VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG LOAN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI
HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN –
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG LOAN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI
HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN –
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
phát huy. Những năm gần đây, với quá trình đô thị hoá và đẩy mạnh công
nghiệp hoá, Đà Nẵng là thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh nhiều diện tích
đất ở, đất sản xuất bị thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng để đầu tư phát
triển đô thị theo hướng văn minh hiện đại. Cùng với tiến trình đô thị hóa của
thành phố, quận Ngũ Hành Sơn là một trong những đơn vị có tốc độ đô thị
hóa nhanh, toàn quận có hơn 100 dự án đã và đang triển khai thực hiện trong
đó, có 6.043 hồ sơ thực hiện việc di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất để nhà
3
nước thực hiện đầu tư các dự án. Tổng diện tích đất thu hồi là: 1.721ha, trong
đó đất thổ cư: 286,6ha, đất nông nghiệp và các loại khác là 1.452,4ha, dẫn đến
một lực lượng lớn lao động không có việc làm do bị thu hẹp hiện tích và quy
mô đất sản xuất nông nghiệp, tình hình đời sống của người dân sau khi bị thu
hồi đất hiện nay rất khó khăn gây ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế,
tình hình an ninh - xã hội của quận nói riêng và thành phố nói chung. Mặc dù
trong quá trình thu hồi đất Chính phủ và thành phố đã ban hành nhiều chính
sách đối với người dân như hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi
nghề, hỗ trợ tái định cư,… tuy nhiên những vấn đề hậu giải phóng mặt bằng
mà trong đó vấn đề giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất,
chính sách pháp luật về hỗ trợ còn chưa đồng bộ, bất cập và đang là vấn đề
bức thiết cần được quan tâm giải quyết. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Thực hiện
chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời giải tỏa thu hồi đất trên địa bàn
quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu, làm luận văn tốt
nghiệp của mình, với mong muốn góp phần tìm ra giải pháp có hiệu quả góp
phần thực hiện chính sách trong giải quyết hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
nhằm góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống được cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn
ở thành phố Tam Kỳ thời gian qua, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế.
Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để giải quyết
việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở thành phố Tam Kỳ.
Ngoài các tài liệu nghiên cứu trên, còn có nhiều những bài báo khoa
học, những nghiên cứu nói về việc cần phải giải quyết việc làm cho lao động
thuộc diện thu hồi đất ở nhiều khía cạnh, cũng như những khó khăn còn tồn
tại của vấn đề này.
Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài: “Thực hiện
chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất trên địa
5
bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích đánh giá khi thực hiện chính sách này tại quận Ngũ Hành
Sơn
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng
trong thời gian tới nhằm giải quyết hài hòa giữa các bên liên quan là Nhà
nước, nhà đầu tư và người thu hồi đất.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ đối với người dân diện
di dời khi nhà nước thu hồi đất.
- Phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ trên địa bàn quận Ngũ Hành
Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính
sách hỗ trợ đối với người dân diện di dời khi Nhà nước thu hồi đất nói chung
sách và thực hiện chính sách hỗ trợ tại quận Ngũ Hành Sơn nói riêng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân tích và
tổng hợp các quy định của pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nói
chung và các thông tin về thực tiễn áp dụng hỗ trợ tại các dự án trên đại bàn
quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp thống kê: nhằm tiến hành thu thập tài liệu, số liệu báo
cáo phục vụ cho việc phân tích và đánh giá kết quả.
- Phương pháp phân tích và đánh giá chính sách: tìm hiểu các chính
sách hiện hành, các nghiên cứu đã có về chính sách trong lĩnh vực giải phóng
mặt bằng, nêu quan điểm của các tác giả từ đó đề ra các giải pháp phù hợp với
7
địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để tham khảo và kiểm trai lại
các phân tích, đánh giávà đề xuất thực hiện chính sách hỗ trợ ở địa bàn nghiên
cứu.
- Phương pháp xã hội học: Thu thập các dữ liệu xây dựng chính sách
giải phóng mặt bằng; đánh giá cán bộ trực tiếp người dân được hưởng chính
sách.
