CHUYÊN ĐỀ:
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH
HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG PHONG CÁCH, TÁC PHONG
CÔNG TÁC CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU, CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH
HỒ CHÍ MINH
1. Khái niệm phong cách
- Phong cách là một khái niệm có hàm nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, phong cách là những lề lối, cung cách, cách thức hành xử
của một người hay một lớp người, được thể hiện nhất quán trong lao động, học
tập, sinh hoạt, … tạo nên cái riêng của họ, phân biệt họ với những người khác.
Phong cách hình thành trên cơ sở những yếu tố về tư tưởng, đạo đức, lối sống,
tài năng, sở trường, khí chất… Phong cách chịu ảnh hưởng của nghề nghiệp, tạo
nên những thói quen của mỗi người. Có phong cách nhà giáo, phong cách nghệ
sĩ, phong cách quân nhân, phong cách lãnh đạo…
Theo nghĩa rộng, phong cách là người, là những đặc trưng riêng có của mỗi
người, phản ánh những phẩm chất và năng lực của họ, thể hiện những đặc điểm
bản chất của họ qua các quan hệ với tự nhiên, xã hội và với bản thân mình. Do
vậy, phong cách là sự thể hiện của lẽ sống, lối sống, là phương thức để thực hiện
mục đích sống của mỗi người.
- Biểu hiện chung của phong cách đối với tất cả mọi người là phong cách
sống. Thông thường phong cách sống tương ứng với trình độ học vấn. Nhưng
trên thực tế, cũng có không ít nghịch lý, người có trình độ học vấn cao, nhưng
trong cuộc sống lại có những biểu hiện tồi tệ đến kinh ngạc. Điều đó cho thấy,
phong cách sống của con người không chỉ phụ thuộc vào trình độ hiểu biết mà
còn chịu ảnh hưởng của ý thức đạo đức, thái độ và sự rèn luyện của cá nhân.
Muốn có một phẩm chất cao đẹp đòi hỏi con người phải phấn đấu, rèn luyện một
cách toàn diện và suốt đời.
- Phong cách lãnh đạo, quản lý liên quan đến những người được giao
nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý trên một pham vi nhất định. Đặc trưng cơ bản nhất
của phong cách lãnh đạo, quản lý là phong cách của cá nhân người lãnh đạo,
Chí Minh mang đậm tính chất dân tộc và hiện đại, khoa học và cách mạng.. của
một nhân cách lớn, một trí tuệ lỗi lạc, đạo đức trong sáng, nhân văn của nhà văn
hóa lớn trên thế giới Hồ Chí Minh.
- Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt
động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa học, đạo
đức, thẩm mỹ; là tấm gương sáng cho mọi người, mọi thế hệ người Việt Nam
học tập và làm theo.
2.2. Những nội dung cơ bản của phong cách Hồ Chí Minh
2.2.1. Về phong cách tư duy Hồ Chí Minh
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh có những đặc trưng nổi bật như sau:
Một là, phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại: Trong quá
trình hoạt động cách mạng sôi động và phong phú, Hồ Chí Minh đã hình thành
cho mình một phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại. Không tiếp
thu một cách thụ động, không dừng lại ở sự vật, hiện tượng bề ngoài, Hồ Chí
Minh đã đi sâu phân tích, so sánh, chắt lọc, lựa chọn, tổng hợp, rút ra những kết
luận, những luận điểm mới, vừa kế thừa, vừa phát triển sáng tạo để tiếp tục vượt
lên phía trước. Nhờ đó, Người đã bắt kịp nhịp sống và sự phát triển của thời đại,
đã hình thành được một phương pháp tư duy đúng đắn, có thể lựa chọn đúng
đường đi cho dân tộc và dự kiến được những bước phát triển mới của lịch sử.
Hai là, phong các tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo: Đó là phong cách tư
duy không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn nguyên xi của người khác, hết
sức tránh lối cũ, đường mòn, tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy tìm bản chất của sự
vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn.
Ba là, phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, gắn lý luận với thực tiễn:
Thể hiện rõ nhất của phong cách tư duy này ở Hồ Chí Minh là luôn biết xuất
phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những “lẽ phải
không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn.
