Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Viễn thông Hà Nội - Pdf 51

Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
Qua nghiên cứu, chúng ta đã nhận thấy trong quản lý kinh tế, quản lý con
người là vấn đề cốt lõi nhất, cũng đồng thời là vấn đề tinh tế, phức tạp nhất. Khai
thác được những tiềm năng của nguồn lực con người chính là chìa khoá để mỗi
doanh nghiệp đạt được thành công trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc phân
chia
và kết hợp các lợi ích phải được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng. Các lợi ích đó bao
gồm:
lợi ích cá nhân người lao động, lợi ích của ông chủ (hay của doanh nghiệp) và lợi
ích
xã hội. Lợi ích vật chất của cá nhân người lao động được thể hiện ở thu nhập của
người đó.
Thu nhập và tiền lương đối với người lao động là hai phạm trù kinh tế khác
nhau. Tiền lương dùng để chỉ số tiền nhà nước trả cho người lao động trong khu
vực
nhà nước thông qua các thang, bảng lương và phụ cấp. Thu nhập bao gồm ngoài
khoản tiền lương, còn tiền thưởng, tiền chia lợi nhuận và các khoản khác mà các
doanh nghiệp phân phối cho người lao động theo sản lượng hay chất lượng lao
động.
Trong đó, tiền lương là phần thu nhập chính, chiếm tỷ trọng lớn, nó có tác dụng lớn
đến việc phát triển kinh tế, ổn định và cải thiện đời sống của người lao động. Vì
vậy,
đối với mọi doanh nghiệp, vấn đề tiền lương trong những năm tới có vị trí quan
trọng
đặc biệt.
Để tạo ra động lực to lớn, giải phóng được sức sản xuất, trước hết cần có quỹ
tiền lương đủ lớn để chi trả cho người lao động. Tuy nhiên, việc quản lý, phân phối
quỹ tiền lương đó theo cách thức nào sao cho công bằng, hợp lý, đúng luật pháp,
kích

lương trong các doanh nghiệp.
Chương II. Thực trạng hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại
Công ty Viễn thông Hà Nội.
Chương III. Phương hướng hoàn thiện hạch toán tiền lươ__________ng với việc nâng
cao
hiệu quả sử dụng người lao động.
Vì lĩnh vực nghiên cứu này còn mới mẻ đối với bản thân tôi cho nên bản báo
cáo này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong
nhận được sự chỉ bảo, hướng
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 3
dẫn của các thầy cô trong Khoa Kế toán.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, Phòng Kế toán Tài chính và Phòng Tổ
chức Hành chính của Công ty Viễn thông Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn
thành Báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình tại Công ty. Tôi cũng xin bày tỏ lòng
biết
ơn sâu sắc của mình đối với sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của Cô giáo Phó Giáo
sư-Tiến sỹ Phạm Thị Gái đã giúp tôi hoàn thành Chuyên đề tốt nghiệp này.
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG:
1. Nguồn gốc, bản chất của tiền lương:
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao
các yếu tố cơ bản (lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động). Trong đó lao
động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng các tư liệu
lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Để bảo đảm tiến hành liên tục quá trình tái
sản xuất trước hết cần phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động
mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động. Tiền lương
(tiền

kiểm tra chất lượng sản phẩm hoặc sản xuất những sản phẩm yêu cầu độ chính xác
cao.
Để khắc phục nhược điểm của phương pháp trả lương theo thời gian, người ta
áp dụng trả lương theo thời gian có thưởng.
Trong những năm vừa qua, hình thức trả lương theo thời gian có xu hướng thu
hẹp dần. Nhưng xét về lâu dài, khi trình độ khoa học phát triển cao, trình độ cơ giới
hoá, tự động hoá cao thì hình thức lương theo thời gian lại được mở rộng ở đại bộ
phận các khâu sản xuất, vì lúc đó các công việc chủ yếu là do máy móc thực hiện.
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 5
b. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Lương trả theo sản phẩm là chế độ tiền lương mà thu nhập của mỗi người tuỳ
thuộc vào hai yếu tố: Số lượng sản phẩm làm ra trong tháng và đơn giá tiền công
cho
một sản phẩm.
Số lượng sản phẩm làm ra do thống kê ghi chép. Đơn giá tiền công phụ thuộc
vào hai yếu tố: Cấp bậc công việc và định mức thời gian hoàn thành công việc đó.
Có thể nói rằng hiệu quả của hình thức trả lương theo sản phẩm cao hay thấp
phụ thuộc rất nhiều vào công tác định mức lao động có chính xác hay không. Định
mức vừa là cơ sở để trả lương sản phẩm, vừa là công cụ để quản lý.
Trong giai đoạn hiện nay thì hình thức tiền lương sản phẩm đang là hình thức
tiền lương chủ yếu đưọc áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp. Để đảm bảo hình
thức tiền lương này có hiệu quả cần 4 điều kiện sau:
- Có hệ thống định mức chính xác.
- Phải thường xuyên củng cố, hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất để đảm bảo
dây chuyền sản xuất luôn luôn cân đối.
- Phải tổ chức tốt công tác phục vụ cho sản xuất như: việc cung cấp nguyên
liệu, bán thành phẩm, tổ chức sửa chữa thiết bị kịp thời khi hư hỏng và tổ chức
nghiệm thu sản phẩm kịp thời.
- Hoàn thiện công tác thống kê kế toán, đặc biệt là công tác thống kê theo dõi

Bước 1: Xác định đơn giá gián tiếp (ĐGGT)
Sản lượng định mức bình quân của công nhân trực tiếp trong tháng
ĐGGT =
Lương cấp bậc tháng của gián tiếp
Bước 2: Tính lương sản phẩm gián tiếp (L)
Sản phẩm thực tế của Đơn giá
L = công nhân sản xuất x gián tiếp
* Lương theo sản phẩm luỹ tiến
Là một hình thức tiền lương sản phẩm nhưng dùng nhiều đơn giá khác nhau
để trả cho công nhân tăng sản lượng ở mức độ khác nhau, theo nguyên tắc: Những
Trườ__________ng Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 7
sản phẩm trong định mức thì trả theo đơn giá chung thống nhất, còn những sản
phẩm
vượt định mức thì trả theo đơn giá luỹ tiến (Đơn giá này lớn hơn đơn giá chung).
Chế độ lương này có tác dụng kích thích sản xuất mạnh mẽ, nhưng nó vi phạm
nguyên tắc: Sẽ làm cho tốc độ tăng tiền lương tăng nhanh hơn tốc độ tăng năng suất
lao động. Nên phạm vi áp dụng chỉ với những khâu trọng yếu của dây chuyền, hoặc
vào thời điểm nhu cầu của thị trường cần số lượng lớn loại sản phẩm đó, hoặc vào
thời điểm có nguy cơ không hoàn thành hợp đồng kinh tế, bị phạt những khoản tiền
lớn. Sau khi đã khắc phục được các hiện tượng trên phải trở lại ngay hình thức
lương
sản phẩm thông thường.
Song song với lương sản phẩm lũy tiến ta có lương sản phẩm lũy lùi. Áp dụng
với trường hợp nguy cơ thị trường bị thu hẹp, không có khả năng tiêu thụ sản phẩm
sản xuất ra. Áp dụng lương sản phẩm lũy lùi là để hạn chế sản xuất và kìm hãm nó.
c. Lương khoán
Tiền lương khoán là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng
và chất lượnng công việc mà họ hoàn thành.
Để áp dụng lương khoán cần chú ý hai vấn đề sau: tăng cường công tác kiểm

Dư Nợ(nếu có): Số trả thừa cho công nhân viên chức.
Dư Có:Tiền lương, tiền công và các khoản khác còn phải trả công nhân viên chức
c. Trình tự và phương pháp hạch toán:
* Trình tự:
Để thanh toán tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người
lao động, hàng tháng kế toán doanh nghiệp phải lập “Bảng thanh toán tiền lương”
cho từng tổ, đội, phân xưởng sản xuất và các phòng ban căn cứ vào kết quả để tính
lương cho từng người. Trên bảng tính lương cần ghi rõ từng khoản tiền lương
(lương sản phẩm, lương thời gian), các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản khấu trừ
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 9
và số tiền người lao động còn được lĩnh. Khoản thanh toán về trợ cấp bảo hiểm xã
hội cũng được lập tương tự. Sau khi kế toán trưởng kiểm tra, xác nhận và ký, giám
đốc duyệt y, ”Bảng thanh toán tiền lương và bảo hiểm xã hội” sẽ được làm căn cứ
để
thanh toán lương và bảo hiểm xã hội cho người lao động. Thông thường, tại các
doanh nghiệp, việc thanh toán lương và các khoản khác cho người lao động được
chia làm 2 kỳ: Kỳ 1 tạm ứng còn kỳ 2 sẽ nhận số còn lại sau khi đã trừ các khoản
khấu trừ và thu nhập. Các khoản thanh toán lương, thanh toán bảo hiểm xã hội,
bảng kê danh sách những người chưa lĩnh lương cùng với các chứng từ và báo cáo
thu chi tiền mặt phải chuyển kịp thời cho phòng kế toán để kiểm tra, ghi sổ.
* Phương pháp hạch toán:
- Hàng tháng tính ra tổng số tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền
lương phải trả cho công nhân viên(bao gồm tiền lưong, tiền công, phụ cấp khu vực,
chứcvụ, đắt đỏ, tiền ăn giữa ca, tiền thưởng trong sản xuất…) và phân bổ cho các
đối tượng sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): Phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo
sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Nợ TK 627 (6271-Chi tiết phân xưởng): Phải trả nhân viên quản lý.phân xưởng.
Nợ TK 641 (6411): Phải trả cho nhân viên bán hàng, tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch

người sử dụng lao động trả cho. Tuy nhiên, ngoài tiền lương trả cho thời gian làm
việc còn có những quyền lợi và trách nhiệm khác thu hút sự quan tâm của người lao
động: đó là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn mà thường được gọi
chung là các khoản trích theo lương.
TK 3383, 3384, 333, 138, 141 TK 334 TK 622, 627,641, 642
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 11
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng đều phải theo dõi việc hình thành các quỹ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và việc hạch toán sử dụng các
quỹ đó.
Quỹ bảo hiểm xã hội dùng để trợ cấp cho người lao động có thời gian đóng
góp quỹ trong các trường hợp họ mất khả năng lao động.
Quỹ bảo hiểm y tế dùng để đài thọ cho những người lao động có thời gian
đóng góp quỹ trong các trường hợp khám chữa bệnh.
Quỹ kinh phí công đoàn dùng để tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp.
Các quỹ trên được trích lập theo tