MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
Lý do chọn chủ đề................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................4
I. Cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu................................................................4
1.1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan về bạo lực và công tác xã hội......4
1.1.1. Khái niệm Bạo lực.......................................................................................4
1.1.2. Khái niệm Gia đình.....................................................................................4
1.1.3. Khái niệm Bạo lực gia đình.........................................................................4
1.1.4. Khái niệm công tác xã hội...........................................................................4
1.1.5. Khái niệm Công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình...............5
1.1.6. Khái niệm truyền thông...............................................................................5
1.1.7. Khái niệm truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình.....................5
1.2. Khái quát chung về bạo lực gia đình..........................................................5
1.2.1. Đặc điểm của gia đình có bạo lực...............................................................6
1.2.2. Đặc điểm của người bị bạo lực gia đình......................................................6
1.2.3. Đặc điểm của người gây ra bạo lực gia đình...............................................7
1.2.4. Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình.......................................................8
1.2.5. Hậu quả của bạo lực gia đình trong đời sống gia đình..............................10
1.3. Một số phương pháp của công tác xã hội thường sử dụng trong lĩnh vực
phòng chống bạo lực gia đình...........................................................................10
1.3.1.Phương pháp công tác xã hội nhóm...........................................................10
1.3.2. Phương pháp Phát triển cộng đồng............................................................11
1.3.3. Phương pháp Công tác xã hội cá nhân......................................................11
1.4. Các hoạt dộng công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình......11
II. Hoạt động truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình tại huyện
Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng....................................................................13
2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
nữ, trẻ em. Nguyên nhân của vấn đề này là do phong tục truyền thống, một bộ
phận người Việt Nam chúng ta vẫn coi đây là vấn đề riêng tư, mang tính chất gia
đình thuần túy, người phụ nữ chịu tác động của nạn bạo hành vẫn còn đơn độc.
Ngày 14/5/2014, Ngân hàng Thế giới công bố báo cáo với nhan đề “ Tiếng
nói và năng lực” cho biết, hơn 700 triệu phụ nữ trên toàn thế giới là nạn nhân
của bạo lực gia đình và phần lớn trong số họ hầu như không có khả năng bảo vệ
chính bản thân mình. Báo cáo cũng cho biết tình hình bạo lực gia đình nghiêm
trọng nhất xảy ra tại khu vực Nam Á và Châu Phi, nơi có hơn 40% phụ nữ từng
là nạn nhân bạo lực gia đình. Tình trạng bạo lực cùng với những thua thiệt mang
tính hệ thống mà phụ nữ phải chịu đựng đang là những nhân tố quan trọng cản
trở sự tiến bộ và khiến hàng trăm triệu phụ nữ rơi vào cảnh đói nghèo.
Theo số liệu báo cáo của các địa phương cho thấy: từ năm 2012 đến năm
2016 cả nước đã xảy ra 127.258 vụ bạo lực gia đình, trong đó, nam giới chiếm
gần 83,70% đối tượng gây bạo lực.
Theo Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam
được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc công bố ngày 25/10/2010 cứ ba
phụ nữ có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một người chiếm 34% cho
biết họ đã từng bị chồng bạo hành thể xác hoặc tình dục. Số phụ nữ có hoặc từng
có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai hình thức bạo hành này chiếm 9%.
1
Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng là thể
xác, tình dục và tinh thần thì có 58% phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn
nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên. Các kết quả nghiên cứu
cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả
năng họ bị người khác lạm dụng. Tại một số vùng cứ 10 người phụ nữ thì có 4
người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ. Ở vùng Đông
Nam Bộ, 42% phụ nữ cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc
tình dục.
đến sự hiểu biết về quyền lợi, pháp luật cho phụ nữ mà quan trọng hơn truyền
thông kêu gọi toàn thể xã hội nêu cao tinh thần, cùng chung tay đẩy lùi nạn bạo
lực. Chính vì thế mà em đã chọn chủ đề: “Hoạt động truyền thông trong phòng
chống bạo lực gia đình tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng” làm chủ đề
cho môn học công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình.
