BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHẬN THỨC VỀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG CHỨC
TẠI SỞ TÀI CHÍNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHẬN THỨC VỀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG CHỨC
TẠI SỞ TÀI CHÍNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HỒ VIẾT TIẾN
TP. HỒ CHÍ MINH - 2018
2.1 Mục tiêu tổng quát ........................................................................................... 2
2.2 Mục tiêu cụ thể ................................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 3
4. Câu hỏi nghiên cứu .............................................................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 3
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ................................................................................. 4
7. Kết cấu luận văn ................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
DOANH NGHIỆP .................................................................................................... 6
1.1 Cơ sở lý luận về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ................................. 6
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social
Responsibility – CSR) ................................................................................................ 6
1.1.2 Đạo đức kinh doanh ...................................................................................... 8
1.1.3 Phát triển bền vững – Mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội ...................... 9
1.1.4 Lý thuyết các bên liên quan ........................................................................ 10
1.1.5 Một số mô hình nghiên cứu về CSR ........................................................... 11
1.1.5.1 Mô hình kim tự tháp của Carroll (1991)...........................................11
1.1.5.2 Mô hình ba miền của Schwartz & Carroll (2003) ............................12
1.1.5.3 Mô hình vòng tròn đồng tâm Ủy ban phát triển kinh tế (1971) ........14
1.1.5.4 Mô hình về năm khía cạnh CSR của Alexander Dahlsrud (2008) ....15
1.1.5.5 Mô hình các bên liên quan ................................................................16
1.2 Trách nhiệm xã hội trong khu vực công ........................................................ 18
1.3 Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội ............................................... 22
1.4 Mô hình nghiên cứu chính thức ...................................................................... 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ......................................................................................... 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA CÔNG CHỨC TẠI SỞ TÀI CHÍNH ĐỒNG NAI .................................... 26
2.1 Tổng quan về Sở Tài chính Đồng Nai ............................................................ 26
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mô tả mẫu quan sát……………………………………………………….
38
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội với khách hàng…........
40
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội với người lao động…..
42
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội với nhà cung cấp…….
44
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội với môi trường……….
45
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội với cộng đồng………
47
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát nhận thức về trách nhiệm xã hội với nhà quản lý……..
49
Hình 1.7: Mô hình nghiên cứu chính thức………………………………………….
24
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Sở Tài chính Đồng Nai hiện nay…………………………
28
Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu…………………………………………………….
33
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC
Cán bộ, công chức
CSR
Corporate Sociel Responsibility (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp)
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Phụ lục 4
nâng cao, tư tưởng, lối sống, đạo đức của cán bộ, công chức cũng có sự chuyển biến
lớn gây nên tác động tích cực lẫn tiêu cực về nhiều mặt. Theo Chỉ số PAPI (Chỉ số
hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Việt Nam) năm 2017 được
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam công bố: tỷ lệ người được gặp
và làm việc với cán bộ chính quyền khi có bức xúc tăng 21,42% so với năm 2016.
Tỉ lệ người hài lòng với kết quả phúc đáp của chính quyền về đơn thư khiếu nại
tăng 17,78% so với năm 2016. Bên cạnh đó, tỷ lệ người cảm thấy hài lòng, đã đạt
kết quả tốt trong quá trình làm việc với cán bộ, công chức địa phương giảm nhẹ
2,4% so với năm 2016. Tỉ lệ hài lòng với kết quả giải quyết thư tố cáo giảm 51,47%
so với năm 2016. Cụ thể hơn, tại tỉnh Đồng Nai, theo báo cáo kết quả công tác
thanh tra năm 2017 cho thấy, tuy chỉ số PAPI của tỉnh thuộc nhóm trung bình cao,
các nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động đều tăng so với các năm vể trước nhưng
vẫn còn một số trường hợp bất cập như: qua thanh tra, phát hiện 101 trường hợp cán
bộ, công chức có hành vi sai phạm trong quá trình thực thi nhiệm vụ, vi phạm kỷ
luật, kỷ cương hành chính; 03 đối tượng có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn
2
trong khi thi hành công vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm, không tuân thủ nguyên tắc,
quy định về tài chính – kế toán để xảy ra các sai phạm về tài chính ngân sách. Trong
tổng số 51.329 cán bộ, công chức của tỉnh thực tế chỉ có khoảng 60% cán bộ, công
chức làm việc có hiệu quả cao; một số trường hợp cán bộ, công chức thiếu ý thức
trách nhiệm trong giải quyết công việc, có thái độ không đúng mực, xử lý phản ánh,
kiến nghị của người dân chưa triệt để; giải quyết công việc sai quy định; bớt xén
thời gian làm việc, thụ động trong việc học tập nâng cao trình độ dẫn đến năng lực
công tác hạn chế…Các vấn đề bất cập vẫn tiếp tục xảy ra khiến người dân dần mất
niềm tin vào cơ quan nhà nước tạo nên áp lực chung cho khu vực công.
