Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ trong ca dao tình yêu người việt tt - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------

VŨ THỊ TUYẾT

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƯỜI VIỆT
Ngành:
Mã số:

Ngôn ngữ học
9.22.90.20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đỗ Việt Hùng
Phản biện 1: GS.TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 2: GS.TS. Nguyễn Văn Khang
Phản biện 3: GS.TS. Đinh Văn Đức
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477

nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt. Qua đó, chỉ ra những nét đặc
trưng trong bức tranh ngữ nghĩa của từ ngữ và những đặc trưng tư duy của
người Việt xưa về tình yêu. Đồng thời, luận án cũng muốn làm rõ những
điểm tương đồng và sự phái sinh của các nghĩa biểu trưng mà từ ngữ trong

1


2
hai trường nghĩa tiêu biểu mang lại trên cơ sở các nghĩa biểu trưng được
khái quát trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới.
1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu, xây dựng những cơ sở lí luận có
liên quan đến đề tài luận án như các nghiên cứu về nghĩa của từ, sự
chuyển nghĩa, trường nghĩa, trường nghĩa “thực vật”, trường nghĩa “vật
thể nhân tạo” và các nghiên cứu về nghĩa biểu trưng.
- Thống kê, xác lập được hệ thống các tiểu trường, các nhóm từ
thuộc hai trường nghĩa chỉ “thực vật” và “vật thể nhân tạo”.
- Phân tích ngữ nghĩa của từ, sự chuyển trường của từ cũng như
nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ “thực vật” và “vật thể nhân tạo” tiêu
biểu trong ca dao tình yêu người Việt.
- Chỉ ra được đặc trưng văn hóa của dân tộc trong việc sử dụng từ
ngữ chỉ thực vật, vật thể nhân tạo để biểu trưng cho một số vấn đề trong ca
dao tình yêu. Trên cơ sở các nghĩa biểu trưng được nêu trong Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới, chúng tôi soi chiếu vào hệ thống các nghĩa biểu
trưng có được trong ca dao tình yêu người Việt. Qua đó, làm rõ điểm tương
đồng cũng như sự phái sinh các nghĩa biểu trưng trên cơ sở các mẫu gốc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa của từ ngữ thuộc hai

nghĩa của từ tiếng Việt nói chung.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu mà luận án mang lại có thể sử dụng như một tài
liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ và văn

3


4
học trong nhà trường. Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần
làm rõ thêm một đường hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung cấp cho người làm công tác giảng dạy
thêm một công cụ chiếm lĩnh ngôn ngữ văn chương từ phương diện ngôn
ngữ. Các kết quả nghiên cứu có thể phục vụ cho việc biên soạn từ điển về
nghĩa biểu trưng trong kho tàng ca dao Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa được các nhóm từ cơ bản, điển hình
trong ca dao tình yêu người Việt. Từ đó, sẽ cho người đọc thấy được một
bức tranh khái quát về hệ thống các từ ngữ trong loại hình ca dao tình yêu
của người Việt.
- Luận án cũng xác lập và phân tích được nghĩa gốc, nghĩa chuyển,
chỉ ra được cơ chế chuyển nghĩa của các từ ngữ tiêu biểu mang tính đại
diện cho hệ thống các từ ngữ trong ca dao tình yêu người Việt.
- Trên cơ sở phân tích đặc điểm nghĩa của từ về các phương diện
nghĩa gốc, nghĩa chuyển, luận án cũng chỉ ra được cơ chế tạo nghĩa biểu
trưng, ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ tiêu biểu trong nhóm từ chỉ thực
vật và vật thể nhân tạo. Những phân tích này cũng góp phần làm rõ mối
quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa và tư duy.
7. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm 3

về ngữ nghĩa. Bên cạnh đó, ngữ nghĩa giai đoạn này cũng gắn với tên tuổi
nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi như: Agathon Benary, Karl Reisig, Oskar
Hey, Friedrich Haase, …. Giai đoạn này trong nghiên cứu nghĩa của từ là
giai đoạn nghiên cứu các quy luật biến đổi nghĩa từ vựng.