2.2.2. Về phong cách làm việc
đạo, cá nhân phụ trách. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định. Mọi
vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật,…Người đều
dựa vào đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu
cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước phải được cân nhắc, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban
hành, ít phải thay đổi, bổ sung.
Hai là, đi đúng đường lối quần chúng,“lắng nghe ý kiến của đảng viên,
của nhân dân, của những người “không quan trọng”: Người yêu cầu và luôn
thực hiện người lãnh đạo phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ, từ dân chủ trong
Đảng đến dân chủ trong các cơ quan đại biểu của dân, thực hiện đường lối quần
chúng. Người đi xuống cơ sở, để lắng nghe ý kiến của cấp dưới và của quần
chúng, chứ không phải chỉ để huấn thị cấp dưới. Theo Người, phải biết động
viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là
phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật.
Ba là, thực hiện tốt công việc kiểm tra, kiểm soát: Theo Hồ Chí Minh, sau
khi nghị quyết đã được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện để nghị quyết
đi vào cuộc sống. Điều đó gắn liền với công việc kiểm tra, kiểm soát. Theo
Người, muốn tốt, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, sở dĩ sự thật còn bị bưng bít vì
sự kiểm tra, kiểm soát của các ngành, các cấp, không nghiêm túc, chưa chặt chẽ,
tệ quan liêu còn “nồng”.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tác phong kiểm tra sâu sát. Theo tài liệu
thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ tính trong vòng 10 năm xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn,
Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí
nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội…Tính ra mỗi năm, có hơn 60 lượt Người đi
xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần lãnh tụ gặp gỡ quần chúng.
Ngoài ra, hàng ngày qua đọc báo, đọc thư của nhân dân gửi lên, thấy có
những ý kiến hay, cần tiếp thu, những việc gấp cần giải quyết, Người đều dùng
hướng tới. Đó là sự đanh thép với những số liệu rõ ràng khi tố cáo; sự sôi nổi
trong tranh luận; thiết tha trong kêu gọi; ân cần trong giảng giải; sáng sủa trong
thuyết phục... Người quan niệm: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải
tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”.
2.2.5. Về phong cách ứng xử
Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là phong cách ứng xử của một nhà văn
hóa lớn của dân tộc và nhân loại, với những đặc trưng nổi bật:
Một là, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp: Trong các cuộc tiếp xúc, Hồ Chí
Minh luôn khiêm tốn, không bao giờ đặt mình cao hơn người khác, mà trái lại,
luôn hòa nhã, quan tâm chu đáo đến những người có mặt, nhất là với các cụ già,
trẻ em, phụ nữ, người lao động…
Hai là, chân tình, nồng hậu, tự nhiên, vui vẻ, hòa nhã: Trong các hoạt động
giao tiếp, ứng xử với mọi người, Hồ Chí Minh luôn xuất hiện với những cử chỉ
thân mật, lời hỏi thăm chân tình, thái độ vui vẻ, hóm hỉnh... xóa đi mọi khoảng
cách, tạo không khí chan hòa, gần gũi giữa lãnh tụ với quần chúng, như giữa
những người bạn, người thân trong gia đình. Điều đó lý giải vì sao mỗi khi và ở
đâu Hồ Chí Minh xuất hiện đều rộn lên niềm vui, những tiếng cười, sự hồ hởi
không dứt.
Ba là, linh hoạt, chủ động, biến hóa: Ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh đạt tới
sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm nồng hậu với lý trí sáng suốt, linh hoạt, uyển
chuyển, sẵn sàng vì cái lớn mà châm chước cái nhỏ.