Trước tình hình đó, cơ quan nhà nước cần kịp thời rút kinh nghiệm, hoàn
thiện chính sách, điều chỉnh lối làm việc, đáp ứng các yêu cầu về trách nhiệm xã
môn tại Sở Tài chính Đồng Nai.
- Thời gian khảo sát: tháng 01 - 02/2018.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện tại Sở Tài chính Đồng Nai.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Nội dung trách nhiệm xã hội trong khu vực công là gì?
- Thực trạng nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức Sở Tài chính
Đồng Nai như thế nào?
- Giải pháp nào để hoàn thiện nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức
Sở Tài chính Đồng Nai?
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài được thực hiện thông
qua phương pháp định tính và phương pháp định lượng giản đơn bằng thống kê mô
tả; các số liệu được xử lý bằng chương trình Microsoft Excel.
a) Phương pháp định tính
- Cách thức thu thập dữ liệu thứ cấp:
Phương pháp phân tích tư liệu, dữ liệu có sẵn để hệ thống cơ sở lý luận một
cách khái quát cụ thể nhất về thực trạng và nội dung trách nhiệm xã hội của tổ chức.
- Cách thức thu thập dữ liệu sơ cấp:
+ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia:
Tác giả dự thảo bảng câu hỏi cho phiếu khảo sát và phỏng vấn lấy ý kiến các
chuyên gia (gồm giảng viên hướng dẫn, lãnh đạo, quản lý và cán bộ quản lý nhân
4
sự) để thống nhất, chỉnh sửa, hoàn thiện bảng câu hỏi cho phù hợp với ý kiến
chuyên gia và tình hình thực tế tại đơn vị đồng thời thảo luận phương pháp khảo sát
để tránh ảnh hưởng đến công việc của công chức.
Bằng phương pháp này, sau khi có kết quả khảo sát, tác giả tiếp tục tiến hành
thảo luận về nguyên nhân của một số kết quả phân tích nhằm có cái nhìn khách
văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng nhận thức về trách nhiệm xã hội của công chức tại Sở
Tài chính Đồng Nai.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện nhận thức về trách nhiệm xã hội của công
chức Sở Tài chính Đồng Nai.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social
Responsibility – CSR)
Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social
Responsibility – CSR) bắt đầu xuất hiện từ những năm 1920 tại Hoa Kỳ, tuy nhiên,
do cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1939) và Chiến tranh thế giới thứ
hai (1939 – 1945), vấn đề CSR đã không còn được chú ý. Cho đến những năm
1950, khái niệm CSR được đề cập trở lại trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của
Doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) của học giả Howard
Bowen. Trong cuốn sách này, Bowen (1953) định nghĩa “CSR là nghĩa vụ của
doanh nhân để theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định, hoặc thực hiện
chuỗi các hoạt động được xã hội mong đợi cả về mục tiêu và giá trị nhằm mục đích
tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến quyền và lợi
ích của người khác”. Votaw (1972) có nhận định rằng trách nhiệm trong CSR có
nghĩa là tổ chức có trách nhiệm tại địa phương, nơi đang hoạt động, tuy nhiên thuật
ngữ này không hoàn toàn giống nhau cho các tổ chức khác nhau.
