TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
THỰC TRẠNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH VÂN CƠ - PHÚ THỌ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÚ THỌ, NĂM 2014
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, cho vay là hoạt động chủ
yếu và đem lại thu nhập chính cho ngân hàng. Trong những năm gần đây, hoạt
động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa không những giúp cho ngân hàng
thương mại đảm bảo được tốc độ quay vòng vốn mà còn giúp cho ngân hàng thu
được một khoản lợi nhuận từ hoạt động cho vay đó, góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với một nền kinh tế đang phát triển thì nhu
cầu về vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng trở nên rất quan trọng,
vốn giúp cho doanh nghiệp đầu tư mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu để mở
rộng và nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do đó, hoạt động cho
vay đóng vai trò rất quan trọng đối với cả doanh nghiệp và các ngân hàng thương
mại. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp rất nhiều khó khăn trong
quá trình giải quyết những tồn tại của bản thân doanh nghiệp như: trình độ tổ
chức và quản lý yếu, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém, thị
trường không ổn định, thiếu vốn để đổi mới công nghệ,... Do vậy, doanh nghiệp
nhỏ và vừa khó tiếp cận được vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại và đây
vừa tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Vân Cơ - Phú Thọ;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Vân Cơ - Phú Thọ;
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Đối tượng khảo sát:
+ NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Vân Cơ - Phú Thọ
+ Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Vân
Cơ - Phú Thọ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ, trong đó có đi vào nghiên
cứu về hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Về không gian: NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Vân Cơ - Phú Thọ
- Về thời gian: Sử dụng số liệu từ năm 2011 đến năm 2013
3
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập tài liệu
- Tài liệu thứ cấp
Việc thu thập tài liệu thông tin bao gồm việc sưu tập và thu thập những tài
liệu, số liệu liên quan được công bố và những tài liệu, số liệu tại cơ sở nghiên
cứu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011-2013, tổng kết số liệu
đầu tư tín dụng qua các năm 2011-2013, kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ
yếu 2011-2013. Các quyết định, nghị định của NHNo&PTNT Việt Nam liên
quan đến hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Tài liệu sơ cấp
Thu thập những thông tin cần thiết từ phía DNN&V bằng cách thăm dò ý
kiến đánh giá các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Chi nhánh thông qua
yếu tố, các nhận xét mà khi ta sử dụng các phương pháp để đưa ra được kết luận.
Vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hóa các vấn đề trong nhận thức tổng
hợp. Trong đề tài này, sau khi thu thập, xử lí các số liệu, em đã lập bảng thống
kê và tính các chỉ số rồi đưa ra các nhận xét tổng hợp, phân tích, nhận định về
các vấn đề thông qua các chỉ số đó về tình hình hoạt động của ngân hàng.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh
Vân Cơ - Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam Chi nhánh Vân Cơ - Phú Thọ
5
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Theo luật các tổ chức tín dụng (TCTD) căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10. Quốc hội ban hành Luật các tổ chức tín dụng số
47/2010/QH12. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 khẳng
định: "Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ các hoạt động của
thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động
thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài,
hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp
với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.1.4. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.4.1. Hoạt động huy động vốn
Đây là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng của NHTM,
hoạt động mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác
như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. NHTM
được huy động vốn dưới các hình thức sau: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có
giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
1.1.4.2. Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt
động chứa đựng nhiều rủi ro. NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới nhiều hình thức khác nhau. Cụ thể: bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính.
1.1.4.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân
hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước, còn giữa
các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước thì NHTM phải mở tài
khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi NHTM đặt trụ sở chính. Hoạt động
dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động như: cung
cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho
khách hàng, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ,…
8
1.1.4.4. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính đã nêu trên, NHTM còn có thể thực hiện một
số hoạt động khác như: góp vốn và mua cổ phần, tham gia trên thị trường tiền tệ,
trở xuống
Công nghiệp
10 người trở
20 tỷ đồng
và xây dựng
xuống
trở xuống
Thương mại
10 người trở
10 tỷ đồng
xuống
trở xuống
nghiệp và
thủy sản
và dịch vụ
300 người
từ trên 10
từ trên 20 tỷ
từ trên 200
người đến
đồng đến 100
người đến
200 người
tỷ đồng
300 người
từ trên 10
từ trên 10 tỷ
từ trên 50
người đến 50
đồng đến 50
cũng như các nhà quản lý giỏi, những công nhân có tay nghề cao. Từ đó, dẫn
đến năng suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng vốn kém ảnh hưởng đến khả năng
hoàn trả vốn vay và bảo toàn vốn thấp. Chính điều này sẽ dẫn tới khả năng tiếp
cận vốn của các ngân hàng của các doanh nghiệp này bị hạn chế.
