Báo cáo thực tập tại công ty TNHH thương mại LATHUSO. - Pdf 51

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thương mại
LATHUSO cùng với sự cố gắng của bản thân em đã hoàn thành bản báo
cáo thực tập tốt nghiệp với đề tài: "Kế toán bán hàng".
Để có được kết quả này trong quá trình thực tập vừa qua em đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ kinh tế ở Công ty nơi em thực tập
cùng với sự hướng dẫn của cô giáo trong trường đặc biệt là cô giáo Đoàn
Thị Thanh Tâm hướng dẫn đề tài này cho em. Em xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ quý báu và nhiệt tình của cô.
Do có những hạn chế về điều kiện chủ quan và khách quan nên đề tài
của em không tránh khỏi những sai sót. Vì thế em mong nhận được sự góp
ý của quý thầy cô và của bạn đọc quan tâm.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2008
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
1
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp của các quy luật cung
cầu, quy luật cạnh tranh. Đó là kết quả của sự đổi mới của cơ chế quản lý kinh tế
chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô
Nhà nước. Nhưng bên cạnh đó, các doanh nghiệp luôn phải đương đầu với nhiều
khó khăn thách thức để từng bước tồn tại và phát triển vốn kinh doanh có hiệu
quả.
Hơn thế nữa, là phải thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của Nhà nước do đó
phải tính toán chính xác kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh. Đặc biệt thực hiện luật thuế giá trị gia tăng, đước

khỏi những khuyết điểm và thiếu sót.
Em rất mong có ý kiến bổ sung và chỉ bảo quan tâm của cô giáo hướng
dẫn cũng như cán bộ ở Công ty đã hướng dẫn em thực hiện đề tài này.
Với phạm vi báo cáo này em xin trình bày các nội dung sau:
Phần I: Lý luận cơ bản về tổ chức kế toán bán hàng và kết quả bán hàng
trong doanh nghiệp thương mại.
Phần II: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng ở công
ty TNHH thương mại LATHUSO.
Phần III: Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại
công ty TNHH thương mại LATHUSO.
3
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
PHẦN I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ
KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
I - SỰ CẦN THIẾT TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ KINH
DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1. Đặc điểm hoạt động bán hàng
Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động kinh doanh mua bán hàng
hoá nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận. Là hoạt động không trực tiếp tạo ra của cải
vật chất nhưng nó phục vụ cho quá trình sản xuất và tiếp tục quá trình sản xuất
trong khâu lưu thông.
Trong nền kinh tế tập trung, việc tiêu thụ đầu ra của sản phẩm, hàng hoá
là theo định hướng của chính phủ chỉ đạo khiến cho các nhà kinh doanh không
phải tính toán cân nhắc xem nên sản xuất và kinh doanh mặt hàng nào thì có lợi
hơn. Nguyên nhân chính là do Nhà nước can thiệp quá sâu vào chu kỳ kinh tế
làm cho nó không tuân theo bản chất của các quy luật kinh tế khách quan như
quy luật Cung - Cầu, quy luật cạnh tranh… Ngày nay, nền kinh tế thị trường đã

Xác định được lượng hàng bán ra là xác định các chỉ tiêu kinh tế. (Ví dụ:
xác định tốc độ luân chuyển vốn, tỷ suất lợi nhuận…) là cơ sở để xác định các
khoản nghĩa vụ đối với Nhà nước (thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt).
Đối với người tiêu dùng, công tác bán hàng đáp ứng nhu cầu thị hiếu
ngày càng một đa dạng và phong phú. Bên cạnh đó còn hướng dẫn nhu cầu
tiêu dùng của khách hàng. Thúc đẩy tiêu dùng, là cơ sở để thúc đẩy sản xuất
và tiêu thụ ở các đơn vị kinh tế khác, đặc biệt là các cơ sở kinh tế có quan hệ
với Doanh nghiệp.
Như hoạt động bán hàng của Doanh nghiệp không thông suốt sẽ làm
ngưng trệ các hoạt động khác như hoạt động mua hàng, dự trữ và phát triển
Doanh nghiệp thương mại. Từ phân tích trên ta thấy rằng thực hiện tốt công tác
bán hàng có ý nghĩa rất quan trọng đối với bất cứ Doanh nghiệp nào. Do vậy
trong công tác quản lý nghiệp vụ bán hàng cần phải nắm bắt, theo dõi chặt chẽ
từng phương thức bán hàng, từng phương thức thanh toán, từng khách hàng,
từng loại hàng bán ra nhằm tăng tốc độ luân chuyển của đồng vốn Doanh
nghiệp.
5
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.1.Yêu cầu quản lý quá trình bán hàng
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, các sản phẩm
ngày càng đa dạng và phong phú, các sản phẩm thay thế lẫn nhau cũng không
ngừng tăng theo. Doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường cần có những
quyết định đúng đắn trong chiến lược kinh doanh của mình nhằm đem lại hiệu
quả cao nhất trong kinh doanh. Do vây, Doanh nghiệp phải quản lý các hoạt
động diễn ra trong quá trình bán hàng để có những thay đổi hợp lý về chính sách
bán hàng. Quản lý quá trình bán hàng cần phải:
- Quản lý sự vận động và số hiện có của từng loại sản phẩm, hàng hoá
theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng chủng loại và giá trị của chúng.

cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội.
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với phần
lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán
hoặc chấp nhận thanh toán.
- Đứng trên góc độ luân chuyển: Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá
trình sản xuất kinh doanh, đây là quá trình chuyển hoá hình thái vốn sản phẩm
hàng hoá sang hình thái vốn bằng tiền.
- Về mặt hành vi: quá trình bán hàng diễn ra sự thoả thuận trao đổi giữa
người mua và người bán, người xuất bán giao hàng cho người mua, người mua
chấp nhận trả tiền hoặc trả tiền.
- Về bản chất kinh tế: bán hàng là quá trình thay đổi quyền sở hữu hàng
hoá để chuyển sang người mua, người bán không còn sở hữu về số hàng hoá
đã bán.
Trong thực tế, liên quan đến quá trình bán hàng, không thể nói đến các
phương thức bán hàng, khách hàng và thể thức thanh toán
+ Phương thức bán hàng: Bán trực tiếp, bán ký gửi…
+ Khách hàng: có thể là cá nhân, tập thể, đại lí, cửa hàng, dịch vụ
+ Thể thức thanh toán: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, trả góp, trả chậm…
7
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ có các phương thức bán hàng khác
nhau. Phân loại theo phương thức chuyển hàng và thời gian nghi nhận doanh thu
bao gồm các phương thức bán hàng sau:
* Bán hàng theo phương thức gửi hàng:
Theo phương thức này doanh nghiệp định kỳ gửi hàng cho người mua
theo hoa hồng. Khi xuất hàng vẫn thuộc quyền quản lý của Doanh nghiệp và chỉ
khi nào người mua trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì lúc đó hàng mới được
chuyển quyền sở hữu cho người mua và xác định doanh thu.