6. Ý nghĩa lý luận và phương pháp thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tế vận dụng các kiến thức để
đánh giá thực hiện chính hỗ trợ.
- Qua nghiên cứu đề đã cho thấy việc vận dụng lý luận về đánh giá
chính sách công trong quá trình triển khai thực hiện đã phát hiện các vấn đề
hỗ trợ làm cơ sở và định hướng cho việc đưa ra các kiến nghị cho thực hiện
chính sách tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
động của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hỗ trợ đối với người dân có đất bị
thu hồi nhằm đạt tới sự hài hòa, hợp lý về lợi ích, hiệu quả và phát triển bền
vững.
9
Chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất
là căn cứ quan trọng mà dựa vào đó để xác dịnh nội dung, mức độ hỗ trợ,
chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ sản xuất, ổn định đời sống cho người dân bị
thu hồi đất.
- Mục tiêu của chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải
tỏa, thu hồi đất:
Thứ nhất: Đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, người sở
hữu nhà ở.
Thứ hai: Khuyến khích người dân giao đất.
Thứ ba: Ổn định việc làm góp phần nâng cao đời sống cho người dân
mất đất.
- Nội dung của chính sách hỗ trợ
Quy định mức và phương thức hỗ trợ
Quy định hỗ trợ người bị thu hồi đất
Quy định phương thức và mức hỗ trợ
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ :
Cơ sở pháp lý liên quan đến việc thu hồi đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Hoạt động giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà ở
Chính sách định giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam về tổ chức thực hiện
chính sách hỗ trợ.
1.1.2. Các tính chất của việc hỗ trợ khi thu hồi
Việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đất đai nói chung, và chính
sách hỗ trợ nói riêng giúp cho chúng ta có cơ sở để tổng kết, đánh giá hiệu
quả của hệ thống pháp luật
Thứ ba, góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém trong hoạt động
của cơ quan nhà nước trong công tác giải phóng mặt bằng.
Việc thực hiện chính sách về hỗ trợ của cơ quan nhà nước phải được
11
thanh tra, kiểm tra cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sự giám sát của các cơ
quan dân cử các phương tiện triền thông và quan trọng hơn là sự giám sát của
nhân dân, sẽ giúp kịp thời phát hiện những sai phạm, yếu kém trong quá trình
tổ chức thực hiện việc hỗ trợ.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước.Theo đó mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuyệt
đối tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước.Nói cách khác pháp chế là
tính “linh thiêng” của pháp luật.Thực hiện đúng pháp luật trên thực tế sẽ làm
cho pháp chế được đảm bảo.
1.1.3. Các nguyên tắc và yêu cầu đối với công tác hỗ trợ đối với hộ
dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất
- Chính sách hỗ trợ được thực hiện thông qua một hoặc kết hợp các
hình thức bằng tiền, bằng đất, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và đảm
bảo công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.
- Hiệu quả tiết kiệm ngân sách Nhà nước cả trong trước mắt cũng như
lâu dài. Phải tiết kiệm, không được lãng phí nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích
và điều kiện sống của người bị thu hồi đất.
- Giải quyết hợp lý của các bên liên quan
1.2. Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện
di dời, giải tỏa, thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất
được Đảng lãnh đạo và ban hành.
- Bảo đảm về pháp lý: Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải
quyết các kiến nghị, khiếu nại, phản ánh của người dân, năm 2008, UBND
quận đã thành lập Tổ công tác giải tỏa đền bù để vừa theo dõi, tham mưu lãnh
đạo giải quyết các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án vừa tham mưu
trong công tác giải quyết trả lời đơn thư công dân. Sau này, để đảm bảo triển
khai công tác tiếp công dân theo Luật tiếp công dân 2013 và các văn bản
hướng dẫn dưới luật, UBND quận đã ban hành: Quyết định số 2121/QĐ-
13
UBND ngày 28/7/2014 thành lập Ban tiếp công dân quận; Quyết định số
2131/QĐ-UBND ngày 29/7/2014 về việc ban hành Nội quy tiếp công dân tại
trụ sở tiếp công dân quận. Do có sự thay đổi về nhân sự và kiện toàn lại Ban
tiếp công dân đúng theo tiêu chuẩn, UBND quận đã ban hành Quyết định số
1106/QĐ-UBND ngày 07/4/2017 về việc tổ chức lại Ban tiếp công dân quận
và Quyết định 1181/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 quy định về tổ chức và hoat
động của Ban tiếp công dân (quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
chức, biên chế, công tác phối hợp trong hoạt động tiếp công dân, điều kiện
bảo đảm hoạt động tiếp công dân).