1.2.2.3. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thấp
Do các DNN&V là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn đầu tư cho
hoạt động sản xuất kinh doanh còn ít làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh gặp
nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm như: chất lượng chưa cao,
sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ còn yếu,… Do đó không mở rộng được thị
trường, ngày càng khó tiêu thụ hàng hóa. Chính điều này sẽ dẫn đến doanh thu
10
thấp và lợi nhuận cũng thấp, cản trở việc sản xuất kinh doanh, dễ có những hành
vi gian lận thương mại, kinh doanh trái với quy định của pháp luật.
1.2.2.4. Hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu ảnh hưởng lớn của môi
trường kinh doanh bên ngoài
Chính những đặc trưng về quy mô nguồn vốn và lực lượng lao động đã
phần nào nói lên sự phụ thuộc của các DNN&V vào môi trường kinh doanh. Các
tác động từ bên ngoài tới doanh nghiệp cũng đã gây ra không ít khó khăn cho
các doanh nghiệp này. Trước hết, sự tác động quản lý của nhà nước về hoàn
thiện Luật doanh nghiệp, các chính sách thuế, chính sách tín dụng, thương mại,
chính sách khoa học công nghệ, lao động và việc làm… có nhiều bất cập. Tác
động quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp trong khâu tổ chức còn nhiều
bức xúc. Sự thiếu hụt và rối loạn thị trường như: thị trường vốn, thị trường thông
tin, thị trường dịch vụ và nạn hàng giả, hàng lậu tràn lan gây nhiều khó khăn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của DNN&V.
1.2.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường
DNN&V có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước. Ở
nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển DNN&V luôn là nền
Hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng chứa đựng ba nội dung
cơ bản đó là:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho
người sử dụng;
- Sự chuyển nhượng này có giới hạn;
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
1.3.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, khi cho vay đối với các DNN&V, các ngân hàng dễ gặp phải rủi
ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Bởi vì các lý do sau:
- Khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và
vừa còn thấp. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này còn thấp do quy
mô nhỏ và năng lực tài chính thấp, trình độ công nghệ đang sử dụng còn lạc hậu
điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình mở rộng quy mô và tăng trưởng tín
dụng của TCTD trên địa bàn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Trình độ quản lý, quản trị kinh doanh của DNN&V còn hạn chế. Đặc
biệt trong quá trình triển khai xây dựng phương án, dự án sản xuất kinh doanh
12
còn lúng túng, ít khả thi và thiếu tính thuyết phục để Ngân hàng đầu tư cho vay
thực hiện dự án.
- Tỷ lệ vốn tự có tham ra vào những dự án lớn của doanh nghiệp còn thấp,
đặc biệt là dự án thay đổi máy móc thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất,
chuyển giao công nghệ. Khả năng tiềm ẩn rủi ro là rất lớn, khó để các TCTD
tham gia, đầu tư vốn vào dự án.
- Quan hệ trao đổi thông tin giữa ngân hàng - doanh nghiệp chưa được
khai thác hiệu quả để phục vụ cho quá trình mở rộng tăng cường tín dụng.
Thứ hai, là khi cho vay đối với DNN&V ngân hàng có thể đa dạng hóa
danh mục đầu tư, phân tán rủi ro, đặc biệt là rủi ro hệ thống. Bên cạnh những
hạn chế của mình, các DNN&V có không ít thuận lợi như:
mình. Và hồ sơ vay vốn của loại hình doanh nghiệp phải đủ các giấy tờ như:
điều lệ doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh...
+ Tín dụng đối với công ty cổ phần: là các khoản vốn vay vốn của công ty
cổ phần, hồ sơ vay vốn phải đủ các giấy tờ.
Căn cứ vào ngành nghề người ta chia ra làm 3 loại:
+ Tín dụng đối với ngành thương nghiệp: là việc ngân hàng cho các
DNN&V trong ngành thương nghiệp vay vốn và tuân theo các điều kiện vay của
từng ngân hàng thương mại.
