứng lâm sàng gồm tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân không giải thích được
2.Glucose huyết tương lúc đói >=126 mg/dl (>=7mmol/l) ( đói có nghĩa là trong
vòng 8 giờ không được cung cấp đường)
3.Glucose huyết tương hai giờ sau uống 75g glucose >=200mg/d l(>=11,1 mmol/l)
khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống
2.2.Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Nghiên cứu lâm sàng
Bệnh nhân khi vào điều trị tại khoa Nội-Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế
được khám tỉ mỉ


Tìm hiểu ĐTĐ bằng cách hỏi bệnh để xác định:
Họ tên,tuổi,giới,nghề nghiệp
Địa chỉ
Tìm hiểu về tiền sử
Khám xét lâm sàng
Xác định chỉ số BMI (Body Mass Index:Chỉ số khối cơ thể) và số đo vòng eo

tố nguy cơ với các
bệnh khác)
Trung bình
Có tăng cân
Tăng cân
Béo vừa phải
Béo nhiều

Tăng vừa phải
Béo nhiều
Quá béo

Xác định huyết áp bệnh nhân lúc vào viện:
Đo huyết áp: Bệnh nhân được đo HA bằng máy đo thuỷ ngân hoặc máy đo đồng
hồ đã được chuẩn hoá 6 tháng 1 lần, lấy tay trái làm chuẩn đo 2 lần cách nhau 3-5 phút
theo khuyến cáo của TCYTTG. Nếu 2 lần đo chênh nhau trên 5 mmHg thì đo lại 1 đến
2 lần nữa rồi lấy trung bình cộng. Tuy nhiên, cần đo huyết áp cả 2 bên để đề phòng có
hẹp động mạch bên trái
Thời điểm đo trong nghiên cứu: khi bệnh nhân được đưa vào khoa điều trị
Đánh giá kết quả: Huyết áp tâm thu là áp lực tương ứng với tiếng đập động
mạch đầu tiên và huyết áp tâm trương là áp lực tương ứng với khi bắt đầu không còn
nghe tiếng đập của động mạch. Nếu rối loạn nhịp tim thì đo 3 lần sau đó lấy trung
bình cộng các chỉ số
Bảng 2.2.Phân loại THA ở người từ 18 tuổi trở lên (theo JNC VI.1997)
Giai đoạn
Bình thường
Bình thường cao
Giai đoạn I
Giai đoạn II
Giai đoạn III


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status