- Bảo đảm về đời sống cho người bị thu hồi đất: Thực hiện chính sách,
pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất GPMB cần phải có nguồn kinh phí,
vật chất khá lớn và cả về cơ chế chính sách và trình độ, năng lực, phẩm chất của
cán bộ, công chức.
Đồng thời phải có trình độ chuyên môn sâu, hiểu rõ, đúng những thay
đổi của văn bản pháp quy trong từng thời điểm, phải có trung thực thì cần
phải xây dựng được hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ từ quy hoạch, đến
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cả về phẩm chất chính trị, cả về chuyên
môn và khả năng thực thi công việc và chế độ đãi ngộ phù hợp trong lĩnh vực
được triển khai ở quận, huyện nào thì Chủ tịch UBND quận, huyện đó làm chủ
tịch Hội đồng GPMB.
- Định kỳ hằng tháng chủ tich Ủy ban nhân dân Thành phố đều xếp
lịch tiếp dân để nghe nguyện vọng, giải quyết những vấn đề bức xúc của
người dân.
* Kinh nghiệm của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Cùng với quá trình đô thị hóa của thành phố Đà Nẵng, quận Cẩm Lệ
được TP quy hoạch mở rộng để trở thành trung tâm kinh tế- văn hóa ở cửa
ngõ phía Tây, Tây nam của TP. Do đó, trong thời gian qua, đi đôi với quy
hoạch đầu tư phát triển, Cẩm Lệ đã tập trung làm tốt công tác giải quyết việc
15
làm cho người lao động trong khu vực giải tỏa đền bù. Nhờ vậy đã góp phần
ổn định tình hình và tác động tích cực, tạo sự đồng thuận của người dân trên
địa bàn trong việc xây dựng, phát triển địa phương.... một lượng khá lớn các
hộ dân nằm trong khu vực giải tỏa đền bù để lấy đất xây dựng, chỉnh trang đô
thị và phát triển TP theo hướng đô thị hóa ngày càng mạnh.
Với việc ban hành và triển khai thực hiện Đề án này, đến nay đã góp
phần rất quan trọng để Cẩm Lệ nói riêng và Đà Nẵng nói chung thực hiện khá
tốt công tác vận động di dời, giải tỏa đền bù, tái định cư và giải quyết việc
làm, ổn định cuộc sống của người dân vùng di dời.
Để đảm bảo việc làm cho người dân, Quận đã tập trung cả hệ thống
chính trị từ quận xuống phường tuyên truyền các chủ trương quy hoạch;
tương lai của dự án và các vấn đề an sinh cho người dân sau khi giải tỏa như:
chính sách đền bù, giải quyết việc làm và đào tạo nghề, điều kiện sống khi
chuyển đến nơi ở mới...; tạo tâm lý yên tâm cho người dân và sự đồng thuận
thông qua các phiên chợ việc làm giúp cho người lao động và doanh nghiệp
tìm được nhau.