5


6
Tác giả đặt nền móng cho ngữ nghĩa học là nhà ngôn ngữ học
người Anh Benjamin Humphrey Smart. Ông được xem là người có đóng
góp to lớn tới khoa học ngữ nghĩa với một số bài nghiên cứu về khoa học
này. Nghiên cứu về nghĩa và sự chuyển nghĩa giai đoạn này cũng gắn liền
với nhiều tác giả như: Ch. Ogden, V. Lady Welly, I. Richard, Peirce,…
Ngôn ngữ học cấu trúc đánh dấu sự trở lại vào những năm 20 của
thế kỉ XX với cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. de Saussure
(1916). Giai đoạn này có rất nhiều các công trình nghiên cứu nổi tiếng của
giả G. Stern, S. Uilimann, A. Schaff… Nghiên cứu ngữ nghĩa đánh một
dấu mốc quan trọng xác lập vị trí của mình với các công trình của
Bloomfield và Chomsky. Thời kì này, ngữ nghĩa còn đi cùng với tâm lí
thực nghiệm và logic toán.
Thời kì tiền cấu trúc luận và cấu trúc luận, các nghiên cứu đa số
đều tập trung vào vấn đề ngữ nghĩa và sự biến đổi ngữ nghĩa. Các nghiên
cứu thời kì này xem xét ngữ nghĩa của từ tách rời, biệt lập, không chú ý
đến văn cảnh, ngữ cảnh.
Tác giả Lê Thị Thanh Tâm trong luận án của mình đã chỉ ra rằng
việc nghiên cứu sự phát triển nghĩa của từ của các nhà ngôn ngữ học nước
ngoài có thể tạm chia làm ba khuynh hướng chính: Thứ nhất là nghiên cứu
theo logic học, thứ hai là nghiên cứu theo tâm lí học; thứ ba là khuynh
hướng nghiên cứu theo lịch sử. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng

Việt hiện đại và Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Văn Tu, Từ
vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng,… của Đỗ
Hữu Châu.

7


8
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu từ, các tác giả cũng tập trung nghiên
cứu về sự phát triển ngữ nghĩa. Đó chính là kết quả của quá trình chuyển
nghĩa của từ. Hầu hết các công trình nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của
từ đều bàn đến các nội dung như: hướng chuyển nghĩa, nguyên nhân
chuyển nghĩa, các phương thức phát triển nghĩa, mối quan hệ giữa nghĩa
cũ và nghĩa mới. Hiện nay, trong nghiên cứu ngữ nghĩa, còn xuất hiện xu
hướng so sánh nghĩa chuyển trong các ngôn ngữ khác nhau.
Việc nghiên cứu ngữ nghĩa cũng thường gắn với lí thuyết trường
nghĩa. Ở Việt Nam có khá nhiều các nhà nghiên cứu đề cập đến lí thuyết
trường nghĩa: Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,…
Người giới thiệu về lí thuyết trường nghĩa đầy đủ, hệ thống nhất là Đỗ
Hữu Châu.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về ca dao tình yêu người Việt dưới góc
độ ngôn ngữ
Từ góc độ ngôn ngữ, ca dao nói chung và ca dao tình yêu nói riêng
đã được khai thác ở nhiều phương diện khác nhau: trường nghĩa, hiện
tượng nhiều nghĩa, nghệ thuật ca dao,… Một bức tranh tổng quát về ngữ
nghĩa của từ ngữ trong loại hình này là chưa xuất hiện.
Ca dao tình yêu dưới góc nhìn của các nhà ngôn ngữ được khai thác
ở nhiều góc độ như các biện pháp tu từ được sử dụng trong ca dao: các
hành động, hành vi ngôn ngữ,... Nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ ngữ
trong ca dao tình yêu được khai triển trên một số phương diện: đặc điểm

trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ
thực hiện chức năng công cụ giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức
năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn

9


10
ngôn” và “Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức năng, song
không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một loại chức năng
thể hiện qua văn cảnh”.
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng “nghĩa của từ là một thực thể tinh
thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ”.
b. Nét nghĩa và cấu trúc nghĩa của từ
Đỗ Hữu Châu kết luận: “Tập hợp một số nét nghĩa thành nghĩa biểu
niệm là một tập hợp có quy tắc… Chúng ta thấy có những nét nghĩa
chung cho nhiều từ và những nét nghĩa riêng cho từng từ”.
c. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Bàn về vấn đề này, các nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau:
sự chuyển nghĩa, chuyển trường, mối quan hệ giữa các nghĩa chuyển,
phương thức chuyển nghĩa,…
d. Các phương thức chuyển nghĩa
Sự chuyển biến nghĩa của từ chủ yếu diễn ra theo hai phương thức:
phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ.
1.2.1.3. Khái niệm ngữ
Ngữ được xem là tổ hợp của các từ theo một quan hệ ngữ pháp nhất
định, có thể là quan hệ chủ - vị, quan hệ đẳng lập hoặc quan hệ chính phụ.
1.2.2. Trường nghĩa
1.2.2.1. Khái niệm trường nghĩa
“Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó

1.2.3.2. Khái niệm tín hiệu ngôn ngữ

11


12
Tín hiệu ngôn ngữ có hai mặt là cái biểu đạt và cái được biểu đạt
nhưng quan hệ giữa hai mặt này mang tính võ đoán cao. Cái biểu đạt là hình
thức âm thanh hoặc chữ viết còn cái được biểu đạt là nội dung, ý nghĩa mà
tín hiệu đó biểu đạt.
1.2.3.3. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ thuộc hệ thống các phương tiện được lựa chọn và
sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật nhằm biểu hiện nội dung thẩm mĩ. Tính
thẩm mĩ của các tín hiệu thẩm mĩ biểu hiện ở sự thống nhất biện chứng giữa
nội dung và hình thức, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng nằm ở cả nội
dung và hình thức của tín hiệu.
1.2.3.4. Quan hệ giữa biểu trưng và nghĩa gốc
Theo quan niệm của L. HjemSlev, nghĩa biểu trưng bao giờ cũng
được xây dựng trên nghĩa gốc, nghĩa bản thể của tín hiệu ngôn ngữ. Khi
trở thành tín hiệu thẩm mĩ thì hai mặt CBĐ và CĐBĐ của tín hiệu ngôn
ngữ sẽ trở trở thành CBĐ của tín hiệu thẩm mĩ.
1.2.3.5. Con đường hình thành biểu trưng
Quá trình lao động, hình thành kinh nghiệm sống, các nét văn hóa
được kết tụ theo thời gian đã góp phần chuyển nghĩa từ gốc dần thành một
biểu trưng trong ý niệm của mỗi thế hệ trong mỗi dân tộc.
1.2.4. Vài nét về ca dao
1.2.4.1. Khái niệm ca dao
Theo cách hiểu thông thường, ca dao là: “lời của bài hát dân ca đã
tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy,... hoặc những câu thơ có thể bẻ đi
làm điệu dân ca… Khái niệm ca dao được quyết định dùng để chỉ bộ phận

Từ ngữ chỉ
thực vật

Số lời ca
xuất hiện

13

Tỉ lệ
%

Số lượt xuất
hiện

Tỉ lệ
%


14
1.

Cây
1514
2.
Hoa
709
3.
Quả
535
Tổng số

Tỉ lệ các từ ngữ chỉ hoa chuyển nghĩa là cao nhất, sự chuyển nghĩa
của những từ ngữ này xuất phát từ mối quan hệ gần gũi với đời sống con
người nhất là người phụ nữ.
2.2.4. Sự chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ quả trong ca dao tình yêu
người Việt
So với các từ ngữ chỉ thực vật khác, từ ngữ chỉ quả có sự chuyển
nghĩa khiêm tốn nhất.
2.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu
người Việt