3
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu
1.1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan về bạo lực và công tác xã hội
1.1.1. Khái niệm Bạo lực
Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với
bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người
mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm
lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát (WHO).
1.1.2. Khái niệm Gia đình
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Gia đình là tập hợp những người
gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng,
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật
hôn nhân và gia đình.
1.1.3. Khái niệm Bạo lực gia đình
Theo Luật phòng, chống Bạo lực gia đình 2007: Bạo lực gia đình là các
hành vi cố ý gây bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình, đó là sự xâm phạm và
ngược đãi về thân thể hay tinh thần giữa các thành viên.
Bạo lực gia đình là bất kỳ hình thức lạm dụng, bạo lực hay cưỡng bức bởi
người yêu vợ/chồng nhằm thiết lập, duy trì quyền lực và kiểm soát đối với người
khác. Nó xuất hiện khi có bất kì bình đẳng về quyền lực hoặc có sự đặc quyền,
có khả năng gây hại đến thể chất và cảm xúc của người đó.
chống bạo lực gia đình, chúng ta còn rất nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu,
phân tích, trao đổi để tìm được các biện pháp có hiệu quả nhất”.
1.2. Khái quát chung về bạo lực gia đình
Để giải quyết những vấn đề cho những nạn nhân bị bạo lực gia đình có rất
nhiều các các hoạt động trợ giúp cho các nạn nhân bị bạo lực gia đình trong đó
có hoạt động tham vấn. Tại Mỹ, Canada, Singapore, Philippin...Khi phụ nữ bị
bạo lực gia đình sẽ nhận được sự hỗ trợ của nhà tham vấn, nhân viên công tác xã
hội. Khi phụ nữ bị bạo lực gia đình đến hoặc được giới thiệu đến trung tâm
tham vấ, trung tâm công tác xã hội hoặc nơi làm việc của nhà tham vấn, nhân
viên công tác xã hội tiếp nhận, đánh giá, xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch
5
giải quyết vấn đề. Nhà tham vấn, nhân viên xã hội sẽ là người đồng hành cùng
với phụ nữ bị bạo lực gia đình trong suốt quá trình trợ giúp. Dựa trên những kiến
thức và hiểu biết tâm lý, tâm lý xã hội nhà tham vấn, nhân viên công tác xã hội
tìm cách hỗ trợ về tâm lý xã hội và trị liệu với từng cá nhân. Thông thường hình
thức tham vấn và trị liệu đối với các nạn nhân là tham vấn trực tiếp trong các
trung tâm, phòng tham vấn với phụ nữ bị bạo lực gia đình. Những nhân viên xã
hội, nhà tham vấn là những người trực tiếp tham vấn cho họ cần sử dụng các lý
thuyết của tâm lý học, xã hội học.
1.2.1. Đặc điểm của gia đình có bạo lực
Những gia đình có bạo lực thường cách biệt với xã hội, hoặc họ tự cô lập
để tránh điều tiếng cho gia đình vì thế bạo lực gia đình tiếp tục diễn ra.Gia đình
có tình trạng bạo lực là gia đình trong đó có một hoặc nhiều thành viên có hành
vi bạo lực với một hoặc nhiều thành viên khác, có thể là cha mẹ/con cái đánh
đập, xúc phạm, kiểm soát tài chính với con cái/cha mẹ, hoặc chồng/vợ đối với
bạo hành thể xác, tinh thần, tình cảm và cả tình dục với vợ/chồng.
1.2.2. Đặc điểm của người bị bạo lực gia đình
Hiện nay, tình trạng bạo lực gia đình xảy ra ở Việt Nam nổi lên như một
Người gây bạo lực thường cố ý dùng sự bực bội, tức giận của mình để kiểm
soát tình hình và kiểm soát người khác. Bực bội là công cụ mà người gây bạo
lực thường cho là rất hữu hiệu và hay sử dụng để lấn án người bị bạo lực và
những người xung quanh.
Người gây bạo lực dùng quyền lực bằng nhiều thủ đoạn để đè bẹp sự
kháng cự của nạn nhân như quát tháo, dùng sức mạnh thể chất để lấn át,… gia
trưởng tự cho mình là quan trọng nhất. Họ tin rằng mình có quyền quyết định
mọi thứ trong gia đình, bạo lực và kiểm soát sẽ đem lại hiệu quả cao nhất trong
quản lý gia đình.
Người gây bạo lực thường rất thích chiếm hữu. Họ cho rằng họ muốn cái gì
là phải có cái đấy, họ có thể là gì tùy thích với những gì thuộc quyền sở hữu của
họ.
Đôi khi người gây bạo lực gia đình giả bộ như bất lực hay khổ não để dụ
người khác giúp đỡ mình. Trong trường hợp này, kẻ gây bạo lực gia đình nghĩ
7
rằng nếu không có được điều mong muốn thì chính họ là nạn nhân, và có hành
vi bạo lực để trả đũa với người nào đó.
Những trải nghiệm thời thơ ấu của người gây ra bạo lực gia đình và ảnh
hưởng tới bạo lực gia đình: Một phần lớn trong số họ từng chứng kiến bạo lực
gia đình khi còn bé. Theo nghiên cứu, 45% số trẻ em trai từng chứng kiến bạo
lực gia đình sau này có khả năng trở thành kẻ gây ra bạo lực. Việc chứng kiến
bạo lực nhiều có thể đã hình thành quan niệm bạo lực là chuyện được phép trong
gia đình. Và họ có hình mẫu là người cha, người ông sử dụng bạo lực để kiểm
soát các thành viên khác trong gia đình để học theo.
Nguy cơ của bạo lực gia đình thừ vị thế của người gây bạo lực gia đình:
Một số người ra gây bạo lực là những người có vị trí nhất định trong cộng
đồng/xã hội. Họ có thể được cộng đồng/xã hội đánh giá cao về năng lực chuyên
môn, vai trò trong cơ quan/cộng đồng/xã hội Họ có thể đồng nhất vị thế xã hội,
tự cho mình quyền được đánh đập, hành hạ con cái mình.
Nhận thức của chính bản thân của người phụ nữ bị bạo lực: Sự nhìn nhận,
đấu tranh của người phụ nữ trước bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu thẳng
thắn, còn cam chịu; họ mang tư tưởng: “xấu chàng hổ ai”, họ sợ: “vạch áo cho
người xem lưng”, hay sợ hàng xóm, bạn bè chê cười.
Cộng đồng, xã hội coi vấn đề bạo lực gia đình là chuyện thông thường,
chuyện riêng củ mỗi gia đình: “Đèn nhà ai nhà nấy rang”, sự can thiệp, lên án
của cộng đồng, làng xóm, chính quyền địa phương chỉ mang tính chất nhât thời,
mờ nhạt. Do đó, bạo lực gia đình vẫn có điều kiện tồn tại và phát triển.
Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình trong gia đình đồi
với phụ nữ xong nguyên nhân sâu xa chính là do yếu tố nhận thức. Bạo lực gia
đình chính là một biểu hiện của sự bất bình đẳng giới, là sản phẩm của chế độ
gia trưởng. Các yếu tố khác như tệ nạn xã hội, kinh tế, mẫu thuẫn gia đình,
ngoại tình…được xem là nguyên nhân trực tiếp của bạo lực, làm gia tăng nguy
cơ của bạo lực gia đình. Diều đáng tiếc là một bộ phận không nhỏ phụ nữ và
nam giới không cảm nhận được sự bất bình đẳng này cũng như sự cần thiết phải
thay đổi nó. Vì vậy, để giải quyết được triệt để vấn đề bạo lực gia đình, chúng ta
cần chú ý giải quyết yếu tố nhận thức nam giới, phụ nữ và của cả cộng đồng.
9
1.2.5. Hậu quả của bạo lực gia đình trong đời sống gia đình
Hậu quả đối với nạn nhân về sức khỏe thể chất: Sức khỏe bị hủy hoại,
tương tích đau đớn, có thể bị khuyết tật suốt đời, thậm chí dẫn đến tự vong.
Về sức khỏe tinh thần: Luôn ám ảnh bị bạo lực; chán nản, buồn rầu, lo
lắng, sợ hãi, mất tự tin, hoang mang, trầm cảm; cảm thấy cuộc sống nặng nề,
căng thẳng và tuyệt vọng.
Về sức khỏe sinh sản: Mang thai ngoài ý muốn, thai nhi suy dinh dưỡng,
sẩy thai, đẻ non, lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV.
Hậu quả đối với người gây bạo lực gia đình: Phá hỏng mối quan hệ vợ
nhóm, mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân trong nhóm. Nhân viên xã hội
cần xác định rõ vấn đề để giải quyết tâm lý cho nhóm bạo lực và từ đó đưa ra
các cách can thiệp cho nhóm.
1.3.2. Phương pháp Phát triển cộng đồng
Nhận diện, xác định những nhu cầu và vấn đề cần giải quyết của gia đình
bạo lực. Sau đó phân tích những nhu cầu và vấn đề của họ. Xác định những tiềm
năng hoặc nguồn hỗ trợ từ bên trong và ngoài cộng đồng để có thể giải quyết
vấn đề cho gia đình bạo lực. Tiến hành những hoạt động phát triển theo kế hoạch
để trợ giúp.
1.3.3. Phương pháp Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân giúp cá nhân và gia đình hoạt động có hiệu quả
hơn trong các mối quan hệ tâm lý xã hội. Ở đây mọi nhu cầu cơ bản của thân
chủ đều phải được chấp nhận cho dù họ là ai. Nhân viên xã hội phải tôn trọng
giá trị của thân chủ và không thể mong đợi đối tượng đối xử với chúng ta theo
cách ta mong muốn. Khi giúp đỡ những gia đìn có bạo lực nhân viên xã hội cần
thu thập thông tin, xác định yếu tố chủ yếu dẫn đến hành vi bạo lực gia đình để
từ đó đưa ra các biện pháp tác động phù hợp.
1.4. Các hoạt dộng công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình.
Với quan điểm “Công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết
các vấn đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm
thúc đẩy phúc lợi. Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống
xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác
11
với các môi trường của mình. Nhân quyền và công lý trong xã hội là những
nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội”. Đối với nạn nhân của bạo lực gia
đình, đặc biệt là phụ nữ, nhân viên công tác xã hội có thể cung cấp một số dịch
vụ xã hội để hỗ trợ nạn nhân như: Lập kế hoạch trợ giúp, điều phối các dịch vụ
hỗ trợ dựa trên nguyên tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của họ, đảm bảo giải
II. Hoạt động truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình tại huyện
Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng.
Kiến Thụy là một huyện của thành phố Hải Phòng. Kiến Thụy là một huyện
ven đô nằm về phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố
Hải Phòng 22 km. Huyện có diện tích tự nhiên 166,83 km², với dân số khoảng
17,3 vạn người, có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 17 xã: Đông Phương,
Đại Đồng, Hữu Bằng, Thuận Thiên, Du Lễ, Ngũ Phúc, Kiến Quốc, Thuỵ Hương,
Thanh Sơn, Đại Hà, Ngũ Đoan, Tân Trào, Đoàn Xá, Đại Hợp, Tú Sơn, Tân
Phong, Minh Tân và thị trấn Núi Đối. Cơ cấu GDP: nông nghiệp 33%, công
nghiệp - xây dựng 45%, dịch vụ 22%. Tốc độ phát triển kinh tế: 12,5%/năm.
Phía Bắc và phía Đông giáp các quận Dương Kinh và quận Đồ Sơn, phía Nam
giáp huyện Tiên Lãng và Vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp quận Kiến An và
huyện An Lão. Trên địa bàn huyện có đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đi qua
dài hơn 10 km và có dự án Đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng
Ninh đi qua.
Huyện có hai sông Văn Úc và Đa Độ lần lược chảy qua. Có khoảng 50%
diện tích đất đai bị chua mặn, 20% đất trũng, kinh tế chủ yếu dựa vào nông ngư
nghiệp. Huyện có 19,68 km bờ biển, 4.500 bãi triều ngập nước, trong đó có 200
bãi triều cao, thích hợp cho hoạt động nuôi trồng và phát triển thuỷ, hải sản.
