CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
“KINH NGHIỆM
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
NGỮ VĂN 6”
Quảng Bình, tháng 10 năm 2018
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
“KINH NGHIỆM
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
NGỮ VĂN 6”
Họ và tên: Nguyễn Hà Phương
Chức vụ: Tổ trưởng - Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Tân Ninh
Quảng Bình, tháng 10 năm 2018
2
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn sáng kiến:
bản thân để đưa ra sáng kiến: “ Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 6”.
Với mong muốn sẻ chia cùng đồng nghiệp để cùng nhau phấn đấu vì mục tiêu
chung là nâng cao chất lượng mũi nhọn trong nhà trường. Và đích đến cuối cùng là
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
1.2. Điểm mới của sáng kiến:
- Cũng có nhiều bài viết, nghiên cứu có chủ đề tương tự. Tuy nhiên, đa số
là trình bày trên lý thuyết, chưa phù hợp với tình hình thực tế hiện nay ở nhà
trường và bộ môn.
3
- Đây là những kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy, bồi dưỡng của bản
thân đã được áp dụng, chắt lọc trong các năm học nên phù hợp với những khó
khăn trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn ở ngôi trường mà
tôi đang công tác.
- Sáng kiến là kết quả công tác, nghiên cứu, trăn trở của bản thân để nhằm
đạt mục tiêu đào tạo nguồn nhân tài. Tôi rất mong muốn được đóng góp một
phần trách nhiệm vào việc thực hiện “nhiệm vụ đột phá” mà nhà trường và
Phòng giáo dục giao cho. Chính vì lẽ đó tôi đã suy nghĩ, chắt lọc và đi sâu vào
những giải pháp trọng tâm từ khâu tuyển chọn học sinh như thế nào, giáo viên
phải giành tâm huyết ra sao đến các kinh nghiệm giảng dạy nên sáng kiến khá
gần gũi, thiết thực phù hợp chia sẻ cùng đồng nghiệp.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 6:
Những năm qua, với bộ môn Ngữ văn 6 công tác bồi dưỡng còn gặp nhiều
khó khăn, trở ngại.
Trong quá trình quản lý tổ chuyên môn và trực tiếp bồi dưỡng tôi nhận
thấy thực trạng nan giải đầu tiên là về phía giáo viên. Qua công tác chỉ đạo, theo
dõi chất lượng bồi dưỡng các đội tuyển tôi thấy một số giáo viên được giao
nhiệm vụ bồi dưỡng chưa thật mặn mà với công việc. Nhiều lúc còn chưa thực
hạn chế. Bởi lẽ, các em còn phải học tập cùng lúc nhiều môn học, không thể
trọng môn này mà xem nhẹ môn kia. Ngoài việc học bồi dưỡng các em còn phải
tham gia khá nhiều hoạt động tập thể, thi đua giữa các lớp. Nên sắp xếp thời
gian phù hợp rất khó. Do đó, giáo viên phải biết tận dụng thời gian hợp lí, hài
hòa làm sao để tạo điều kiện tốt nhất cho các em.
Kết hợp nhiều yếu tố từ phía giáo viên và học sinh dẫn đến thực trạng giải
bồi dưỡng Ngữ văn 6 nhiều năm trước dù có giải nhưng chất lượng chưa cao.
Chưa thể nằm trong tốp đầu của Huyện và càng lên những lớp cao thì càng tụt
dốc, không đủ điều kiện dự thi cấp Tỉnh. Đó cũng là những vấn đề nan giải thôi
thúc bản thân tìm tòi những giải pháp hữu hiệu nhất. Và tôi luôn tâm niệm rằng đã
kết duyên với nghề thì phải thực sự yêu nghề, yêu trẻ. Chính vì vậy tôi mong
muốn mang tất cả những gì đã được học, đã tích luỹ dần qua các năm để truyền
đạt lại cho học sinh. Với hi vọng giúp các em có năng khiếu trở thành những học
sinh giỏi Văn, bồi dưỡng những con người vừa đức vừa tài cho đất nước. Qua đây
tôi cũng muốn chia sẻ với đồng nghiệp để học tập kinh nghiệm lẫn nhau vì đích
đến cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt là làm tròn “nhiệm vụ
đột phá” mà nhà trường và Phòng GD hiện nay đang quyết tâm hướng đến.
