Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài thủy sản - Pdf 51

Kỹ thuật nuôi
(Monopterus albus)
Ts. Dương Nhựt Long
Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

Đặc điểm sinh học và kỹ thuật
nuôi một số loài thủy sản
1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƯƠN ĐỒNG
Theo Mai Đình Yên (1978), Trần Thị Thu Hương và Trương Thủ Khoa (1984) lươn này có một số đặc
điểm như sau
Lươn đồng Monopterus albus
1.1 Tập tính sống
Lươn là loài ưa sống chui rúc trong bùn đặc biệt trong lớp mùn bã hưu cơ có nhiều sinh vật đáy. Chúng ta
cũng bắt gặp lươn chui rúc trong các đống cỏ, rơm rạ trong ruộng hoặc ao mương. Ngoài ra lươn cũng có
tập tính đào hang ven bờ ao, mương để trú ẩn và làm tổ đẻ.
1.2 Tập tính bắt mồi
Lươn là loài ăn tạp nhưng thiên về động vật, đặc biệt thức ăn có mùi tanh như tôm, cá, nòng nọc... Ngoài
ra lươn cũng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác như phụ phẩm của lò mỗ, đồ phế thải của nhà bếp kể
cả thức ăn viên dành cho gia cầm.
1.3 Tập tính sinh sản
Lươn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có 2 mùa đẻ trong năm là tháng 5 - 6 và tháng 8 - 9. Lươn thường đẻ
trong tổ và làm bọt lấp kín miệng tổ, sau khoảng 7 - 8 ngày ở nhiệt độ 29 – 30
0
C trứng nở ra lươn con và
sau khoảng 10 ngày lươn con đã tiêu hết noãn hoàng và thóat ra khỏi tổ đi kiếm ăn.
Thức ăn của lươn ở giai đoạn này là giống loài động vật thủy sinh trong nước như giun ít tơ, bọ gậy...
1.4 Tập tính sinh trưởng của lươn
Lươn là loài động vật thủy sinh lớn chậm, trọng lượng trung bình của lươn sau 12 tháng có thể đạt 100 -
150g/con và sau 12 tháng có thể đạt từ 200 – 3000 g/con.
2. GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA LƯƠN
Lươn là một trong đối tượng dễ nuôi, có nhiều loại thức ăn khác nhau và có thể tận dụng những ao mương

này trả lại đáy ao.
• Dùng cát đổ xuống đáy ao một lớp 5 - 10 cm. Tốt nhất trộn vôi với cát rồi lắng xuống đáy để sau
này lươn không đào sâu được. Có thể trộn vôi với cát theo tỷ lệ 5 - 6 kg vôi trộn với 1m
3
cát.
• Sau khi trộn xong, láng khắp đáy hồ và đầm nén cho cứng. Bờ ao cũng phải lấp hết hang hốc và
đầm cho cứng.
• Đổ một lớp sình khoảng 20 - 30 cm, tốt nhất nên sứ dụng bùn mới hoặc sử dụng lại bùn đáy mới
vét lên đã được phơi khô.
• Cần phải đắp một cù lao ở giữa ao, mương để hạn chế lươn đào hang xung quanh bờ. Diện tích
cù lao thường chiếm khoảng 1/4 - 1/5 diện tích ao hồ. Nếu mương dài và nhỏ thì nên đắp cù lao ở
một phía bờ mương hoặc giữa mương. Cù lao phải cao hơn mực nước 5 - 10 cm nhưng phải thấp
hơn bờ ao 50 - 60 cm. Trên mặt cù lao có thể trồng cỏ hoặc các loại khoai môn nước
3.1.3 Nuôi lươn trong hồ đất đắp có lót cao su
• Chọn nơi đất cứng để đào hồ nuôi lươn. Thông thường chỉ nên đào sâu khoảng 0,3 - 0,5m, lấy đất
này đắp lên thành bờ. Đáy và bờ phải được đầm nén cho kỹ.
• Diện tích đào và đắp tùy theo điều kiện cụ thể, thông thường nên đào và đắp hồ có diện tích 10 –
12 m
2
.
• Dùng cao su (loại dùng để phơi lúa) để lót toàn bộ đáy và thành hồ
• Hồ đất lót cao su nuôi lươn
1. Lớp cao su lót đáy và thành hồ đất
2. Lớp bùn
3. Cù lao
4. Phần đất đắp bờ
5. Mặt đất trước khi đào hồ
6. Lớp nước trong hồ 10 - 15cm

• Sau khi lót cao su xong, đổ một lớp sình 20 - 25 cm và đắp một cù lao (có thể đắp ở giữa hồ hoặc

• Cám nhuyễn: 64%
• Bột cá lạt: 35%
• ADE + bột gòn + khoáng: 1%
• Trộn đều các thứ sau đó cho vào máy ép đùn thủ công để tạo thành thức ăn viên, phơi khô (viên
thức ăn lớn hay nhỏ tùy theo kích thước của lươn).
Lượng thức ăn cho mỗi ngày chiếm 5 – 7 % trọng lượng thân và nên cho ăn 2 - 3 lần trong ngày. Không
nên cho tất cả lượng thức ăn dồn vào một lần vì làm như vậy lươn ăn không hết, thức ăn phân hủy gây
thối nước, lươn dễ bị bệnh. Thức ăn nên được rải đều (đặc biệt gần khu vực cù lao là nơi lươn trú ẩn) để
lươn có cơ hội ăn được nhiều hơn.