Điều kiện môi trường không thuận lợi cho canh tác lúa, nhưng đặc biệt thích hợp
cho hoạt động nuôi trồng và phát triển thuỷ, hải - đặc sản. Với những thuận lợi
ấy, Kiến Thuỵ đã xác định nuôi trồng thuỷ sản là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mũi nhọn của huyện.
Trong chăn nuôi, huyện Kiến Thuỵ đã và đang hình thành các trang trại
13
chăn nuôi gia súc gia cầm. Đến nay, toàn huyện có 41 trang trại chăn nuôi có
cho xã hội. Nằm trong tình hình chung của các địa phương trong cả nước, các cơ
quan, đơn vị và 18 xã đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, lồng ghép nội dung
hoạt động phòng chống bạo lực gia đình. Nhờ vậy, trên địa bàn huyện Kiến
Thụy đã giảm đáng kể về số lượng và tính chất vụ việc bạo lực gia đình. Từ năm
2009 đến cuối năm 2015 toàn huyện xảy ra 817 vụ bạo lực gia đình, hơn 70%
nạn nhân bị bạo lực là phụ nữ, trong đó 35,8% vụ bạo lực tinh thần, 49,3% vụ
bạo lực thân thể, 5,03% vụ bạo lực tình dục. Nhờ thực hiện hiệu quả các hoạt
động truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình cũng như việc thực hiện
hiệu quả, đồng bộ nhiều giải pháp, tình trạng bạo lực gia đình trên địa bàn huyện
thời gian qua đã có chuyển biến rõ nét. Theo tổng hợp báo cáo của các địa
phương, nếu như giai đoạn 2009-2015 toàn huyện xảy ra 817 vụ thì đến năm
2017 huyện còn 308 vụ ( giảm 508 vụ), 6 tháng đầu năm 2018 giảm còn 102 vụ.
2.3. Một số hoạt động truyền thông đang được thực hiện tại huyện Kiến
Thụy, thành phố Hải Phòng.
Truyền thông từ lâu đã được xác định là một trong những giải pháp quan
trọng hàng đầu để thực hiện thành công các mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn
tình trạng bạo lực gia đình. Bởi vậy, trong thời gian qua, những hoạt động truyền
thông, bao gồm việc xác định các thông điệp truyền thông, lựa chọn phương
thức truyền thông, xây dựng các mô hình truyền thông luôn được xem là công
việc quan trọng nhất trong các dự án phòng, chống bạo lực gia đình.
Từ khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ra đời và có hiệu lực thi hành,
công tác truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình cũng ngày càng nhận
được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng sự phối hợp của các cấp,
các ngành, các tổ chức xã hội và sự tham gia mạnh mẽ của hệ thống thông tin
đại chúng trên phạm vi toàn quốc. Điều đó đã từng bước tạo được sự chuyển
biến về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong việc
triển khai, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế trong
việc tổng hợp được sự thống nhất chung trong truyền thông, còn khá lúng túng
Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng truyền
thông, kỹ năng can thiệp, tư vấn hòa giải và xử lý trong công tác phòng chống
16
bạo lực gia đình cho cán bộ công chức văn hóa của 17 xã và chủ nhiệm các câu
lạc bộ. Trong đó, hoạt động trọng tâm là tuyên truyền, phát động triển khai “Bữa
cơm gia đình ấm áp yêu thương” được thực hiện đồng loạt trong khung giờ từ
17h - 19h ngày 28-6-2018.
Với nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực trong Tháng hành động quốc gia
phòng chống bạo lực gia đình và Ngày Gia đình Việt Nam sẽ giúp mỗi người
nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình trong cuộc sống. Từ đó, từng thành
viên trong mỗi gia đình sẽ góp phần tích cực vun đắp xây dựng gia đình hạnh
phúc để cộng đồng, xã hội phát triển bền vững.