2.2.6. Về phong cách sống
Một là, phong cách sống cần kiệm, liêm chính: Cả trong lời nói và việc làm
Hồ Chí Minh luôn luôn tự mình thực hiện cần kiệm, liêm chính. Đó không chỉ là
do hoàn cảnh mà là đạo đức, nhân cách của con người. Sinh ra tại một vùng quê
nghèo, một đất nước nghèo, ra đi làm cách mạng trong tư cách một người lao
động, phải tự thân vận động để sống và hoạt động, Bác Hồ đã sớm hình thành
cho mình một lối sống đó là rất mực cần cù, giản dị, tiết kiệm gần gũi với lối
sống của những người lao động, người cách mạng chân chính. Ngay cả khi đã
trở thành chủ tịch nước, Bác vẫn luôn giữ lối sống cần kiệm, liêm chính mẫu
quan điểm, ý kiến của mình. Được như vậy thì cấp dưới và quần chúng mới
hăng hái đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được coi trọng, được khen ngợi
thì những người đó càng thêm hăng hái làm việc. Phong cách dân chủ của người
cán bộ không chỉ khơi nguồn sáng tạo, phát huy tinh thần cống hiến của cấp
dưới và quần chúng nhân dân mà còn làm cho tổ chức cơ quan, đoàn thể thêm
gắn bó.
- Người có tác phong dân chủ là người thực hành tốt nguyên tắc “tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Đó là cách “để phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của
nhiều người”. Cán bộ không bao giờ được “độc tôn chân lý”, phải thành thực
lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới và nghiêm túc sửa mình với tinh thần
cầu thị. Làm như vậy thì chắc chắn người cán bộ sẽ được nhân dân yêu mến, cấp
dưới nể trọng.
- Nói về sức mạnh của dân chủ, Hồ Chí Minh từng nói: “Thực hành dân
chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Nếu người cán
bộ không có tác phong dân chủ hoặc “miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì
họ theo lối “quan” chủ” là họ tự tước đi của mình vũ khí hữu hiệu nhất để hoàn
thành nhiệm vụ. Khi đó, dù có “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị mà
công việc vẫn không chạy”.
- Phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ có định
hướng, có lãnh đạo, dân chủ phải đi đến sự tập trung chứ không phải dân chủ
quá trớn, dân chủ vô tổ chức. Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt
Đảng là “tập trung dân chủ”.
2. Phong cách làm việc quần chúng
- Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ phải có phong cách làm việc quần
chúng, xuất phát từ vấn đề có tính nguyên tắc về vai trò của quần chúng nhân
dân: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.
- Phong cách quần chúng yêu cầu người cán bộ phải gần gũi quần chúng,
lắng nghe và thấu hiểu mong muốn của quần chúng, phải thường xuyên đi
cũng phải biết tiết kiệm thời gian cho người khác. Cách tốt nhất là tập trung giải
quyết dứt điểm từng công việc. Không ôm đồm, làm quá nhiều việc, nhiều việc
không dứt điểm, không hiệu quả.
- Phong cách làm việc khoa học yêu cầu người cán bộ giải quyết công việc
trên cơ sở dữ liệu khách quan, dựa trên nền tảng thực tế để lựa chọn ra phương
án khả thi nhất và phương án ấy phải đặt trong tổng thể chiến lược lâu dài.
Không được rơi vào “bệnh cận thị - không trông xa, thấy rộng. Những vấn đề to
tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”. Người cán bộ không
được vì cái lợi nhỏ trước mắt mà làm tổn hại đến lợi ích to lớn, lâu dài. Tầm
nhìn - đó chính là phẩm chất của người có tư duy khoa học và có cách làm việc
khoa học.
- Phong cách làm việc khoa học đòi hỏi người cán bộ phải có cách đánh giá
đúng người, đúng việc, sắp xếp công việc cho hợp lý. Lại phải biết cách kiểm
tra, giám sát công việc và cấp dưới một cách hiệu quả, qua đó thấy được việc thi
hành đường lối, nghị quyết của Đảng như thế nào và cần điều chỉnh cái gì…
Kiểm tra còn có tác dụng phân loại, đánh giá cán bộ vì “có kiểm tra… mới biết
rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Cán
bộ lãnh đạo làm việc khoa học, chặt chẽ thì cấp dưới không thể “qua mặt”.
- Phong cách làm việc khoa học đòi hỏi người cán bộ sau mỗi công việc
phải biết rút ra kinh nghiệm cho lần sau và cho người khác. Người viết: “Công
việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ,
phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công
việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”.
4. Phong cách nêu gương, nói đi đôi với làm
- Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải làm gương trong mọi công việc, từ nhỏ
đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt; phải cần kiệm, liêm chính, chí công,
vô tư, nói phải đi đôi với làm. Cần nêu gương trên ba mối quan hệ với mình, với
người, với việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, luôn
vào đó mà noi theo, qua đó mà làm tăng thêm những điều đúng, những điều
thiện, chống lại thói hư, tật xấu.