2.2. Nội dung sáng kiến:
Qua quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn với nhiều năm làm nhiệm
vụ bồi dưỡng học sinh giỏi, mà đặc biệt là Ngữ văn 6 bản thân tôi càng dạn dày
hơn để rút ra những bài học kinh nghiệm và mong muốn được chia sẻ cùng đồng
nghiệp. Tôi xin mạnh dạn đưa ra những giải pháp mà mình đã vận dụng có hiệu
quả như sau:
2.2.1. Có tâm huyết, có lòng nhiệt tình và luôn định hướng tư tưởng cho học sinh:
Bản thân tôi quan niệm rằng: “Thành công của học sinh cũng chính là
thành công của mình trong sự nghiệp trồng người” . Chính vì thế với tôi “tâm
huyết và lòng nhiệt tình” chính là yếu tố quyết định thành công của công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi. Chỉ cần chúng ta thật sự dồn tâm sức hết lòng ít nhiều sẽ
thu nhận thành quả. Một giáo viên linh hoạt, sáng tạo và chu đáo sẽ biết được
đặc điểm riêng của từng đối tượng học sinh, từng kiểu đề bài để từ đó có phương
lượng, hay trích kinh phí từ bản thân để trao thưởng cho các em, giúp những em
đạt kết quả cao, đứng tốp đầu hoặc những em gia cảnh khó khăn là việc làm
thiết thực mà tôi đã áp dụng và thấy hiệu quả.
Những ví dụ trên chỉ là công tác tư tưởng ban đầu định hướng cho học
sinh động cơ học tập và phấn đấu đạt giải. Ngoài ra, việc động viên khích lệ về
tư tưởng phải được tiến hành thường xuyên trong từng tiết học bằng những hành
động như: lời khen ngợi, khích lệ, phần quà nhỏ…sẽ giúp các em nỗ lực học tập.
Có thể nói, nếu có tâm huyết và lòng nhiệt tình nhất là làm tốt công tác tư tưởng
thì chúng ta đã thành công một nửa chặng đường.
2.2.2. Công tác phát hiện, tuyển chọn học sinh và phối hợp với phụ huynh:
Khâu phát hiện và tuyển chọn học sinh cũng đóng vai trò quan trọng. Học
sinh giỏi phải là người có tố chất, năng khiếu, sự sáng tạo, vốn kiến thức cơ bản
vững chắc và đặc biệt là niềm đam mê. Năng khiếu là không thể thiếu nhưng
quyết định vẫn là niềm đam mê. Chỉ có yêu thích, đam mê thì các em mới có thể
gắn bó lâu dài được. Khi yêu thích môn học các em sẽ cần cù và sáng tạo và tự
giác trong học tập. Tất cả yếu tố cần và đủ đó thể hiện qua quá trình học tập của
các em ngay từ những buổi đầu ở lớp. Phải lựa chọn kĩ những em thực sự có
năng lực và tố chất và niềm đam mê.
Khi đã phát hiện và tuyển chọn được đội tuyển tôi thường rèn cho học
sinh kĩ năng viết và cách trình bày khoa học. Hướng dẫn các em sưu tầm tài
liệu., khuyên các em mạnh dạn trao đổi vấn đề với cô, bạn bè. Một điều khá thú
vị là tôi thường tạo không gian thoải mái cho học sinh học tập: có thể là trong
lớp, ngoài ghế đá, đi bộ dạo mát kết hợp dò bài cùng bạn…Khi học một mình thì
nên kết hợp đọc viết để khắc sâu hơn. Hay là ôn bài lúc sáng sớm…
6
Với các bậc phụ huynh, tôi thường phối hợp bằng nhiều hình thức. Liên lạc để
trao đổi tình hình học tập, thăm nhà để động viên các em và trao đổi biện pháp
- Xác định cụm từ.