+ Tín dụng đối với ngành công nghiệp - xây dựng: là việc các DNN&V
trong ngành công nghiệp xây dựng vay vốn tại ngân hàng thương mại theo nhu
cầu vay của mình.
+ Tín dụng đối với ngành giao thông vận tải: là việc ngân hàng thương
mại cho vay đối với các DNN&V trong ngành giao thông vận tải để đáp ứng nhu
cầu vay vốn của các doanh nghiệp. Các khoản vay theo hình thức có tài sản đảm
bảo và không có tài sản đảm bảo.
1.3.4. Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.3.4.1. Đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp một cách kịp thời
Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp
thường lấy từ các nguồn sau: nguồn vốn chủ sở hữu, vay từ các nguồn vốn phi
chính thức, vay ngân hàng, vay vốn qua thị trường vốn hay thuê mua.
Tăng nguồn vốn chủ sở hữu là biện pháp đơn giản nhất đối với bất cứ
doanh nghiệp nào bởi đây là nguồn vốn do cổ đông đóng góp hoặc vốn của
14
người chủ. Tuy nhiên giải pháp này thường không thực tế đối với DNN&V vì
thực tế người chủ doanh nghiệp hay cổ đông có nguồn tài chính hạn chế, họ
không có khả năng bỏ ra nhiều hơn số vốn mà họ góp vào doanh nghiệp.
Vay từ các nguồn vốn phi chính thức như vay từ các đối tác kinh doanh, từ bạn
bè,… thường có lãi suất cao, số lượng ít, rủi ro lớn không ổn định đối với DNN&V.
1.3.4.3. Thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cường thực hiện chế độ
hạch toán kinh doanh
Để tiếp cận được nguồn vốn từ ngân hàng, các DNN&V bắt buộc phải
thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh bởi các ngân hàng chỉ có thể cho vay nếu
doanh nghiệp làm ăn có lãi, điều đó thể hiện thông qua các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp như bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Như vậy, ngân hàng thông qua tài trợ vốn đã giúp
các DNN&V tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh, quản lý mọi hoạt động
của các DNN&V cho các cơ quan nhà nước.
1.4. Hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân
hàng thương mại
1.4.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay đối doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tín dụng luôn là hoạt động mang lại hiệu quả cao cho các ngân hàng
thương mại, song không phải tất cả các ngân hàng thương mại đều thực hiện tốt
nhiệm vụ này. Một số ngân hàng gặp khó khăn trong vấn đề quản lý, thu hồi nợ,
huy động vốn... Nhưng hầu hết các rủi ro mà ngân hàng gặp phải đều rơi vào
hoạt động cho vay. Hiệu quả hoạt động cho vay ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu
quả tín dụng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Từ việc đánh giá hiệu quả
cho vay sẽ giúp ngân hàng khắc phục được những khó khăn đó.
Hiệu quả hoạt động cho vay đối với DNN&V được thể hiện ở: Đối với
ngân hàng đó là khoản lợi nhuận mà hoạt động cho vay mang lại. Khoản lợi
nhuận này được tính dựa trên chênh lệch giữa lãi huy động và lãi cho vay. Khi
khoản cho vay này đem lại lợi nhuận tức là hoạt động cho vay của ngân hàng là
có hiệu quả. Đối với DNN&V khoản này giúp doanh nghiệp tái sản xuất đơn
giản và mở rộng hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Một khoản cho vay có hiệu quả sẽ góp phần thực hiện mục tiêu của nhà
nước, giải quyết công ăn việc làm cho người dân.
16
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động từ đó giúp tăng thu nhập cho họ.
17
d, Quy trình cho vay, chính sách cho vay
- Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM: quy
trình cho vay của ngân hàng có thể hiện tính chuyên nghiệp hay không, có đáp
ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của DNN&V trên cơ sở nguồn lực sẵn có của ngân
hàng hay không,... Nếu làm tốt được các điều này sẽ làm cho chất lượng cho vay
của ngân hàng được DNN&V đánh giá cao.
- Chính sách cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM: chính
sách cho vay của NHTM rất quan trọng với các DNN&V bởi chính sách cho vay
tốt sẽ khuyến khích các DNN&V vay vốn tại ngân hàng. Nâng cao hoạt động
cho vay của NHTM.