lực, huy động sức mạnh của các ngành, các cấp để cùng giải quyết những khó
khăn, đặc biệt là sự nỗ lực và đồng thuận của người dân trong vùng quy
hoạch. Quận Ngũ Hành Sơn là địa phương có những chủ trương, giải pháp cụ
thể giúp người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tìm việc làm, chuyển đổi
ngành nghề sớm ổn định cuộc sống; đồng thời nhanh chóng chuyển lực lượng
lao động nông nghiệp sang các ngành nghề thương mại, dịch vụ, công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp… góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển công nghiệp
hoá-hiện đại hoá của thành phố;
Qua thực tế điều tra thực trạng lao động hộ di dời giải toả, thu hồi đất
sản xuất trên địa bàn quận, UBND quận Ngũ Hành Sơn xây dựng “Đề án hỗ
trợ chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho hộ nông dân thuộc diện
17
di dời giải toả, thu hồi đất sản xuất trên địa bàn quận giai đoạn 2015 - 2020”
nhằm định hướng, giúp cho cho người lao động tìm kiếm được việc làm mới
và ngành nghề phù hợp có thu nhập, đồng thời tạo niềm tin cho người nông
dân vào chủ trương, chính sách giải tỏa, đền bù của Đảng và Nhà nước, góp
phần chăm lo an sinh xã hội và phát triển quận Ngũ Hành Sơn ngày càng văn
minh, hiện đại phù hợp với quy hoạch phát triển của Thành phố và Quận
trong tương lai./.
18
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
ĐỐI VỚI HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
là 40.765 người, chiếm 67,7% so với tổng dân số của quận. Tốc độ tăng dân
số bình quân hằng năm là 1,20%. Số lao động đang có việc làm 26.385 người;
lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định 14.380 người;
Về đời sống : Tuy là quận nội thành nhưng thực trạng đời sống nhân
dân còn thấp so với các quận trong thành phố. Năm 2011 toàn quận có 12.019
hộ trong đó 2.695 hộ nghèo với 10.971 khẩu chiếm tỷ lệ 22,4 % so với tổng
số hộ, trong đó có 197 hộ đặc biệt nghèo nhóm I với 597 nhân khẩu trong đó
đối tượng xã hội neo đơn gồm 92 hộ với 170 khẩu đang hưởng trợ cấp xã hội;
hộ đặc biệt nghèo Nhóm II và III có 216 hộ với 995 khẩu.
2.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn
ảnh hưởng đến thực hiện chính sách về hỗ trợ, khi Nhà nước thu hồi đất.
- Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế thuộc quận quản lý tăng bình
quân hằng năm (2016 - 2020) là 15,92%.
- Tổng giá trị sản xuất ngành du lịch – dịch vụ - thương mại do quận
quản lý tăng bình quân hằng năm là 20,75%. tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế
năm 2016 là 66% đến năm 2020 tăng lên 77,7%.
- Số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh không ngừng tăng lên, năm
2015 có 1.273 doanh nghiệp đến năm 2017 có 2.075 doanh nghiệp, hộ cá thể
tăng từng năm từ 20 – 30%.
- Giá trị sản xuất Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ
bản: giá trị sản xuất tăng bình quân hằng năm là 4,26%; tỷ trọng cơ cấu kinh
tế năm 2016 là 29,8% đến 2020 giảm xuống còn 19,5%.
- Ngành nông nghiệp – thủy sản: tăng bình quân hằng năm 4,96%;
20
trong đó nông nghiệp giảm 15,25%, ngành thủy sản tăng 12,49%, tỷ trọng cơ
cấu kinh tế năm 2016 là 4,2% đến năm 2020 giảm xuống còn 2,8%.
Quá trình đô thị hóa trên diện rộng đã thu hẹp diện tích đất và quy mô
và tăng tỷ trọng ngành dịch vụ. Tổng giá trị sản xuất các ngành thuộc quận
quản lý tăng qua các năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,70%. Trong đó,
lĩnh vực dịch vụ, du lịch và thương mại được xác định là mũi nhọn trong cơ
cấu kinh tế của quận đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cùng với việc đầu tư
tôn tạo và phát huy tiềm năng của Khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn,
Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước đến nay đã có thương hiệu và sản phẩm
làm ra ngày càng tinh xảo bởi những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân qua
các thế hệ đã thu hút được khách hàng trong, ngoài nước.