3.3.2 Quản lý hàng ngày
• Cần phải giử môi trường nước luôn sạch sẽ và mát. Trung bình 3 - 4 ngày thay nước 1 lần cho
lươn.
• Khi thời tiết nóng kéo dài cần phải có biện pháp che mát cho ao hồ nuôi hoặc dùng lục bình thả
trên mặt hồ với diện tích khoảng 20 – 25 % mặt nước.
• Khi trời mưa to cần kịp thời rút bớt nước đề phòng nước đầy tràn bờ lươn trốn mất.
• Thường xuyên theo dõi để loại bỏ lươn chết (lươn bị bệnh hoặc sắp chết thường nằm trên mặt
bùn đáy) tránh thối nước.
KỸ THUẬT NUÔI ARTEMIA TRÊN RUỘNG MUỐI
(Artemia franciscana)
Nhóm nghiên cứu Artemia.
Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

I. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ
1. Vị trí phân loại
• Ngành: Arthropoda
• Lớp: Crustacea
• Lớp phụ: Branchiopoda
• Bộ: Anostraca
• Họ: Artemiidea

II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1. Đặc điểm môi trường sống
Artemia chỉ có thể tìm thấy ở những nơi mà vật dữ (cá tôm, giáp xác lớn) không thể xuất hiện (cao hơn 70
ppt). Ở độ mặn bão hòa (≥250 ppt) Artemia chết đồng loạt do môi trường vượt ngưỡng chịu đựng (trở nên
gây độc) và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn.
Các dòng Artemia khác nhau thích nghi rộng với sự biến đổi môi trường khác nhau đặc biệt là nhiệt độ (6-
35
o
C), độ muối (độ mặn của nước) và thành phần ion của môi trường sống. Ở các thủy vực nước mặn với
muối NaCl là thành phần chủ yếu tạo nên các sinh cảnh Artemia ven biển và các sinh cảnh nước mặn khác
nằm sâu trong đất liền, chẳng hạn hồ Great Salt Lake (GSL) ở Utah, Mỹ. Các sinh cảnh Artemia khác
không có nguồn gốc từ biển nằm sâu trong lục địa có thành phần ion khác rất nhiều so với nước biển: Vực
nước sulphate (Chaplin lake, Saskatchewan, Canada), vực nước carbonate (hồ Mono Lake, California,
Mỹ), và các vực nước giàu lân (rất nhiều hồ ở Nebraska, Mỹ).
Artemia được nuôi rộng rãi ở Việt nam thuộc dòng Artemia franciscana, mặc dù có nguồn gốc từ Mỹ (San
Francisco Bay, USA) nhưng sau thời gian thích nghi dòng này gần như đã trở thành dòng bản địa của Việt
nam và chúng có nhiều đặc điểm khác xa so với tổ tiên chúng đặc biệt là khả năng chịu nóng. Hiện tại
chúng có thể phát triển tốt trong điều kiện:
- Độ mặn: 80-120 phần ngàn
- Nhiệt độ: 22-35
o
C
- Oxy hoà tan: không thấp hơn 2 mg/l
- pH từ trung tính đến kiềm (7.0-9.0)
2. Đặc điểm về dinh dưỡng
Artemia là loài sinh vật ăn lọc không chọn lựa, chúng sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có
kích thước nhỏ hơn 50µm. Các sinh cảnh tự nhiên có Artemia hiện diện thường có chuỗi thức ăn đơn giản
và rất ít thành phần giống loài tảo. Artemia thường xuất hiện ở những nơi có nồng độ muối cao, vắng mặt
các loài tôm, cá dữ và các động vật cạnh tranh thức ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ ăn tảo. Ở các
sinh cảnh này nhiệt độ, thức ăn và nồng độ muối là những nhân tố chính ảnh hưởng đến mật độ của quần

Bờ bao (m)
chân 4
mặt 2
cao 1
bờ lưu thông 0.5
Bờ ao (m)
chân 3 2
mặt 1.5 1
cao 0.7 0.7
bờ lưu thông 0.5 0.5
Mương quanh (m)
mặt 3 2
sâu 0.3 0.3
Máng cấp (m) máng nổi
mặt 2
cao 1
Máng tháo (m) máng chìm
mặt 2
sâu 0.5
Cống cấp tháo(m) gỗ hoặc xi măng
khẩu đô 0.5 0.5
Lưu ý: ở những nơi đất mới khai thác, hoặc dể thẩm lậu, bờ ao cần được xây dựng gia cố chắc chắn (đầm
nén, tô láng bờ...)
- Công trình phụ: Để đáp ứng cho yêu cầu quản lý, ao nuôi cần được lắp đặt các công trình phụ sau:
+ lưới lọc cá: Dùng lưới nylon (cở mắc lưới từ 1-1.5 mm) để làm khung lọc nước hoặc may theo
dạng vèo để hứng nguồn nước cấp vào ao.
+ đập tràn: đập đất hoặc phai gổ lắp ở cống cho phép lớp nước nhạt tầng mặt (mùa mưa) được
tháo bỏ nhằm duy trì độ mặn cho ao nuôi.
+ nơi bón phân: được bố trí ngay nguồn nước cấp vào ao nuôi, thường được rào lại bằng tre hoặc
lá dừa nước để tránh phân bị trôi dạt.