- Cấu tạo cụm từ.
- Từ đơn
- Giá trị biểu đạt từ láy
- Từ phức
4.Nghĩa của từ, dùng
từ đặt câu.
- Cách giải thích - Dùng từ đặt câu, dựng đoạn.
nghĩa của từ.
5. Biện pháp tu từ
- So sánh
- Nhân hóa
- Ẩn dụ
- Hoán dụ
- Phân tích hiệu quả thẩm
mỹ của một số biện pháp tu
từ: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ,
hoán dụ trong những đoạn
thơ, văn tiêu biểu.
- Sử dụng các biện pháp tu
từ để viết đoạn, bài văn .
Câu trần thuật đơn có từ là.
Câu ghép.
Khảo sát chất lượng
Tập làm
văn
1.Văn tự sự :
(40 tiết)
Phương pháp làm
các dạng bài tự sự :
- Kể chuyện tưởng tượng.
- Kể chuyện sáng
tạo.
- Kể chuyện tưởng
tượng
- Kể chuyện đời
thường.
Khảo sát chất lượng
2. Văn miêu tả :
- Rèn kỹ năng làm - Miêu tả sáng tạo
văn miêu tả với các
dạng :
+ Tả cảnh,
+ Tả người,
chữ, 5 chữ
Văn học 1.Văn học dân gian:
(30 tiết)
- Khái niệm, thể
loại, bản chất, đặc
trưng của một số
thể loại VHDG.
Kiến thức nâng cao
- Làm thơ theo chủ đề.
- Phương pháp phân tích
truyện dân gian
- Đặc điểm, ý nghĩa giáo
dục của truyện ngụ ngôn.
- Các kiểu nhân vật trong
truyện cổ tích Việt Nam
- Đất nước, con người
Việt Nam qua truyền
thuyết, cổ tích.
- Chứng minh giá trị của
văn học dân gian.
2. Văn học trung đại : - Khái niệm về - Ý nghĩa nhân văn trong
truyện trung đại.
truyện trung đại VN.
Khảo sát chất lượng
3. Văn học hiện đại
Việt Nam :
Nội dung
4. Văn
dụng:
bản
Kiến thức nâng cao
người trong văn bản
“Vượt thác”.
- Vấn đề đặt ra cho toàn
nhân loại trong văn bản “
Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”
nhật
Khảo sát chất lượng
+ Hiện thực đời sống, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, khát
vọng chinh phục thiên nhiên qua các truyền thuyết: Sơn Tinh – Thủy
Tinh, Thánh Gióng…
+ Khát vọng về chiến thắng của cái thiện, về công bằng, hạnh
phúc của nhân dân thông qua các truyện như: Thạch Sanh, Em bé
thông minh.
+ Phẩm chất và năng lực kỳ diệu của một số kiểu nhân vật.
+ Nghệ thuật kỳ ảo, kết thúc có hậu trong truyện cổ dân gian
*Một số
chuyên
+ Cách ghi chép sự việc tái hiện sự kiện trong truyện trung đại.
đề tham
rộng vốn từ, chúng ta rèn luyện chữ viết cho học sinh. Rèn luyện cách đặt câu,
dựng đoạn linh hoạt.
Thứ ba là dạy cho học sinh cách sử dụng hình ảnh so sánh văn học hay
các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ. Bởi vì chỉ dùng hình ảnh mới dựng lên
được những bức tranh cụ thể, sinh động, giúp người đọc cảm nhận được cuộc
sống, con người, sự vật, sự việc trong tác phẩm, trong bài văn. Trong khi làm
văn người viết cần phải vận dụng so sánh văn học như để làm nổi bật vấn đề,
làm cho bài văn phong phú, sinh động, giàu hình ảnh, hấp dẫn người đọc.
Vận dụng biện pháp so sánh văn học, một mặt để làm sáng tỏ được vấn
đề, mặt khác chứng tỏ người viết có kiến thức phong phú, rộng rãi.