Thực hiện chủ trương giải tỏa đền bù, chỉnh trang đô thị, trong những
năm qua quận Ngũ Hành Sơn như một đại công trình, 4/4 phường đều nằm
trong diện giải tỏa. Gắn bó gần cả đời với nhà cửa, ruộng đồng vốn đã quen
nay phải rời xa di dời đến nơi ở mới là điều không dễ, tuy nhiên điều đáng
trân trọng là người dân đã ý thức được trách nhiệm của mình trong việc góp
phần xây dựng thành phố, xây dựng quận phát triển, nên mỗi người dân đã
đồng thuận, ủng hộ chủ trương giải tỏa đền bù, quy hoạch phát triển hạ tầng
đô thị của quận những năm qua. Bên cạnh việc đồng thuận của nhân dân, thì
các cấp ủy đảng, chính quyền, cả hệ thống chính trị từ quận đến cơ sở đã cùng
vào cuộc, đến tận từng nhà dân, nghe dân nói và nói cho dân hiểu, kiên trì vận
động, thuyết phục trên cơ sở đảm bảo dân chủ, tuân thủ các quy trình, thủ tục
về chính sách giải toả, đền bù và chú trọng giải quyết đảm bảo các lợi ích
chính đáng của người dân, nhất là sự gương mẫu chấp hành bàn giao mặt
bằng của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức quận nên người dân đã sớm
bàn giao hơn 13.000 hồ sơ nhà và đất nông nghiệp, tiến hành di dời, sắp xếp,
bố trí ổn định hơn 60 nhà thờ tộc, họ và di chuyển hơn 19.000 ngôi mộ lên
nghĩa trang Hòa Sơn để bàn giao mặt bằng cho hàng trăm dự án được triển
khai suốt những năm qua. Từng người dân đều đã chấp nhận cuộc đổi thay, hi
22
Khu đô thị công nghệ FPT, Khu tái định cư phía Tây làng đá mỹ nghệ Non
Nước, Khu dân cư Tân Trà, Đông Trà...đã lần lượt được xây dựng. Bên cạnh
đó, các khu dân cư phía Nam cầu Trần Thị Lý, cầu Tiên Sơn hay Mỹ An biến
khu vực nông thôn, những tên làng, tên xóm trước đây thành những khu đô
thị sầm uất, tô điểm thêm cho vóc dáng đô thị vốn đang dần hình thành ngày
càng rõ nét.
Chính sự chuyển biến toàn diện của bức tranh kinh tế với mức tăng
trưởng bình quân hơn 13%/năm đã tạo cú hích thuận lợi cho công tác thu
ngân sách của quận Ngũ Hành Sơn suốt 20 năm qua. Những năm đầu quận
mới thành lập, từ năm 1997-2000, hằng năm, tổng thu ngân sách chỉ tăng bình
quân 15%. Trước tình hình đó, Quận ủy đã quyết liệt chỉ đạo UBND từ quận
đến phường tập trung quản lý, điều hành nghiêm túc, chặt chẽ kế hoạch thu,
chi ngân sách đảm bảo hoạt động của quận và đến giai đoạn 2006-2015, tốc
độ thu ngân sách trên địa bàn quận tăng lên với con số ấn tượng gần
123%/năm. Chính nguồn lực ấy là cơ sở để quận triển khai thực hiện đảm bảo
an sinh xã hội trên địa bàn quận.
Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, 100% trường Tiểu học
đạt chuẩn quốc gia. Ngày mới thành lập, toàn quận chỉ có 15 trường học các
cấp thì đến nay con số này đã tăng lên gấp đôi. Tỷ lệ học sinh giỏi và số
lượng học sinh đạt giải học sinh giỏi các cấp tăng dần qua các năm. Tỷ lệ học
sinh bỏ học được hạn chế đến mức thấp nhất. Công tác xóa mù chữ, phổ cập
giáo dục tiếp tục được duy trì và phát triển. Công tác khuyến học, khuyến tài
được thực hiện có hiệu quả. Trường học trên địa bàn quận được đầu tư xây
mới và nâng cấp sửa chữa ngày càng khang trang, Trường THPT Võ Chí
Công mới được thành lập, đây là ngôi trường THPT công lập thứ 2 trên địa
bàn quận được đầu tư để đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương. Mô
hình “Tiếp sức học sinh đến trường” được duy trì thực hiện đã góp phần hạn
chế tình trạng học sinh bỏ học và nâng cao hiệu quả giáo dục. Đội ngũ giáo
phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn quận.
Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn quận được nâng
25