1.4.2.2. Chỉ tiêu định lượng
a, Tỷ lệ nợ quá hạn
Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh độ an toàn cho vay nói riêng và hiệu
quả cho vay nói chung của NHTM
Dư nợ quá hạn của
Tỷ trọng nợ quá hạn đối
với DNN&V (%)
=
DNN&V
Tổng dư nợ cho vay đối
x 100%
xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng:
- Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 đến
180 ngày. Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn 90 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại. Nợ được miễn hoặc giảm do khách hàng không có khả năng
trả được lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng, nợ đang thu hồi theo kết luận của
thanh tra, nợ có giá trị vượt quá giới hạn cấp tín dụng,...
- Nợ nghi ngờ (nhóm 4): là các khoản nợ đã quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2;
Nợ phải thu hồi theo kết luận của thanh tra nhưng đã qua hạn thu hồi đến 60
ngày mà vẫn chưa thu hồi được,...
- Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5): là các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày. Các khoản nợ cơ cấu lại lần 2 nhưng bị quá hạn. Tất cả các khoản nợ được
cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 3 lần trở đi. Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Tỷ lệ này cao sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được xem là an toàn.
c, Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng
(vòng)
Doanh số thu nợ
=
Dư nợ bình quân
Trong đó:
Dư nợ bình quân trong kỳ=( Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ) / 2
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng,
thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Chỉ số này càng lớn thì
khoản cho vay.
Còn khi nền kinh tế ở giai đoạn suy thoái, các doanh nghiệp có xu hướng thu
hẹp quy mô sản xuất, quy mô cho vay đối với DNN&V theo đó cũng giảm xuống
làm cho hiệu quả cho vay của ngân hàng về mảng tín dụng này cũng giảm sút.
Như vậy, môi trường kinh tế thông qua việc tác động tổng hợp lên các chủ
thể kinh tế, trong đó có NHTM, người gửi tiền của ngân hàng, DNN&V, đối thủ
cạnh tranh của ngân hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay ngắn
hạn của ngân hàng thương mại đối với DNN&V.
1.5.1.2. Môi trường xã hội
Môi trường xã hội bao gồm các yếu tố phong tục, tập quán, nhận thức,
quan điểm của người dân, đạo đức của xã hội và các yếu tố tình hình kinh tế chính trị - xã hội của một quốc gia. Môi trường này ảnh hưởng đến hoạt động
cho vay của ngân hàng qua các mặt sau:
20
Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, trong đó
nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư là một nguồn tiền tương đối ổn định, tạo
điều kiện cho ngân hàng tiến hành hoạt động cho vay an toàn và hiệu quả.
Nhưng nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư vào NHTM không chỉ phụ thuộc vào
tình hình thu nhập của họ mà còn phụ thuộc vào thái độ gửi tiền vào ngân hàng
còn e dè, tiền tiết kiệm thường được họ cất trữ dưới dạng vàng hoặc bất động
sản từ đó làm giảm đáng kể nguồn vốn tương đối ổn định dành cho hoạt động
cho vay đối với DNN&V của ngân hàng.
1.5.1.3. Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật, các văn bản
dưới luật tạo hành lang cho các đối tượng phạm vi điều chỉnh hoạt động theo
đúng những quy định được đề ra. Một hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ, đầy
đủ sẽ là một hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể trong nền kinh tế vận động
theo nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể kinh tế và góp phần
vào việc bảo vệ những lợi ích xứng đáng của họ khi tham gia vào nền kinh tế.
cầu thường xuyên hoặc nhu cầu tức thì. Hơn nữa, thông thường, các doanh
nghiệp chỉ được phép cho vay trong một hạn mức nhất định. Nếu doanh nghiệp
vay nợ quá nhiều thì khó có thể vay thêm vốn nữa.
Thứ hai, các doanh nghiệp chưa thực sự hợp tác với ngân hàng. Khi đi
vay lần đầu hoặc chưa có sự tin tưởng của ngân hàng, mức độ minh bạch của
các báo cáo tài chính là cơ sở để ngân hàng xét duyệt cho vay. Nhưng trong thực
tế hiện nay, các doanh nghiệp đi vay đã không muốn bộc bạch hết với ngân
hàng, không muốn giải trình hay trao đổi kỹ lưỡng về phương án vay vốn, không
muốn đưa tài sản cho ngân hàng tạm giữ. Do vậy, ngân hàng chỉ duyệt vay với
số tiền nhỏ nhằm tránh rủi ro có thể gặp phải.