- Trong các nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nêu
gương về tinh thần phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm
phục vụ nhân dân từ một triết lý sâu xa rằng, cơm chúng ta ăn, áo chúng ra mặc
đều do mồ hôi, nước mắt của dân mà ra, nên chúng ta phải đền bù xứng đáng
cho dân. Vì vậy mà cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân
dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm.
Đó là tư tưởng đạo đức, phong cách nêu gương, tự giác, gương mẫu Hồ Chí
Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải tự giác làm theo.
III. XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA
NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách
nhiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng, dẫn dắt quần chúng nhân dân đi theo Đảng
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi Đảng cầm quyền, đảng viên
của Đảng được tín nhiệm và sắp xếp tham gia công tác lãnh đạo, quản lý ở các
cơ quan, đơn vị. Trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp
nhà nước, đa số người đứng đầu là đảng viên của Đảng. Vì vậy, phong cách lãnh
đạo, quản lý của người lãnh đạo, người đứng đầu có vai trò quan trọng trong
thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng trong thực tiễn.
Dựa trên nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
đối với cán bộ, đảng viên nói chung, có thể nêu những nội dung chủ yếu của
phong cách lãnh đạo, quản lý cần có của người lãnh đạo, người đứng đầu như
sau:
1. Kết hợp giữ vững nguyên tắc với thực hiện các biện pháp quản lý
linh hoạt, mềm dẻo
- Yêu cầu quan trọng đầu tiên trong phong cách làm việc của người lãnh
đạo, quản lý là phải có sự thống nhất giữa tính Đảng, tính nguyên tắc cao với
tính năng động, sáng tạo, sự nhạy cảm với cái mới. "Trung với Đảng", "Trung
với nước, hiếu với dân" là phẩm chất chính trị cơ bản, thể hiện trong mọi hoạt
lãnh đạo. Vì có nhiệt tình cách mạng, người cán bộ lãnh đạo mới say mê, tận tuỵ
với công việc để tìm ra những phương án sáng tạo nhằm thực thi nhiệm vụ đạt
hiệu quả cao. Tính cách mạng, lòng yêu nước, thương dân là động lực lớn thôi
thúc người lãnh đạo, quản lý chuyên tâm, lo toan, tận tuỵ, say mê với công việc.
Đồng thời, người lãnh đạo, quản lý phải có sự tìm tòi sáng tạo, đề xuất được
những ý kiến hay, những phương án tối ưu để thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả
cao. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo, quản lý, phải là những người vừa
“hồng”, vừa “chuyên”, có đạo đức cách mạng, có tinh thần anh dũng, gương
mẫu, chịu đựng gian khổ, hy sinh và năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Hồ Chí Minh cho rằng tính khoa học phải được đảm bảo bằng tri thức
khoa học. Nhiệt tình cách mạng chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi nó được thống
nhất với các tri thức khoa học và trên cơ sở khoa học. Nhiệt tình cách mạng sẽ
trở thành duy tâm, duy ý chí nếu thiếu tri thức khoa học. Thực tiễn cho thấy, có
nhiệt tình mà thiếu tri thức khoa học sẽ dẫn tới sai lầm, chệch hướng, làm hỏng
đường lối, chính sách, hành động trái quy luật, thậm chí dẫn đến phá hoại vô ý
thức. Những chương trình, dự án, kế hoạch với những ý tưởng tốt đẹp, nhưng do
thiếu tri thức dẫn đến thất bại, gây ra tổn thất nặng nề.
- Để có tri thức khoa học, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chịu khó học
tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ về chính trị, văn hoá, nghiệp vụ cũng như
nắm được tình hình trong và ngoài nước. Chủ quan, tự mãn, ít nghiên cứu lý
luận và thực tiễn nên gặp thuận lợi dễ lạc quan, gặp thành công sớm mắc phải
căn bệnh kiêu ngạo cộng sản. Khi gặp khó khăn thì dễ lúng túng, bị động, dẫn
đến bi quan, dao động, lập trường cách mạng không vững… Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhắc nhở các cán bộ lãnh đạo, quản lý: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục
suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự
cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ngày
càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân
dân”.
thể, hoặc dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không dám quyết đoán, không nêu cao trách
nhiệm cá nhân…, làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý của
người cán bộ lãnh đạo.
4. Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói với làm
- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh
nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích tụ
lại trong quá trình lịch sử”. “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng
cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm
mắt mà đi”, “làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối,
vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” . Cán bộ lãnh đạo quản lý cần phải có lý luận
mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình.
- Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự cần thiết phải biết liên hệ lý luận với thực tiễn
trong công tác. “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù
quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Vì thế, người
cán bộ lãnh đạo phải nắm chắc lý luận, sự vận động của các quan điểm lý luận
trong thực tiễn, qua đó dự báo được những biến đổi của tình hình, của nhiệm vụ
cách mạng, thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Một trong những yêu cầu về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo,
quản lý là không được “lý luận suông”, mà phải có năng lực vận dụng lý luận
vào thực tiễn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập
cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học
tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách
sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta”.
- Hồ Chí Minh yêu cầu phong cách lãnh đạo phải gắn tư tưởng với hành
động, nói đi đôi với làm, nhất là nói đạo đức phải đi đôi với thực hành đạo đức.
Có mục tiêu phương hướng công tác rồi, phải có biện pháp và quyết tâm thực
hiện, và thực hiện có hiệu quả. Một người làm việc gì cũng không có hiệu quả
không thể coi là một người có đạo đức. Người nói: “Phải lấy kết quả thiết thực
trị nổi bật, thể hiện tư tưởng, đạo đức, nhân cách của một lãnh tụ cách mạng vĩ
đại, nhà văn hóa lớn, người cộng sản chân chính, một bộ óc thông minh trác
tuyệt, một nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, có phong cách, lối sống gần gũi
với cách nghĩ, cách làm, lối sống của nhân dân. Nghiên cứu các nội dung phong
cách Hồ Chí Minh để học tập, vận dụng và làm theo, xây dựng, rèn luyện phong
cách công tác, phong cách lãnh đạo phù hợp và hiệu quả.
Hai là, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách công tác
của cán bộ, đảng viên, công chức. Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách
mạng, ngay sau khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ ra những nội dung, yêu cầu cần có trong phong cách công tác của cán bộ,
đảng viên, trong cuốn sách “ Sửa đổi lói làm việc”. Học tập và làm theo những
nội dung về phong cách công tác của cán bộ, đảng viên công chức để xây dựng,
hoàn thiện phong cách công tác của mình là nhiệm vụ của tất cả cán bộ, đảng
viên, công chức hiện nay.
Ba là, những chỉ dạy của Hồ Chí Minh về phong cách lãnh đạo của cán bộ
lãnh đạo, người đứng đầu trong các tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Nội dung cơ bản của phần
này là tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách của cán bộ lãnh đạo, người đứng
đầu, gắn với trách nhiệm lãnh đạo, tập hợp quần chúng nhân dân để thực hiện
nhiệm vụ chính trị của các cơ quan đơn vị.
Cả ba nội dung nêu trên có sự gắn bó với nhau. Xác định đúng tính chất,
trọng tâm, yêu cầu của từng nội dung, từng phần để nghiên cứu, liên hệ sát đúng,
nắm chắc nội dung và vận dụng phù hợp trong từng vị trí công tác.
- Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh không phải là sự bắt chước,
thực hành một cách máy móc, mà cần vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào điều
kiện lịch sử cụ thể, phù hợp với những đặc điểm của mỗi người. Mục tiêu cao
nhất của học tập và làm theo phong cách của Bác là hiệu quả công tác, thực hiện
tốt nhất chức trách và nhiệm vụ của mình.
- Nội dung học tập trong chuyên đề cần làm rõ sự cần thiết học tập làm
theo phong cách Hồ Chí Minh, vai trò của phong cách Hồ Chí Minh trong trong
đảng xây dựng cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia góp ý với
Đảng; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, công luận đối với
việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách công tác của cán bộ,
đảng viên.