để gạn cá tạp
.Lab-lab, rong tạp các
loại
Bừa trục, dọn đáy ao thường xuyên nếu cần
thì tháo cạn cải tạo lại
.Chim
Dùng lưới gió, bù nhìn, pháo hoặc có người
canh giữ trực tiếp
Chuẩn bị thức ăn cho ao nuôi Artemia:
Bước này chỉ cần thiết cho những ao nghèo tảo thức ăn (nước ao không màu hoặc màu nhạt), để gây màu
thường dùng các loại phân vô cơ (urea, lân...) hoặc hữu cơ (phân heo, phân gà, phân bò, phân dê, phân
cút...) với liều lượng
+ Phân hữu cơ: 500 đến 1000 kg/ha
+ Phân vô cơ : 50 đến 100 kg/ha
5. Thả giống
- Kỹ thuật ấp nở :
+ Dụng cụ: cân, xô, chậu, lưới lọc, ống dẫn khí, đá bọt, máy thổi khí, đèn huỳnh quang...
+ Điều kiện ấp nở:
.ánh sáng: thắp đèn huỳnh quang cách mặt nước bể ấp khoảng 2 tấc
.nhiệt độ: 25-30 độ C
.độ muối : nước biển 35 ppt (ba chữ rưỡi) được dùng để ấp trứng
.pH: 8.1 đến 8.3
.mật độ ấp: không nên nhiều hơn 5g trứng cho mỗi lít nước
+ Thao tác: Nước được lọc sạch trước khi cho vào bể ấp; cân trứng theo đúng mật độ qui định
cho vào bể ấp, kết hợp sục khí để đảo trộn nhằm thúc đẩy quá trình hút nước của trứng để kích
thích sự phát triển phôi. Sau 20 đến 24 giờ trứng nở tập trung, sẳn sàng cho việc cấy giống.

Những điểm cần lưu ý trong thao tác thả giống:
+ Cở giống thả: Cấy thả bằng giống mới nở (Naupli): hình thức này rất phổ biến, đặc biệt ở những nơi
mới bắt đầu thử nghiệm nuôi Artemia. Cấy giống cở nhỏ (Naupli giai đoạn I) có trở ngại là rất khó quan sát

ngàn) và độ đục (25 đến 35 cm) trong phạm vi tối hảo.
Tương tự, để đãm bảo chất lượng nước trong ao, thường thì sau một tháng rưỡi đến hai tháng tính từ lúc
xuống giống, nên tiến hành thay từ 30% đến 50% lượng nước trong ao.
+ Bón phân - cho ăn:
.bón phân (phân ga)ì 500 đến 1000 kg/ha/tháng
Uréa 50 đến 100 kg/ha/tháng
Phân gà (hữu cơ) được bón trực tiếp vào ao Artemia (chúng lọc các chất dinh dưỡng hoặc vi khuẩn có
trong phân) hoặc ao bón phân để kích thích tảo phát triển trước khi đưa vào ao nuôi; đối với Uréa (vô cơ)
chỉ nên bón ở ao bón phân. Để đơn giản trong việc đánh giá cơ ở thức ăn tự nhiên của ao bón phân và ao
nuôi, ngoài độ đục cần thiết như đã nêu trên, thang màu đề nghị dưới đây dùng để đánh giá thành phần
tảo trong ao:
Màu nước Thành phần tảo
Vàng nâu
Khuê tảo (Diatom) thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao
cho Artemia
Xanh lá cây
nhạt
Tảo lục (Chlorophyta) đặc biệt là Chlamydomonas,
không tốt cho Artemia
Xanh lá cây
đậm
Tảo lam (Cyanophyta), nhiều độc tố lại kích thước lớn
nên Artemia không thể sử dụng được
.Cho ăn: thỉnh thoảng cám gạo được bổ xung (từ 10 đến 20 kg/ha/ngày) khi ao nuôi thiếu thức ăn, tuy
nhiên hiệu quả sử dụng cám gạo của Artemia rất thấp (từ 10 đến 20%), nên phần lớn cám gạo kết lắng
xuống đáy gây ô nhiễm môi trường (có thể khắc phục bằng cách sàng lọc kỹ trước khi đưa xuống ao), vì
giá đắt nên việc dùng cám gạo không kinh tế lắm.
+ Chế độ bừa trục: Vừa có tác dụng đão trộn phân bón trong ao, vừa có tác dụng diệt các mầm rong
đáy (lab-lab), khi độ đục thích hợp có thể giãm chế độ bừa trục để hạ giá thành trong chi phí sản xuất.
+ Gia cố công trình: Hàng ngày bên cạnh các hoạt động nêu trên, trong quản lý ao cần phải thường