Ví dụ: So sánh giữa nghệ thuật tả cảnh sông nước của nhà văn Đoàn Giỏi
và Võ Quảng . Hay hình ảnh so sánh của Nhà văn Tô Hoài khi nói về Dế Choắt :
“ cái chàng dế Choắt người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc
phiện…”. Hay hình ảnh nhân hóa trong bài Mưa của Trần Đăng Khoa:
“Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận!”
Hoặc hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác:
“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”
Và hình ảnh hoán dụ trong bài thơ Lượm của Tố Hữu:
“Ngày Huế đổ máu
Chú Hà Nội về.”
Như vậy có nghĩa là học sinh phải có kiến thức văn học phong phú. Để
rèn luyện khả năng này giáo viên bồi dưỡng cho học sinh nhiều tác phẩm khác
ngoài chương trình, giúp học sinh tập phân tích, bình giảng... Điều đó cũng có
nghĩa là đòi hỏi giáo viên phải có vốn tri thức sâu rộng.
Thứ tư là hướng dẫn cho học sinh cách tiếp cận và tích luỹ các nguồn tài
liệu, sách báo, sách tham khảo và đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin để
cập nhật những tin tức mới, nóng bỏng của xã hội. Hay cập nhật những dạng đề
những thắc mắc của các em. Có sự so sánh, khen ngợi, góp ý cụ thể, giúp các em
tiến bộ hơn. Giao những bài tập, hướng dẫn về nhà cũng nên có sự phân loại đối
tượng học sinh.
2.2.4. Kết quả:
Ý thức tầm quan trọng việc rèn luyện cho học sinh làm được một bài văn
hay, bản thân tôi và học sinh đã cùng nhau cố gắng nỗ lực không ngừng. Qua
quá trình bồi dưỡng, rèn luyện đội tuyển hàng năm tôi thấy các em đã có nhiều
tiến bộ đáng kể. Chất lượng bộ môn Ngữ văn có nhiều khởi sắc. Và nhờ áp dụng
những giải pháp trên mà tôi đã gặt hái nhiều thành công. Dù không được giảng
dạy ở những trường trọng điểm và học sinh đội tuyển Ngữ văn chưa phải là
những học sinh thuộc tốp đầu về năng lực như các môn Toán, Anh văn, tuy
nhiên đội tuyển đã giành nhiều thành tích:
Năm học
Tổng số giải Khối
2014-2015
7
2015-2016
10
2016-2017
2017-2018
7
5
theo dõi, nhắc nhở các em học tập. Ngoài ra, giáo viên bồi dưỡng phải có kỹ
năng, phương pháp: xây dựng kế hoạch đến chương trình bồi dưỡng; Rèn luyện
về chữ viết, vốn từ; Cách sử dụng hình ảnh nghệ thuật; Cách trình bày lập luận;
Cách tiếp cận tài liệu và cách bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trước một
vấn đề…
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đã đúc rút được trong
quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 6 trong những năm qua. Rất mong
nhận được sự giúp đỡ chân thành của các quý thầy cô, của đồng nghiệp để
chúng ta cùng đi đến mục đích chung cuối cùng là: góp phần đào tạo ra cho xã
hội những con người vừa hồng vừa chuyên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
3.2. Kiến nghị, đề xuất:
- Ban giám hiệu nhà trường cần tổ chức nhiều hơn các buổi trao đổi, bàn
luận chia sẻ kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Nên có các câu lạc bộ các môn học trong nhà trường, tạo sân chơi cho
các em, đồng thời để phát huy tài năng của các em.
- Nên phân nhóm giáo viên dạy chuyên bồi dưỡng để phân công nhiệm vụ
phù hợp, để giáo viên bồi dưỡng có thời gian toàn tâm, toàn lực trong công việc.
- Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện sáng kiến không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi cùng đồng
nghiệp để sáng kiến được hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi hơn.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sách giáo khoa Ngữ văn 6, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
[2] Sách Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 6, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
14