2.3.2. Mô hình lồng ghép truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình
Với các cuộc vận động do Mặt trận tổ quốc các cấp và các bộ, ban, ngành
chủ trì triển khai như: Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư do Mặt trận tổ quốc Việt Nam chủ trì. Cuộc vận động xây
dựng gia đình văn hóa do Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch chủ trì. Cuộc vận
động xây dựng làng, bản văn hóa do chính quyền địa phương chủ trì. Mô hình
xây dựng Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc do Hội Liên hiệp phụ nữ triển khai...
Mô hình lồng ghép truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình vào sinh
hoạt các câu lạc bộ, sinh hoạt văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, thi sáng tác
văn học, thơ ca, vẽ tranh, diễn kịch với sự tham gia của chính người dân tại cộng
đồng.
2.3.3. Mô hình kết hợp truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình với hoạt
động thường xuyên.
Mô hình kết hợp truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình với hoạt động
thường xuyên, cụ thể của các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội nhằm
ngăn chặn bạo lực gia đình ngay tại cộng đồng. Kết hợp truyền thông với các
Tổ hòa giải là một nhóm người có uy tín được thành lập theo quyết định
của Uỷ ban nhân dân huyện. Thông thường mỗi huyện thành lập một tổ hoà giải
do cán bộ tư pháp huyện quản lý. Thành phần tham dự trong tổ hoà giải bao
gồm: Đại diện các ban ngành đoàn thể trong xã (Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến
binh, tư pháp, công an, y tế, đoàn thanh niên…), trưởng thôn, bí thư chi bộ. Mục
đích thành lập Tổ hòa giải là hòa giải mâu thuẫn, bạo lực trực tiếp đối với nạn
18
nhân và các thành viên có liên quan.
Khi có bạo lực, Tổ hoà giải gặp gia đình để tìm nguyên nhân gây ra bạo
lực, phân tích những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình, phân tích sự
đúng sai của từng thành viên nhằm giúp giải quyết mâu thuẫn. Nếu cuộc gặp
không đem lại kết quả, tiếp tục tái diễn thì Tổ sẽ mời ra trụ sở của xã để làm
việc. Nếu không đem lại hiệu quả thì tiếp tục phản ánh lên UBND huyện để
công an, tư pháp vào cuộc. Tổ hòa giải hoạt động rất thường xuyên, tuy nhiên tổ
không có kinh phí, chủ yếu hoạt động là do sự tự nguyện của các thành viên
trong tổ.
Mô hình “Tổ hòa giải” đã phát huy tốt hiệu quả trong quá trình hoạt động.
Trong 5 năm qua phường Đồng Nguyên đã trực tiếp tiếp nhận 18 vụ liên quan
đến bạo lực gia đình và đã hòa giải, giải quyết 10 vụ việc/18 vụ tiếp nhận, trong
đó hòa giải thành công 7 vụ; hòa giải thành công 17 vụ tại xã Tú Sơn; 9 vụ tại xã
Tân Phong, 13 vụ tại xã Thụy Hương.
“Sau khi có dự án, tổ đã đi vào hoạt động tích cực, đóng góp vào việc giữ
gìn hạnh phúc cho mọi gia đinh. Cụ thể có những cặp vợ chồng cơm chẳng
lành, canh chẳng ngọt nay lại về với nhau, đoàn tụ sống vui vẻ, cùng nhau chia
sẻ tình cảm và làm ăn phát triển kinh tế. Có cặp vợ chồng trước đây chỉ biết đến
rượu chè và đánh đập thì nhờ có các tổ hòa giải, cộng tác viên đã giảm hẳn tình
trạng đó”.
2.3.6. Mô hình tổ, nhóm phòng chống bạo lực gia đình
dục kỹ năng làm vợ làm chồng cho các gia đình trẻ, giáo dục tiền hôn nhân cho
thanh niên. Hình thức thực hiện: tổ chức các khóa tập huấn, các sự kiện thể thao
– văn hóa, xây dựng các nhóm câu lạc bộ, giáo dục đồng đẳng cho nhóm nam
thanh niên tại địa bàn huyện,…
Tuy nhiên, các mô hình truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình nêu
trên còn chưa có được sự chỉ đạo nhất quán, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa
các loại mô hình, đặc biệt là chưa phát huy được chính sức mạnh của những
người trong cuộc, bởi vậy kết quả chưa cao.
Nội dung tuyên truyền, giáo dục về gia đình và phòng, chống bạo lực gia
đình là hoạt động chủ đạo của các mô hình.
20
Qua khảo sát bằng bảng hỏi của chủ đề nghiên cứu, nhìn chung thông tin về
bạo lực gia đình được người dân tiếp nhận là qua các hình thức truyền thông
trực tiếp (cán bộ tuyên truyền) và các hình thức truyền thông ở cơ sở. Ngoài ra,
các chương trình phổ biến của Đài truyền hình Việt Nam cũng là nguồn thông
tin quan trọng về phòng chống bạo lực gia đình.
Tại địa bàn huyện, các mô hình truyền thông sử dụng hầu hết các hình thức
truyền thông để tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của cộng
đồng: Tuyên truyền trên đài truyền hình; Tuyên truyền trên đài phát thanh;
Tuyên truyền trên báo; Tuyên truyền trên loa truyền thanh của huyện; Lồng ghép
vào sinh hoạt của các đoàn thể cơ sở; Lồng ghép vào phong trào toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa; Treo băng rôn áp phích.
Ngoài ra, còn một số hình thức khác như: tổ chức các buổi tuyên truyền lưu
động, in tờ rơi/tài liệu phát đến tận tay người dân, tuyên truyền trên trang thông
tin điện tử của huyện, tổ chức các hội thi tìm hiểu về pháp luật phòng chống bạo
lực gia đình.
Trong các hình thức trên, có hai hình thức được tập trung nhiều nhất là
tuyên truyền trên loa truyền thanh của huyện và lồng ghép vào sinh hoạt của các
ngăn chặn gia tăng số vụ bạo lực tại cộng đồng.
2. Đối với nạn nhân bạo lực gia đình
- Cần nắm rõ luật liên quan đến bạo lực gia đình, bình đẳng giới.
- Tự tìm đến sự giúp đỡ của cơ quan có chức năng khi bị bạo lực.
- Tham gia vào các nhóm, hội, câu lạc bộ nhằm nắm chắc kiến thức xây
dựng đời sống gia đình.
- Kiên quyết phản đối những hành vi gây bạo lực.
22
KÊT LUẬN
Truyền thông từ lâu đã được xác định là một trong những giải pháp quan
trọng hàng đầu để thực hiện thành công các mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn
tình trạng bạo lực gia đình. Bởi vậy, trong thời gian qua, những hoạt động truyền
thông, bao gồm việc xác định các thông điệp truyền thông, lựa chọn phương
thức truyền thông, xây dựng các mô hình truyền thông luôn được xem là công
việc quan trọng nhất trong các dự án phòng, chống bạo lực gia đình.
Hiện nay bạo lực gia đình là vấn đề bức xúc của toàn xã hội mà nạn nhân
chủ yếu lại là phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình đã và đang gây ra những hậu
quả nghiêm trọng, đe dọa đến tinh thần, thể xác, tính mạng và hạnh phúc gia
đình. Chính vì tâm lý xấu hổ khi nói ra, sợ người ngoài dị nghị nên đa phần nạn
nhân bị bạo lực đều cố tình che dấu các hành vi của người gây ra bạo lực, và
chính vì thế mà chính nạn nhân bị bạo lực gia đình đã để bạo lực gia đình xảy ra
thường xuyên và nghiêm trọng hơn. Để ngăn chặn bạo lực gia đình thì chính bản
thân những người phụ nữ cần phải nắm chắc vai trò, vị thế của mình, không
ngừng phát huy khả năng, nâng cao vị thế của bản thân trong xã hội. Vì vậy, cán
bộ, nhân viên xã hội là những người sẽ vận dụng những kiến thức, kỹ năng,
phương pháp hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình và người gây ra bạo
lực gia đình, và họ cũng là những nguồn lực cần có trong mỗi phòng công tác xã