Mô hình cổ điển của Milton Friedman (1970) cho rằng: “Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp là tăng tối đa lợi nhuận của họ trong phạm vi của luật pháp và các
Đạo đức kinh doanh hình thành từ thực tiễn kinh doanh của mỗi tổ chức
trong các thời kỳ lịch sử. Các chuẩn mực đạo đức kinh doanh cũng thay đổi và phát
triển theo từng hình thái kinh tế, nhân khẩu học, đặc điểm địa phương. Đạo đức
kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để
cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực của một tổ chức
trong những trường hợp nhất định. Cách thức đánh giá đạo đức kinh doanh của một
tổ chức được cụ thể hơn thông qua định nghĩa của Ferrel và Fraedrich (2008): “Đạo
đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi
trong thế giới kinh doanh. Việc đánh giá một hành vi cụ thể là đúng hay sai, phù
hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách
hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng”.
Nếu trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà tổ chức phải thực hiện nhằm đem đến
cho xã hội những tác động tích cực và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với
xã hội thì đạo đức kinh doanh đưa ra các chuẩn mực, quy định hướng dẫn hành vi
trong hoạt động của tổ chức. Đạo đức kinh doanh đưa ra những chuẩn mực rõ ràng
9
để đánh giá phẩm chất của một tổ chức mà chính những chuẩn mực này dẫn dắt đến
việc đưa ra quyết định cuối cùng của tổ chức trong khi trách nhiệm xã hội được xem
như một cam kết của tổ chức đối vối xã hội. Khi hướng mục tiêu quan tâm đến trách
nhiệm xã hội, tổ chức sẽ quan tâm đến hậu quả tác động đến xã hội trước những
quyết định của tổ chức.
Tuy khác nhau nhưng trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Đạo đức trở thành sức mạnh trong trách nhiệm xã hội và là
một khía cạnh trong mô hình kim tự tháo về trách nhiệm xã hội (Carroll, 1979).
1.1.3 Phát triển bền vững – Mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội
Năm 1972, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường sống ở Stockholm, lần
đầu tiên thuật ngữ phát triển bền vững được sử dụng. Tuy nhiên mãi cho đến năm
như là cha đẻ của lý thuyết này.
Lý thuyết các bên liên quan được đề cập tại cuốn sách “Quản trị chiến lược:
Phương pháp tiếp cận các bên liên quan” của Freeman (1984) như một đề xuất cho
chiến lược quản lý các tổ chức vào cuối thế kỷ XX. Theo thời gian, lý thuyết này đã
đã đạt được tầm quan trọng, và ngày càng có nhiều tác giả nhắc đến như Clarkson
(1994, 1995), Donaldson và Preston (1995), Mitchell et al (1997), Rowley (1997)
và Frooman (1999). Từ quan điểm chiến lược ban đầu, lý thuyết phát triển và được
xem như một phương tiện để quản lý, một ý tưởng về cách hoạt động của tổ chức.
Freeman (1984) lập luận rằng các tổ chức kinh doanh nên quan tâm đến lợi ích của
các bên liên quan khi đưa ra quyết định chiến lược, tổ chức là một phần của xã hội,
tổ chức có nhiệm vụ và trách nhiệm nhất định với các bên liên quan, hoặc các bên
bị ảnh hưởng bởi hoạt động của tổ chức. Hoạt động của tổ chức thực sự thành công
khi nó tạo ra giá trị cho khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, cộng đồng và các nhà
tài chính, cổ đông, ngân hàng và những người khác. Công việc của người quản lý
bây giờ là tìm hướng đi chung với sự quan tâm của khách hàng, nhà cung cấp, cộng
đồng, nhân viên, các nhà tài chính. Tổ chức nên đối xử với các bên liên quan một
cách công bằng và điều này giúp tăng hiệu quả hoạt động của công ty trên thị
trường và do đó đảm bảo được tương lai cho các bên liên quan. Trong những năm
gần đây lý thuyết các bên liên quan đã được dần dần chấp nhận là một chủ đề thiết
yếu cùng với khái niệm về CSR và là "sợi chỉ đỏ" hàng đầu trong nghiên cứu về
kinh doanh – đạo đức (Fassin, 2009).
11
Trong đề tài này, tác giả sử dụng lý thuyết các bên liên quan làm nền tảng
cho khung phân tích nghiên cứu.