.Chết hàng loạt do chênh lệch độ muối hoặc nhiệt độ: Hiện tượng này dể thấy, đặc biệt khi cấy thả sinh
khối cở lớn vào ao mới.
.Hiện tượng co cụm (boiling effect): Quần thể khoẻ mạnh, đặc biệt là những ngày nắng nhiều.
.Nổi đầu vào sáng sớm: Khi ao bẩn, hoặc tảo phát triển dày đặc và ngày hôm trước có mây hậu quả làm
thiếu oxy về đêm nên Artemia nổi đầu vào sáng sớm hôm sau.
KỸ THUẬT NUÔI BÀO NGƯ
Ts. Trương Quốc Phú
Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

Bào ngư là loài có giá trị kinh tế bởi vì hàm lượng dinh dưỡng trong thịt của chúng rất cao. Bào ngư có
khoảng gần 100 loài, tất cả đều thuộc giống Haliotis. Chùng có mặt ở nhiều vùng trên trái đất, một số loài
hiện nay đang được nuôi như Haliotis disversicolor, H. asinina, H. oliva...
Hình 1: Hình dạng của Bào ngư (Haliotis)
I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC.
1. Phân bố.
Các loài Bào ngư phân bố rộng khắp thế giới nhưng chúng phát triển phong phú về số lượng ở vùng ôn
đới. Bào ngư thích sống ở vùng biển cạn, môi trường nước xáo động mạnh và hàm lượng oxy hòa tan
cao. Vì vậy, chúng thường phân bố ở nền đáy cứng, trên các mõm đá. Bào ngư không phân bố ở các vùng
cửa sông bởi vì cửa sông nồng độ muối thấp, có nhiều bùn, nhiệt độ cao và oxy hòa tan thấp. Bào ngư
thích nghi trong khoảng nhiệt độ từ 10-35
o
C và nồng độ muối từ 25-35%o.
Ở Việt Nam Bào ngư phân bố ở đảo Cô Tô, Hạ Long, các đảo ở Bắc và Trung Bộ. Ở Nam Bộ Bào ngư có
ở đảo Phú Quốc.
2. Phương thức sống.
Phương thức sống của Bào ngư có liên quan đến cấu tạo của chân. Bào ngư dùng chân để bò từ nơi này
đến nơi khác giống như những loài ốc khác. Nhưng chân của Bào ngư không thích hợp để bò hoặc bám
trên cát. Trên mặt cát chùng dể bi lật ngửa và dể bị địch hại tấn công. Vì vậy, chỉ thấy Bào ngư phân bố ở
vùng đáy đá.
Khi gặp kẻ thù, Bào ngư dùng chân bám chặt trên đá và hạ thấp vỏ xuống để che đậy phần cơ thể và

Bào ngư sinh trưởng đều, không thay đổi tỉ lệ hình học theo thời gian (b=3). Các yếu tố di truyền, môi
trường, thức ăn... ảnh hưởng đến sinh trưởng của bào ngư.
5. Sinh sản.
Bào ngư phân tính đực, cái riêng biệt và chúng ta có thể phân biệt dựa vào màu sắc của chúng trong mùa
sinh sản. Con cái thường có màu xanh đen, con đực có màu vàng. Trứng của Bào ngư thụ tinh ngoài, cho
nên tỉ lệ thụ tinh rất thấp. Tuy nhiên Bào ngư cũng có một tập tính sinh sản đặc biệt nhằm làm tăng tối đa
khả năng gặp nhau giữa tinh trùng và trứng. Khi sinh sản chúng thường tập trung thành từng đàn trên
trong một nơi với mật độ cao, như vậy đảm bảo trứng có cơ hội thụ tinh cao.
Trong tự nhiên Bào ngư thường thành thục sinh dục ở một thời điểm nhất định trong năm. Thí dụ ở
Australia loài Bào ngư Haliotis rubra (blacklip abalone) thành thục vào cuối mùa hè đầu mùa thu, thời gian
còn lại trong năm thì không thành thục. Ở Việt nam Bào ngư thường thành thục từ tháng 4-8. Bào ngư
khoảng 2 tuổi có thể thành thục tham gia sinh sản lần đầu.
Bào ngư thường đẻ vào lúc chiều tối và rạng sáng, con đực thường phóng tinh trước sau đó con cái mới
đẻ trứng. Sản phẩm sinh dục cũng có vai trò kích thích các cá thể khác trong quần thể sinh sản.
Tế bào trứng có đường kính khoảng 150-180µm (H. asinina), trứng chưa chín khi đẻ ra sẽ không có màng
tế bào hay màng keo (không thụ tinh). Tinh trùng có đầu hình lưỡi mác, đuôi dài 8-50 µm và có khả năng
thụ tinh trong 2 giờ sai khi được phóng thích ra môi trường nước, trứng bắt dầu phân cắt 10 phút sau thụ
tinh. Trứng bào ngư phân cắt hoàn toàn không đều theo kiểu xoắn ốc.
II. KỸ THUẬT NUÔI.
Trong nghề nuôi Bào ngư giống được cung cấp chủ yếu từ hai nguồn, giống tự nhiên và giống nhân tạo:
1. Giống tự nhiên.
Bãi giống tự nhiên thường là những bãi đá có Bào ngư bố mẹ phân bố, trên nền đá thường có nhiều rong
biển phát triển. Cao trình của bãi từ tuyến triều thấp trở xuống và có nồng độ muối từ 25-35%o. Sau mùa
sinh sản, theo dõi trên bãi giống khi thấy có nhiếu Bào ngư con kích thước 0,5-1cm (ấu thể) thì có thể tiến
hành thu giống. Cách thu giống đơn giản là dùng tay và móc để bắt giống.
2. Giống nhân tạo.
Hiện nay có nhiều cách cho Bào ngư sinh sản nhân tạo. Dùng các kích thích bằng hóa chất hoặc vật lý để
kích thích Bào ngư sinh sản như: tia cực tím, oxy già, gây sốc nhiệt, sốc pH... Qui trình sản xuất giống của
Nhật và Trung Quốc tương đối đơn gian và dể áp dụng đó là dùng nước chảy để kích thích Bào ngư sinh
sản.