14


15
2.3.1. Mối quan hệ giữa đặc điểm bản thể và ý nghĩa biểu trưng của từ
ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu người Việt
Nghĩa biểu trưng có quan hệ chặt chẽ với đặc điểm sự vật được
định danh bằng ngôn ngữ. Những hiểu biết về các đặc điểm của thế giới
thực vật về đặc điểm hình thức bên ngoài như hình dáng, màu sắc, kích
thước, mùi vị,… ; môi trường sống, tập quán sống, quá trình sinh trưởng
đã trở thành những đặc điểm quan trọng cho quá trình biểu trưng hóa.
2.3.2 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ cây trong ca dao tình yêu người
Việt
2.3.2.1. Khái quát về nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ cây trong ca dao
tình yêu người Việt
Cây biểu trưng cho quy luật tuần hoàn của cuộc sống. Cây biểu
trưng cho vẻ đẹp hình thức và tâm hồn của con người đặc biệt là người
phụ nữ. Cây biểu trưng cho những phẩm chất cao đẹp của con người, cho
các cung bậc, sắc thái cũng như các triết lí về tình yêu nam nữ
2.3.2.2. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ một số loài cây trong ca dao tình

biểu trưng cho khát vọng của hạnh phúc. Hoa biểu trưng cho những
nguyên tắc ứng xử trong tình yêu, cho thái độ và lối sống của người Việt.
Các kết hợp của hoa biểu trưng cho sự gắn kết lứa đôi trong tình
yêu: hoa – bướm, ong – hoa, lan – huệ, liễu – đào, nguyệt – đào, mận –
đào,… hoặc giữa hoa với môi trường sống như: lựu – bồn, sen – hồ,…
2.3.3.2. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ một số loài hoa trong ca dao tình
yêu người Việt
a. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa đào trong ca dao tình yêu người Việt
- Hoa đào biểu trưng cho vẻ đẹp của người thiếu nữ.
- Hoa đào biểu trưng vẻ đẹp chóng phai tàn của đời người phụ nữ.

16


17
- Hoa đào biểu trưng cho phương thức tỏ tình trong tình yêu.
- Cặp đôi mận – đào mang ý nghĩa biểu trưng tinh tế về sự cân xứng trong
tình yêu lứa đôi. Kết hợp hoa đào – hoa lựu biểu trưng cho sự xa cách, sự
trắc trở trong tình yêu
- Các từ ngữ chỉ tập hợp liên quan đến các loài hoa đã trở thành phương
tiện để biểu trưng cho không gian của tình yêu.
b. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa sen trong ca dao tình yêu người Việt
- Hoa sen biểu trưng cho vẻ đẹp thuần khiết giữa bụi trần tục lụy.
- Hương sắc của hoa sen biểu trưng cho vẻ đẹp nội tâm của người con gái
nói riêng và của người Việt Nam nói chung.
- Hoa sen biểu trưng cho vẻ đẹp nam giới.
- Hoa sen không những là biểu trưng cho vẻ đẹp về hình thức và tâm hồn
của người thiếu nữ mà còn là biểu tượng cho khí chất của người Việt nói
chung.
- Hoa sen cũng được nhân cách hóa để biểu trưng cho sự gắn kết trong

trình kiến trúc chiếm 6,7% trong tổng số 6102 lời ca dao tình yêu.
3.2. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao
tình yêu người Việt
3.2.1. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ công trình kiến trúc trong ca dao
tình yêu người việt
Các từ ngữ chỉ công trình kiến trúc có sự chuyển nghĩa ít nhất trong
các từ chỉ vật thể nhân tạo.
3.2.2. Sự chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình
trong ca dao tình yêu người việt
Các từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình có sự chuyển nghĩa với tần
số cao nhất ở các từ chỉ chăn, gối, giường, chiếu, bát, đũa, nồi, mâm.