1.1.5 Một số mô hình nghiên cứu về CSR
1.1.5.1 Mô hình kim tự tháp của Carroll (1991)
Mô hình kim tự tháp của A. Carroll, 1991 về CSR là mô hình này được sử
b) Trách nhiệm pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của tổ chức là việc chấp hành
nghiêm chỉnh các quy định pháp lý do nhà nước ban hành, quy định đối với các bên
liên quan. Với người lao động, trách nhiệm pháp lý thể hiện qua việc cung cấp môi
trường lao động an toàn theo quy định, đảm bảo bình đẳng về cơ hội phát triển, chế
độ phúc lợi xã hội, lương thưởng, không tham nhũng…
c) Trách nhiệm đạo đức
Trách nhiệm đạo đức của một tổ chức thường được biểu hiện qua các giá trị
đạo đức, các nguyên tắc được tổ chức hoạch định trong sứ mệnh và chiến lược, bao
gồm những động thái mà xã hội mong đợi ở tổ chức, tuy nhiên, những hành vi này
không được thể chế hóa thành quy định pháp luật.
d) Trách nhiệm từ thiện
Trách nhiệm từ thiện là thang bậc trách nhiệm cao nhất trong mô hình kim tự
tháp Carroll và trách nhiệm này phụ thuộc vào sự tự nguyện của cá nhân, tổ chức
Nếu tổ chức thực hiện tốt trách nhiệm từ thiện tức là họ đã đảm bảo việc hoàn thành
ba trách nhiệm còn lại. Mục đích của thang bậc trách nhiệm này là thể hiện sự quan
tâm của tổ chức với cộng đồng, xã hội. Các chương trình cải thiện môi trường như
trồng cây, thu gom rác, các hoạt động từ thiện…là các ví dụ về việc thực hiện trách
nhiệm này. Thông qua các các hoạt động vì cộng đồng tổ chức vô hình chung tạo ra
cơ hội để nâng cao sự gắn kết giữa nhân viên với tổ chức.
1.1.5.2 Mô hình ba miền của Schwartz & Carroll (2003)
Dựa trên kim tự tháp Carroll, năm 2003, Carroll tiếp tục đưa ra một định
nghĩa khác và phát triển thành mô hình ba miền của CSR gồm Kinh tế, Pháp lý,
Đạo đức (xem hình 1.2).
Mô hình này không giống như mô hình kim tự tháp, cách tiếp cận ba miền
không còn sắp xếp ưu tiên theo thứ bậc của CSR và Schwartz và Carroll (2003) đã
13
- Miền Pháp lý/ Đạo đức: Các hoạt động không liên quan đến những cân
nhắc về kinh tế nhưng đều có động cơ về pháp lý và đạo đức
1.1.5.3 Mô hình vòng tròn đồng tâm Ủy ban phát triển kinh tế (1971)
Mô hình vòng tròn đồng tâm của CSR đã được thông qua từ tuyên bố của Ủy
ban Phát triển kinh tế (1971) (xem Hình 1.3).
KINH TẾ
PHÁP LÝ
ĐẠO ĐỨC
TỪ THIỆN/
NHÂN VĂN
Hình 1.3 Mô hình vòng tròn đồng tâm Ủy ban phát triển kinh tế (1971)
Nguồn: Ủy ban phát triển kinh tế (1971)
15
Mô hình vòng tròn đồng tâm tương tự như các mô hình kim tự tháp CSR của
Carroll (1991) và mô hình ba miền của Schwartz & Carroll (2003). Sự tương đồng
với mô hình kim tự tháp CSR của Carroll (1991) ở chỗ nó coi vai trò kinh tế là trách
nhiệm xã hội cốt lõi của tổ chức. Và những điểm tương đồng với mô hình ba miền
của Schwartz & Carroll (2003) là nó nhấn mạnh mối tương quan giữa các trách
nhiệm xã hội khác nhau. Các trách nhiệm xã hội hòa nhập với nhau và đều có một
yếu tố trung tâm cốt lõi đó là lợi ích kinh tế.
Vòng tròn đồng tâm được giải thích như sau: vòng tròn ngoài di chuyển vào
vòng tròn trong phản ánh mọi hoạt động kinh tế của tổ chức luôn chịu sự kiểm soát
mà xã hội áp đặt để đảm bảo tính thân thiện xã hội. Mặt khác, di chuyển từ bên
trong ra bên ngoài đại diện cho sự tồn tại của các khía cạnh trách nhiệm xã hội mà
tổ chức phải đảm bảo thực hiện được.
1.1.5.4 Mô hình về năm khía cạnh CSR của Alexander Dahlsrud (2008)