chọn dựa vào màu sắc tuyến sinh dục và vận chuyển theo phương pháp giữ ẩm (5 giờ). Bố mẹ có
thể nuôi vỗ trong bể có các điều kiện sau:
Nhiệt độ nước: 27-29
o
C
Độ mặn: 30-34%o
pH: 7,6-8,4
Thức ăn: Rong Gracilaria, Ulva, Sargassum, Laminaria
Sục khí mạnh, thay nước 100%
Siphon đáy ( hút cặn)
Cung cấp vật bám làm nơi trú ẩn cho bào ngư
Kiểm tra thường xuyên quá trình phát triển của tuyến sinh dục để tiến hành cho sinh sản
• Kích thích sinh sản:
Kích thích bằng chiếu tia cực tím: dùng đèn có công suất 10W chiếu vào nước trong 10-20 phút
bào ngư sẽ đẻ, nêu không thì lặp lại vài lần
Kích thích nhiệt khô: bọc bào ngư trong một lớp gạc thầm nước đặt ngửa trên khay phơi trong 30-
60 phút,sau đó cho và bể nước trở lại sẽ kích thích bào ngư sinh sản
Kích thích nhiệt nước: Nâng nhiệt độ nước lên 4oC trong 4 giờ sau đó hạ nhiệt đột ngột bằng
nhiệt độ ban đầu, lặp lại vào lần bào ngư sẽ đẻ
Kích thích bằng oxy già: Bọc bào ngư trong tấm gạc thấm nước, đặt ngửa trên khai men phơi
trong 10 phút sau đó cho vào bể nước có chứa H
2
O
2
4 mM trong 30-60 phút, thay nước mới 30
phút sau thì bào ngư sẽ đẻ
Kích thích bằng cách kết hợp chiếu tia cực tím với kích thích nhiệt khô và nhiệt nước: Phơi bào
ngư 30-60 phút sau đó cho vào nước có chiếu tia cực tím, nâng nhiệt độ lên 4
o
C (từ 27 lên 31

1. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân loại
• Lớp Osteichthyes
• Lớp phụ Artinopterygii
• Bộ Perciformes
• Họ Eleotridae
• Loài: Oxyeleotris marmoratus Bleeker.
Các vi và tia vi
• Tia vi A I,9 (vi hậu môn)
• Tia vi ID VI (vi lưng)
• Tia vi IID I,9-10 (vi lưng)
• Tia vi P 17-19 (vi ngực)
• Tia vi V I,5 (vi bụng)
Hình 1: Hình dạng bên ngoài của cá Bống tượng
2. Đặc điểm về hình thái
Cá Bống tượng là loài có kích thước lớn nhất trong các loài thuộc họ cá bống. Thịt cá thơm ngon, ít xương
và có giá trị kinh tế cao. Cá có thân hình khỏe, dẹp bên về phía sau, đầu rộng và dẹp, mõm bằng. Miệng
hướng lên trên chẻ rộng và sâu, môi dưới lồi. Cá có mắt rộng nằm ở lưng bên. Vẩy cá rất nhỏ, vây lưng có
hai phần, vây ngực rất phát triển và nằm cao, vây bụng cũng rất phát triển và nằm ở mặt dưới của thân và
trước vây ngực, vây đuôi dài và tròn. Lúc tươi, thân cá có màu nâu đến màu gạch, đỉnh đầu đen. Mặt bụng
nhạt, lưng và hai bên có chấm đen, các vảy có màu nâu nhạt và các chấm đen không đều. (Nguyễn Anh
Tuấn, 1994).
3. Phân bố
Cá Bống tượng là loài đặc trưng cho vùng nhiệt đới. Chúng phân bố rộng rãi các nước thuộc Đông Nam
Châu Á như Campuchia, Lào, Thái lan, Indonesia, Malaysia và Việt nam. Ở Việt nam, cá được tìm thấy ở
các lưu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long, sông Vàm cỏ và sông Đồng nai (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995).
Cá Bống tượng có tập tính sống đáy, hoạt động nhiều về đêm, ban ngày thường vùi mình xuống bùn, đặc
biệt khi gặp nguy hiểm chúng có thể chúi xuống sâu đến 1m ở lớp bùn đáy và có thể sống ở đó hàng chục
giờ. Trong ao, cá ưa sống ẩn ở ven bờ, những nơi có hang hốc, rong cỏ và thực vật thủy sinh thượng
đẳng làm giá đỡ. Ở Việt nam, cá thường được khai thác, đánh bắt tự nhiên. Sản lượng khai thác tự nhiên
hàng năm khá lớn. Theo thống kê, sản lượng khai thác ở các tỉnh Nam bộ, Nam trung bộ và Tây nguyên