Thứ ba, vấn đề thế chấp, cầm cố, bảo lãnh. Trên lý thuyết, điều kiện cho
vay là sử dụng vốn có mục đích, hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn, có tài sản đảm
bảo, có phương án vay vốn hiệu quả. Và ưu tiên nguyên tắc có phương án vay
vốn khả thi và hiệu quả. Nhưng trên thực tế, các ngân hàng vẫn ưu tiên cho vay
khi có tài sản bảo đảm cho mỗi một khoản vay. Nhiều doanh nghiệp không có
tài sản thế chấp, hoặc có tài sản thế chấp nhưng không được ngân hàng chấp
nhận hoặc ngân hàng cũng chỉ chấp nhận tối đa 70% giá trị tài sản để làm thế
chấp cho khoản vay. Mặt khác, các DNN&V cũng gặp rất nhiều khó khăn trong
22
việc xử lý các thủ tục như: đăng ký quyền sở hữu tài sản, khó khăn trong việc
xác định giá trị của tài sản thế chấp là bất động sản…
Thứ tư, trình độ quản trị kinh doanh của DNN&V còn yếu kém. Với đội
ngũ nhà lãnh đạo còn thiếu kiến thức về quản trị kinh doanh thì việc xây dựng
các phương án khả thi chưa có sức thuyết phục với ngân hàng. Do vậy, các
DNN&V sẽ không được ưu tiên vay vốn. Mà nếu có được vay thì chi phí mà các
doanh nghiệp phải bỏ ra để vay vốn cộng với lãi suất phải trả đôi khi cao hơn
khả năng sinh lời của phương án. Chính điều này làm các DNN&V có ý định
vay vốn nản lòng.
định lãi suất, ngân hàng phải tính đến rủi ro, lãi suất hoà vốn, lãi suất cạnh tranh
trên thị trường. Thông thường, các doanh nghiệp lớn được ưu đãi hơn về lãi suất
cho vay. Đối với các DNN&V do mức độ rủi ro của món vay cao nên ngân hàng
đưa ra mức lãi suất cao nhằm bù đắp rủi ro có thể xảy ra. Các DNN&V thường vay
ngắn hạn và các món vay nhỏ lẻ nên lãi suất ngân hàng thu được không đáng kể.
- Chính sách thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ: Các giới hạn về thời gian luôn
được các nhà quản lý ngân hàng chú ý bởi vì kỳ hạn liên quan đến thanh khoản và
rủi ro ngân hàng cũng như chu kỳ kinh doanh của người vay. Chính sách kỳ hạn
phải giải quyết mối quan hệ giữa thời hạn nguồn và thời hạn cho vay.
- Chính sách các khoản đảm bảo: Quy định các trường hợp tài trợ cần
đảm bảo bằng tài sản, các loại bảo đảm cho mỗi loại hình tín dụng, tỷ lệ phần
trăm cho vay dựa trên tài sản bảo đảm. Đó là chính sách đối với các khoản nợ có
vấn đề, nợ quá hạn, nợ xấu, các tài sản có biểu hiện nghi ngờ. Với các DNN&V
thông thường ngân hàng vẫn yêu cầu phải có tài sản thế chấp khi vay vốn.
1.5.2.2. Quy trình phân tích tín dụng
Quy trình phân tích tín dụng đó là việc cán bộ tín dụng thực hiện các bước
nhằm phân tích tín dụng trước, trong và sau khi cho vay. Mà ở đây, ảnh hưởng
đến mở rộng cho vay DNN&V là trình độ của cán bộ tín dụng còn non yếu,
không đủ khả năng phân biệt phương án khả thi hay không. Cán bộ tín dụng thiều
khả năng phán đoán và có cách nhìn toàn diện cũng như hiệu quả thực tế. Đôi khi,
cán bộ tín dụng quá cứng nhắc, thực hiện theo đúng thủ tục mà không có sự linh
hoạt như tư vấn hoặc là xem xét kỹ phương án vay vốn của DNN&V.
Nhìn chung, các ngân hàng vẫn còn e ngại khi cho DNN&V vay vốn.
Nhiều ngân hàng và doanh nghiệp chưa tìm được tiếng nói chung. Nhu cầu vốn
24
vay của các DNN&V ngày một gia tăng buộc các ngân hàng phải quan tâm hơn
đến việc mở rộng cho vay khu vực này.
1.6. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