18


19
3.2.3. Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ đồ dùng cá nhân trong ca dao
tình yêu người việt
Các từ ngữ chỉ đồ dùng cá nhân có sự chuyển nghĩa rõ nét nhất ở
các từ ngữ chỉ trang phục: áo, khăn, yếm.
3.2.4. Sự chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ phương tiện và công cụ sản
xuất trong ca dao tình yêu người việt
Các từ chỉ phương tiện di chuyển trên đường thủy: thuyền, đò,
ghe có sự chuyển nghĩa rõ nét nhất.
3.3. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao
tình yêu người Việt
3.3.1. Mối quan hệ giữa đặc điểm bản thể và ý nghĩa biểu trưng của từ
ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt
Giữa đặc điểm bản thể và nghĩa biểu trưng có mối quan hệ chặt
chẽ, mối quan hệ đó được thể hiện như sau: Những hiểu biết về các đặc

3.3.3. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình
trong ca dao tình yêu người Việt
Nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình được thể
hiện rõ nhất ở các từ chỉ chăn, gối, giường, chiếu; chén, bát, nồi, mâm, đũa
3.3.3.1. Nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ chăn, gối, giường, chiếu
trong ca dao tình yêu người Việt
- Chăn, gối, giường, chiếu biểu trưng cho sự đối lập của các tình cảnh
cuộc sống.
- Chăn, gối, giường, chiếu biểu trưng cho hạnh phúc lứa đôi.
- Chăn, gối, giường, chiếu biểu trưng cho mong ước của tình yêu đôi lứa.

20


21
- Chăn, gối, giường, chiếu biểu trưng cho chân lí của tình yêu đích thực.
- Sự cô đơn, xa cách trong đời sống tình cảm lứa đôi cũng được biểu trưng
qua sự cô quạnh của các vật dụng. Khi cô đơn xa cách các vật dụng có xu
hướng lệch quỹ đạo, nhiệt độ thấp hơn bình thường. Còn khi các vật dụng có
xu hướng đi đúng quỹ đạo, nhiệt độ ấm áp biểu trưng cho tình yêu hạnh phúc.
- Chăn, gối, giường, chiếu biểu trưng cho ước mơ về cuộc sống lứa đôi.
3.3.3.2. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ chén, bát, nồi, mâm, đũa trong ca
dao tình yêu người Việt
- Chén, bát, đũa, mâm, nồi là thể hiện ước mơ, nguyện vọng về hạnh phúc
trọn vẹn, mong muốn được về chung một nhà.
- Chén, bát, đũa, nồi, mâm biểu trưng cho mối quan hệ xứng hợp trong
tình yêu.
- Trong số các vật dụng trên, đôi đũa là một hình ảnh đặc biệt. Đôi đũa
được xem như một biểu trưng tiêu biểu cho quan hệ lứa đôi.
- Sự không tương xứng về đặc điểm của các vật dụng đã biểu trưng cho sự

trưng.
Hình ảnh chiếc dây lưng/dải lưng biểu trưng cho sự giới hạn, cho ranh
giới liên quan đến hành vi buộc và cởi. Hình ảnh này cũng liên quan đến
tính nữ, đến vẻ đẹp đảm đang của người thiếu nữ cũng như ước mơ về
một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc
Trang sức biểu trưng cho vẻ đẹp cũng như hoàn cảnh sống của con
người. Các loại trang phục luôn được miêu tả trong sự bổ sung, tương tác
với các hệ biểu tượng văn hóa khác.
3.3.5. Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ phương tiện và công cụ sản xuất
trong ca dao tình yêu người Việt

22


23
Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ phương tiện và công cụ sản xuất trong
ca dao tình yêu người Việt tập trung ở các từ chỉ thuyền, đò, ghe.
- Trong ca dao tình yêu, nghĩa biểu trưng của hình ảnh con thuyền xuất
phát từ đặc tính di chuyển của cuộc hành trình.
- Thuyền – đò – ghe mang các đặc điểm mang tính dương của sự vật vận
động xông pha, vững vàng vượt qua khó khăn, thử thách, phong ba bão
táp với những tay chèo đã trở thành trụ cột của gia đình, bảo vệ gia đình,
bảo vệ tình yêu.
- Thuyền biểu trưng cho tình cảnh người phụ nữ trong sự băn khoăn tìm
kiếm bạn tình.
- Thuyền cũng là phương tiện được dùng với nghĩa biểu trưng cho phẩm
chất của tình yêu, cho hành trình của tình yêu và cho sự chinh phục những
thử thách khó khăn, gian nan.
- Thuyền dùng để biểu trưng cho nỗi cô đơn, cho số phận người đàn ông
chưa vợ hay người phụ nữ không chồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status