trong lồng, ao cá ăn được các thức ăn chế biến.
So với các loài cá khác, cá Bống tượng có độ tăng trưởng chậm, đặc biệt là ở giai đoạn dưới 100g, từ
100g trở lên tốc độ tăng trưởng của cá khá hơn. Ở giai đoạn từ cá bột đến cá giống, cá phải mất thời gian
là 2-3 tháng mới đạt được chiều dài khoảng 3-4 cm. Từ cá giống, để có thể đạt được kích cỡ 100 g/con
cho việc nuôi bè, cá cần 4-5 tháng nữa. Trong tự nhiên, những cá con còn sống sót sau khi nở phải cần
khoảng 1 năm để có thể đạt cỡ 100-300 g/con. Để có được cá thương phẩm tờ 400 g/con trở lên, cá giống
có trọng lượng 100 g/con cần thời gian nuôi trong từ 5 - 8 tháng, nuôi trong bè từ 5-6 tháng (Nguyễn Mạnh
Hùng, 1995).
Cá bống tượng thành thục sinh dục trên dưới một năm. Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá từ tháng 4-11, tập
trung từ 5-8. Khi đến mùa sinh sản, cá cái tìm cá đực bắt cặp và tiến hành sinh sản. Cá đẻ trứng dính và
tập hợp trứng lại tạo thành hình tròn bám vào giá thể. Ngoài tụ nhiên, cá đẻ trứng dính vào các hang, hốc
đá, rể cây và các vật thể khác dưới nước. Sau khi đẻ, cá đực canh tổ và tham gia ấp cùng cá cái, cá cái
bơi quanh ổ trứng và dùng đuôi quạt nước tạo thành dòng chảy lưu thông để cung cấp oxygen cho trứng
phát triển và nở thành cá con.
Sức sinh sản của cá bống tượng khá cao 100.000-200.000 trứng/kg cá cái. Tuy sức sinh sản cao nhưng
trong điều kiện tự nhiên có nhiều địch hại nên cá bị hao hụt nhiều.
III. KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ BỐNG TƯỢNG
Trong vài năm gần đây, phong trào nuôi cá bống tượng phát triển mạnh nhưng phần lớn con giống đều bắt
từ tự nhiên. Một số nơi đã cho sinh sản và ương nuôi thành công góp phần cung cấp cá giống cho người
nuôi. Qui trình nuôi vổ cá bố mẹ được thực hiện như sau:
1. Chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ
Ao nuôi cá bố mẹ có diện tích dao động từ 500–1000 m
2
. Ao có dạng hình chữ nhật, chiều dài gấp 3-4 lần
chiều ngang, độ sâu của ao từ 1,2-1,5m. Ao phải có nguồn cấp, thoát nước chủ động. Nguồn nước phải
trong sạch, không bị ô nhiễm. Đất không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Trước khi thả cá, ao phải được tát
cạn, tẩy dọn sạch sẽ, vét hết bùn đáy, lấp và trét hết các hang hốc, lổ cua, lổ mọi, lổ chuột đào, đắp lại chổ
sạt lở, trang bằng đáy. Nếu ao không tát cạn được thì tiến hành thuốc cá bằng rễ dây thuốc cá với liều
lượng 0,5 kg/100 m
2

Thời điểm nuôi vỗ thích hợp là vào cuối tháng 12 hay đầu tháng giêng. Cá có thể đẻ tự nhiên trong ao với
tỉ lệ ghép 1 đực và 1 cái. Trong ao nuôi vỗ nên tách riêng đực cái vì cá có thể đẻ tự nhiên trong ao và
thuận lợi sau này có thể thu được nhiều cá thể và nhiều trứng cùng một lúc.
• Mật độ nuôi vỗ. Mật độ nuôi chung cá bố mẹ trong một ao là 0,2-0,3 kg/m
2
, nếu nuôi riêng đực là
0,5 kg/m
2
và cái là 0,2 kg/m
2
.
• Chế độ nuôi vỗ. Nuôi vỗ cá bống tượng bằng các loại thức ăn như: cá vụn, tép, ốc, cua... Mỗi ngày
cho ăn 2 lần vào buổi sáng hay buổi chiều. Lượng thức ăn chiếm 3–5 % trọng lượng cơ thể. Thức
ăn nên được đặt trong máng hoặc sàng và đặt nơi cố định trong ao. Hàng ngày nên kiểm tra sàn
ăn, nếu thừa thì loại bỏ thức ăn, còn nếu thiếu thì bổ sung thêm thức ăn (Trần Mạnh Hùng, 1995).
Một nghiên cứu khác của Panu Tavatmaneekul (1989) ở Thái lan thì lượng thức ăn nuôi vỗ hàng
ngày chiếm 5–10 % trọng lượng thân. Trong gian đoạn đầu, tỉ lệ các thành phần thức ăn trong hỗn
hợp là: cá tạp 95 %, cám 4 % và 1 % vitamin, khoáng.
Bảng 2: Ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ lên sự thành thục cá bống tượng (Ngô Bá Thành và ctv, 1988)