Hai là, với các cơ quan quản lý nhà nước.
- Nội dung học tập, vận dụng phong cách Hồ Chí Minh trong đổi mới
phong cách công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong bộ máy
quản lý nhà nước là thực hiện đúng các quy định về chức trách nhiệm vụ, quy
trình giải quyết công việc và đạo đức công vụ. Trong điều kiện suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng
và xã hội hiện nay, thực hiện đạo đức công vụ, đổi mới phong cách công tác phải
lấy đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tự diễn biến trong nội bộ, hết lòng hết
sức phục vụ nhân dân làm tiêu chí đánh giá.
Ba là, với các Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Trước hết, trách nhiệm của các tổ chức đảng phải lãnh đạo các tổ chức
quần chúng tham gia vào việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây
dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả,
trong đó có đổi mới phong cách lãnh đạo của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên
và người đứng đầu với tổ chức mặt trận và các đoàn thể chính trị. Phát huy vai
trò của các tổ chức quần chúng trong xây dựng phong cách công tác của cán bộ,
đảng viên. Thực tiễn đã chứng tỏ, ở đâu tổ chức đảng gắn bó với quần chúng,
vai trò của quần chúng được phát huy thì tổ chức đảng được củng cố, kiện toàn,
phát triển, đội ngũ cán bộ, đảng viên trưởng thành, phong cách công tác củac án
bộ hướng đến phục vụ tốt cho nhân dân…
- Muốn phát huy được vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia vào
việc xây dựng phong cách lãnh đạo của tổ chức đảng và đảng viên, cần tăng
cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội đã được quy định. Đẩy mạnh các hoạt động giám sát của
dung về phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, đặc
biệt là ủy viên cấp ủy, ban thường vụ, bí thư, chủ tịch, người đứng đầu. Thông
qua kiểm tra chặt chẽ, thường xuyên từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi
cư trú, có ý kiến đánh giá, uốn nắn kịp thời những lệch lạc trong phong cách
công tác, phong cách lãnh đạo có tác đụng rất tích cực trong đổi mới phong cách
công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên.
- Trong xây dựng phong cách công tác, phong cách lãnh đạo cũng rất cần
tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà
nước. Phong cách lãnh đạo được thể hiện trong các mối quan hệ. Đôi khi sự sai
lầm về phong cách làm việc, tuy nhỏ nhưng có tác hại rất lớn đến quan hệ giữa
Đảng, Nhà nước, với nhân dân, nhất là trong điều kiện các trang mạng xã hội có
tác động ngày càng lớn đến dư luận xã hội hiện nay. Xử lý kịp thời, nghiêm
minh, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm phong cách làm việc, dù ở
cương vị, chức trách nào không chỉ để giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng
viên, mà còn góp phần lấy lại niềm tin của nhân dân.
- Xây dựng phong cách công tác, phong cách lãnh đạo cần tiếp tục thực
hiện Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về trách nhiệm nêu gương. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương đã
chỉ rõ sự cần thiết phải nêu gương và nêu gương là nhiệm vụ của tất cả cán bộ
các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Quy định về trách nhiệm nêu gương
cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế
hoạch tu dưỡng, rèn luyện về phong cách công tác, phong cách lãnh đạo. Cần cụ
thể hóa cách thức thực hiện Quy định 101-QĐ/TW theo các chức trách, cương vị
công tác, lấy đơn vị là chi bộ để tiến hành kiểm tra hằng tháng, cùng nhau góp ý
và tạo điều kiện thực hiện. Đó cũng là giải pháp để đổi mới và nâng cao hiệu
quả của phong cách công tác, phong cách lãnh đạo.
4. Nhóm giải pháp về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy mặt
tích cực, đấu tranh với mặt tiêu cực
lớn và quý báu về phong cách công tác, phong cách lãnh đạo. Học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh xây dựng phong cách công
tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, công chức, người đứng đầu tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp - chủ đề thực hiện Chỉ thị 05CT/TW năm 2018 - là nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm lãnh đạo, tổ chức
thực hiện tốt ở tất cả các ngành, các cấp thuộc hệ thống chính trị, tuyên truyền
rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.
THAY MẶT CHI BỘ
BÍ THƯ