lãi nhất định. Thông thường thì số tiền trả ở các kỳ sau phải bằng nhau bao gồm
1 phần tiền gốc và 1 phần lãi trả chậm.
9
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Phương thức hàng trao đổi hàng:
Theo phương thức này, Doanh nghiệp giao hàng cho khách hàng và đổi lại
khách hàng giao cho Doanh nghiệp vật tư hàng hoá khác, với giá trị tương
đương. Phương thức này có thể chia làm 3 trường hợp: - xuất kho lấy hàng ngay
- Xuất hàng trước khi lấy vật tư, sản phẩm, hàng hoá về sau
- Nhận hàng trước, xuất hàng trả sau
+ Các trường hợp được coi là tiêu thụ khác:
Trên thực tế, ngoài các phương pháp bán hàng như trên, hàng hoá của
Doanh nghiệp còn có thể tiêu thụ dưới nhiều hình thức khác. Đó là khi Doanh
nghiệp xuất hàng hoá để bán, tặng, trả lương cho cán bộ công nhân viên của
Doanh nghiệp. Trong trường hợp này người ta viết hoá đơn bán hàng, giao cho
người mua và được ghi nhận doanh thu ngay từ khi xuất hàng vì khi đó hàng đã
chuyển quyền sở hữu.
b. Các phương thức thanh toán tiền hàng:
Với sự phát triển của nền kinh tế các phương thức thanh toán rất đa dạng
không chỉ thanh toán bằng tiền mặt mà còn có nhiều phương thức thanh toán
khác. Áp dụng phương thức thanh toán nào là do bên mua và bên bán tự thoả
thuận lựa chọn sao cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị mình. Hiện
nay, các Doanh nghiệp thường áp dụng phổ biến ba hình thức là: Thanh toán
bằng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán nghiệp vụ ứng trước
tiền hàng.
* Thanh toán bằng tiền mặt là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người
mua và người bán bằng tiền mặt.
* Thanh toán không dùng tiền mặt (thanh toán qua ngân hàng): Hiện nay

Hàng hoá xuất
bán trong kỳ
* Kế toán bán hàng theo phương pháp KKĐK:
Đặc điểm phương pháp KKĐK: Theo phương pháp này DN không theo
dõi phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất hàng hoá trên các tài
khoản theo hình thức nhập, xuất. Cuối kỳ DN tiến hành kiểm kê và xác nhận
tình hình tồn kho của từng loại vật tư hàng hoá trên cơ sở đó tính ra trị giá hàng
hoá xuất ra bán trong kỳ
Hàng hoá xuất
kho trong kỳ
=
Hàng hoá tồn
kho đầu kỳ
+
Hàng hoá nhập
kho trong kỳ
-
Hàng hoá tồn kho
cuối kỳ
2.2. Kế toán doanh thu bán hàng
a. Khái niệm
Đối với từng phương thức bán hàng khác nhau thì nghiệp vụ giao hàng và
thu tiền có những khoảng cách khác nhau về không gian và thời gian. Do vậy,
11
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trong bán hàng xuất hiện 2 khái niệm cần phân biệt: Doanh thu bán hàng và tiền
thu bán hàng.
* Doanh thu bán hàng: là khoản thu do hoạt động kinh doanh chính

c. Kế toán doanh thu bán hàng
* Chứng từ sử dụng: Các chứng từ để phản ánh doanh thu bán hàng là
hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, hoá đơn bán
hàng giao thẳng, báo cáo bán hàng, bảng kê bán lẻ hàng hoá dịch vụ, giấy nộp
tiền của nhân viên bán hàng, bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày, bảng
thanh toán hàng đại lý, chứng từ thuế, giấy báo có của ngân hàng, các chứng từ
khác liên quan.
Đối với các khoản giảm trừ doanh thu, kế toán căn cứ vào các chứng từ có
liên quan đến việc chấp nhận giảm giá hay chấp nhận cho người mua trả lại số
hàng kém phẩm chất.
* Các tài khoản sử dụng
Kế toán sử dụng TK511 ”Doanh thu bán hàng”, TK512 “Doanh thu bán
hàng nội bộ” và các TK liên quan khác như TK156, TK157, TK333, TK131…
- TK 511 “doanh thu bán hàng”
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của Doanh
nghiệp trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh .
- TK512 “Doanh thu nội bộ”.
Tài khoản này phản ánh doanh thu về hàng hoá dịch vụ nộ bộ DN.
- Tài khoản 156 “hàng hoá”
Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng giảm các
loại hàng hoá của Doanh nghiệp bao gồm hàng hoá tại kho hàng, quầy hàng.
- Tài Khoản 157 “hàng gửi bán”
Tài khoản này sử dụng để theo dõi trị giá hàng hoá xuất bán theo phương
thức chuyển hàng hay phương thức bán hàng đại lý ký gửi
- Tài khoản 333 “Thuế và các khoản phải nộp ngân sách”
Tài khoản này để phản ánh số phải nộp và tình hính thanh toán của doanh
nghiệp và các khoản thuế, các khoản phải nộp khác với Nhà nước.
- Tài khoản131”Phải thu khách hàng”
13
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3

Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
TK511 TK331 TK111,112,131
Hoa hồng bán hàng Tiền bán hàng đại lý
đại lý được hưởng phải trả cho chủ hàng
Khi trả tiền bán hàng đại lý cho chủ hàng
Sơ đồ số 2:
KẾ TOÁN BÁN HÀNG THEO PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG TRẢ GÓP
TK 156 TK 632 TK 911 TK 511 TK 111, 112
Giá vốn
hàng bán K/c giá vốn K/c DTT DT bán hàng

TK 333.11
Thuế GTGT
đầu ra
TK 711 TK131

K/c TNHĐTC Số tiền KH chịu
Lãi tính trên
Số tiền trả góp
Sơ đồ số 3:
KẾ TOÁN BÁN HÀNG THEO HÌNH THỨC BÁN LẺ
TK156 TK 632 TK 911 TK 511 TK 111,112, 131
Giá vốn HB K/cGVHB K/c DTT DTBH
không thuế

TK 531, 532
Tổng giá
15

TK333.1 TK133
Thuế GTGT SP trao đổi
17
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ số 6:
KẾ TOÁN TỔNG HỢP DOANH THU BÁN HÀNG
TK531 TK511,512 Tk111,112 TK811
K/c DT hàng bán bị DT bán hàng thu tiền ngay Chiết khấu
trả lại
TK131
TK532 Chiết khấu
DT bán hàng cho công nợ
K/cgiảm giá hàng bán TK156
Cho khách hàng Bán hàng theo phương thức đổi hàng
TK911 TK334
Trả lương cho công nhân
K/c DT thuần
18
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ số 7:
KẾ TOÁN TỔNG HỢP NỢ PHẢI THU CỦA KHÁCH HÀNG
TK511 TK131 TK532,531
GGHB, DT hàng bán bị trả lại
DT bán hàng chịu
Giảm thuế
GTGT

=
Tổng doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
-
Các khoản giảm trừ
doanh thu
a. Kế toán chiết khấu thương mại
Chiết khấu thương mại là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá
niêm yết Doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc thoả thuận
về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết
mua, bán hàng.
Tài khoản sử dụng:
Kế toán chiết khấu thương mại sử dụng TK 521 – Chiết khấu thương mại
Bên nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng
Bên có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang TK “Doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán.
TK 512 không có số dư cuối kỳ
b. Kế toán doanh thu hàng đã bán bị trả lại
Doanh thu bán hàng đã bán bị trả lại là số sản phẩm, hàng hoá Doanh
nghiệp đã xác định tiêu thụ, đã ghi nhận doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại
do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc theo chính
sách bảo hành như: kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại.
Trường hợp người bán đã xuất hàng và lập hoá đơn, người mua chưa nhận
hàng nhưng không phát hiện hàng hoá không đúng quy cách chất lượng phải trả
lại toàn bộ hàng hoá hoặc một phần hàng hoá, khi trả lại hàng bên mua và bên
bán phải lập biên bản ghi rõ loại hàng hoá, số lượng, giá trị chưa có thuế, tiền
thuế GTGT, lý do trả lại hàng theo hoá đơn bán hàng (số, ký hiệu, ngày tháng
của hoá đơn) đồng thời kèm theo hoá đơn gửi trả lại cho bên bán là làm căn cứ
bên bán điều chỉnh doanh số và thuế GTGT đầu ra.
Tài khoản sử dụng:

rõ số lượng, quy cách hàng hoá, mức giá giảm theo hoá đơn bán hàng (số ký hiệu,
ngày tháng của hoá đơn, thời gian), lý do giảm giá, đồng thời bên bán lập hoá đơn
21
Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Lớp: K3
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
để điều chỉnh mức giá được điều chỉnh. Hoá đơn ghi rõ điều chỉnh cho hàng hoá
dịch vụ tại hoá đơn số, ký hiệu... Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh giá, bên bán và
bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.
Tài khoản sử dụng:
Kế toán chiết khấu thương mại sử dụng TK 532 – Giảm giá hàng bán
Bên nợ: Các khoản giảm giá đã chấp thuận cho người mua hàng
Bên có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang TK 511 để
xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán.
TK 532 không có số dư cuối kỳ
* Trình tự kế toán
- Kế toán các khoản giảm giá
2.4. Giá vốn hàng tiêu thụ
a. Phương pháp xác định trị giá vốn hàng bán:
Trị giá vốn hàng xuất kho là cơ sở để tính trị giá vốn hàng bán. Để xác định
được đúng đắn kết quả kinh doanh cần xác định đúng đắn trị giá hàng xuất bán.
Hàng hoá được nhập từ các nguồn khác nhau với từng lần nhập khác nhau, do
vậy đơn giá thực tế của từng lần xuất kho là không như nhau. Khi hàng hoá xuất
kho phải sử dụng phương pháp tính giá thực tế xuất kho phù hợp với điều kiện
của Doanh nghiệp.
Đối với Doanh nghiệp, trị giá vốn hàng bán bao gồm trị giá mua thực tế và
chi phí thu mua của số hàng xuất kho.
Trị giá vốn hàng xuất kho được tính bằng một trong các cách sau đây:
- Xác định theo đơn giá mua thực tế tồn đầu kỳ:
Theo phương thức này trị giá mua của sản phẩm, hàng hoá xuất kho được

phát sinh trong kỳ
x
Trị giá mua
thực tế của
hàng hoá
xuất kho
Trị giá mua cuả hàng
tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá mua của
hàng nhập trong kỳ
- Xác định theo phương pháp nhập trước, xuất trước:
Theo phương pháp này, giả thiết lô hàng nào nhập kho trước thì xuất trước
và lấy giá mua thực tế nhập kho của lô hàng đó để tính. Sau đó tổng hợp chi phí
thu mua phân bổ cho hàng xuất kho(tính như công thức ở phương pháp trên).
Với phương pháp này Doanh nghiệp phải xác định được đơn gia thực tế của
từng lần nhập kho hàng hoá
- Xác định theo phương pháp nhập sau, xuất trước:
Theo phương pháp này, giả thiết lô hàng nào nhập sau thì xuất trước và
hàng xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá mua thực tế nhập kho của lô
hàng đó để tính. Sau đó tổng hợp chi phí thu mua phân bổ cho hàng xuất
kho(tính như công thức ở phương pháp trên).
- Xác định theo đơn giá bình quân:
Theo phương pháp này, trị giá thức tế của hàng hoá xuất kho được xác
định theo công thức:
Trị giá vốn thực tế của
hàng hoá xuất kho
= Số lượng hàng xuất kho x Đơn giá bình quân
Trong đó:
Đơn giá bình quân =

tế của hàng tồn
đầu kỳ
+
Trị giá mua thực
tế của hàng
nhập trong kỳ
-
Trị giá mua thực
tế của hàng tồn
cuối kỳ
- Xác định trị giá vốn hàng xuất kho theo giá hạch toán:
Trong các Doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để ghi chép hàng ngày trên
các phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, sổ chi tiết đến cuối tháng phải điều chỉnh
giá hạch toán theo giá thực tế để ghi sổ tổng hợp. Để tính được trị giá thực tế
hàng xuất kho, trước hết phải tính được hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán
của hàng luân chuyển trong kỳ.
Hệ số giá =
Trị giá thực tế hàng
tồn đầu kỳ
+
Trị giá mua thực tế của
hàng nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán hàng
tồn đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán hàng
nhập trong kỳ
Sau đó tính trị giá thực tế hàng xuất trong kỳ
Trị giá vốn thực tế của hàng
hoá xuất kho


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status