Lô thí nghiệm Thức ăn nuôi vỗ Số cá thí nghiệm Số lần thành thục Tỉ lệ thành thục
I Giun đất 15 45 300%
II Cá, tép sống 13 35 269%
III Cá, tép chết 12 29 242%
Các thức ăn có nguồn gốc động vật đều cho kết quả thành thục tốt, điều này phù hợp với tính ăn của cá
trong tự nhiên. Cá bống tượng là loài đẻ nhiều lần trong năm, thời gian tái phát dục 3-4 lần/năm.
3. Sinh sản
Vật liệu cho đẻ. Cá bống tượng là loài đẻ trứng dính và có tập tính đẻ ở tầng đáy. Vì vậy khi cho cá đẻ ta
cần chuẩn bị tốt các giá thể. Giá thể thường là mê bồ hay gạch tàu. Nhược điểm của mê bồ là để lâu gây
thối nước ảnh hưởng đến trứng cá. Hiện nay giá thể thường sử dụng phổ biến là gạch tàu. Trước khi đặt

sau khi thụ tinh. Qua kinh nghiệm thực tiễn thì ấp trứng theo phương pháp nước tĩnh có sục khí là tốt nhất
vì kích thước cá bột rất nhỏ và rất yếu dể mẫn cảm với điều kiện môi trường (Ngô Bá Thành, 1988).
Phát triển phôi cá bống tượng
• Cá mới nở: có chiều dài 2,40-2,85 mm. Mắt chưa có sắc tố, cá nằm dưới đáy, bơi co giật một
đoạn ngắn
• Ngày thứ I bắt đầu xuất hiện bóng hơi, cá bơi một đoạn dài hơn.
• Ngày thứ II chiều dài 2,65-3 mm. Cá bơi lên mặt nước rồi chìm xuống đáy theo chiều thẳng đứng.
Noãn hoàng còn to.
• Ngày thứ III cá bắt đầu bơi ngang một đoạn ngắn, tim và mao quản thấy có màu hồng đỏ. Mắt có
sắc tố.
• Ngày thứ IV chiều dài cá 3-3,2 mm. Cá bắt đầu mở miệng hớp mồi, thấy xuất biện những mấu
răng bên trong hàm, một vài sắc tố xuất hiện trên đuôi cá bột.
• Ngày thứ V vi ngực bắt đầu hơi nhú noãn hoàng tiêu hết.
• Ngày thứ VI chiều dài cá 3,2-3,6 mm. Cá bơi lưng chừng mặt nước, miệng mở rộng.
• Ngày thứ VII. Cá chết nhiều nếu không có thức ăn thích hợp.
• Ngày thứ VIII. chiều dài 3,9-4,2 mm. Đốt sống cuối cùng cong ngược lên phía lưng.
• Ngày thứ X. chiều dài 5-7mm. Các vi hình thành với đầy đủ các tia vi, sắc tố đen xuất hiện ngang
hông với các vi hậu môn. Cá bơi nhanh nhẹn.
• Ngày thứ XX. Cá có chiều dài 10-11 mm. Cá hình thành đầy đủ các cơ quan và có hình dáng như
cá trưởng thành. Cá có tập tính nằm sát đáy, ít di chuyển.
2. Ương nuôi cá bột
Có hai cách ương cá bột bống tượng là ương trong ao đất và uơng trong bể xi măng.
a. Ương trong ao đất
Ao ương:
• Ao ương có thể là ao tự nhiên sẳn có, nếu đào mới, ao nên có hình chử nhật, xuôi chiều gió, chiều
dài bằng 2-3 lần chiều rộng.
• Diện tích ao dao động 250-1000 m
2
, tốt nhất 400-500 m
2

đối với phân hữu cơ và 3-4 g phân DAP.
b. Ương trong bể xi măng
Mật độ ương trên bể xi măng thường là 1000-2000 con/m
2
giai đoạn đầu và 150-250 con/m
2
ở giai đoạn
sau
Kỹ thuật ương. Có thể ương cá thành 2 giai đoạn: từ 3-10 ngày tuổi và 10-60 ngày tuổi.
Cá bột từ 3-10 ngày tuổi được ương trong bể xi măng với các loại thức ăn khác nhau như lòng đỏ trứng (1
trứng/2 vạn cá), bột đậu nành xay nhuyễn (1 muỗng cà phê/5000 cá) và thức ăn tự nhiên với thành phần
chủ yếu là nguyên sinh động vật - Protozoa, trùng bánh xe - Rotifera, tảo đơn bào Chlorella.
Sau 10 ngày ương, cá có thể ăn được các loại sinh vật thức ăn có kích thước thấy được bằng mắt thường
như giáp xác chân chèo, giáp xác râu ngành. Trong giai đoạn này, cá được cho ăn thêm Moina và lòng đỏ
trứng trộn với đậu nành số lượng giảm đi một nữa. Khi cá được 15 ngày tuổi thì không cần cung cấp trứng
và bột đậu nành. Sau 25 ngày cá đã hình thành đầy đủ sắc tố và bám vào thành bể bằng vi bụng hay nằm
ở đáy bể. Sau 30 ngày tuổi cá có thể ăn ấu trùng muổi, giáp xác nhỏ... Sau 60 ngày cá đạt 3-4 cm thì tiến
hành đem nuôi thịt.
IV. KỸ THUẬT NUÔI CÁ THỊT
1. Nuôi trong ao đất
a. Chuẩn bị ao nuôi.
Ngoài các tiêu chuẩn kỹ thuật như ương, nuôi vỗ, ao nuôi cá bống tượng thịt nên chọn thông qua các tiêu
chuẩn sau:
• Hệ thống nuôi phải gần nguồn cung cấp nước, nước ra vô thường xuyên, điều kiện thay nước
cũng được thực hiện dễ dàng. Độ đục < 80 mg/l.
• Chất lượng nước tốt, không bị nhiễm phèn, nhiễm bẩn từ các nguồn nước sinh hoạt, nước thải từ
các khu công nghiệp.
• Ao nên chọn những nơi có thành phần cơ giới nặng như đất sét, thịt pha sét.
• Đối với ao đã nuôi rồi, nên vét hết lớp bùn đáy ao, trước khi thả nuôi tiếp.
• Ao ở nơi thoáng mát, gần nhà để tiện chăm sóc và bảo vệ.

quan trọng, quyết định đến sự thành công của hệ thống nuôi.
b. Bè và cách đóng bè
Vật liệu: Bè có thể làm bằng tre, gổ hay tre, gổ kết hợp. Để giữ cho bè nổi lên trên mặt nước, người ta
dùng hệ thống phao. Phao thường được làm bằng thùng phuy (Hình 2A), thùng nhựa hay bằng tre (Hình
2B). Số lượng thùng phuy sử dụng tùy thuộc vào kích thước bè. Trung bình cớ 8-9 thùng cho bè 15m
3
. Đối
với bè nhỏ người ta có thể sử dụng phao làm bằng tre. Tre, nứa nguyên cây đem phơi khô sau đó bó lại
thành bó 10-15 cây cặp hai bên bè.
Thiết kế bè. Bè thường có hình hộp chử nhật với kích thước khác nhau. Kích thước một số bè như sau 3 x
2 x 1.5 m hay 4 x 3 x 1,75 m. Bè nên đặt có một phần nổi trên mặt nước cách mặt nước 0,2-0,5 m. Hiện
nay bè nuôi cá Bống tượng có hai dạng chính là bè cố định và bè nổi. Ngoài ra một số nơi như Đồng tháp,
người ta đào ven kênh, rạch rồi dùng cây, ván bao xung quanh và nuôi cá trong đó. Bè nên đặt cách nhau
2 m đủ để một xuồng nhỏ qua lại và gió có thể thông được bè.
Hình 2. Thiết kế lồng bè nhỏ nuôi cá bống tượng
c. Thả giống
Nuôi cá trong bè tốt nhất nên chọn đều cở, trọng lượng từ 10-12 con/kg. Cá phải khỏe mạnh
nhiều nhớt, không bị xây xát, đuôi xòe rộng. Nếu phát hiện thấy cá có vết lở loét hoặc ghẻ lở
nên loại bỏ. Còn nếu thấy có trùng mỏ neo, rận... thì có thể tắm nước muối 2-3 ‰ trong 5-7
phút. Mật độ cá thả 20-30 con/m
3
.
d. Chăm sóc và quản lý
Hàng ngày nên cho ăn vào lúc chiều mát hay buổi sáng. Thời gian đầu cho cá ăn tép,
trùng, cá nhỏ: lòng tong, cá cơm, linh, bống trứng... Bên cạnh thức ăn là mồi
sống, thức ăn động vật có thể thả trực tiếp vào trong sàn với lượng thức ăn
chiếm từ 5–7 % trọng lượng thân/ngày. Với kích cỡ ban đầu 100 g/con thì sau
thời gian 7 tháng nuôi, trọng lượng cá có thể đạt từ 400-600 g/con. Nếu kích cỡ
cá giống thả nhỏ hơn 100 g/con thì thời gian nuôi đến khi thu hoạch có khả
năng chậm hơn (8–10 tháng). Điểm cần lưu tâm trong quá trình quản lí hệ
Trích đoạn Các phương pháp canh tác Ngày sau khi thả Lượng thức ăn (g) KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ TRA Moina sp Tr ùng chỉ Đặc điểm sinh học cá rơ đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status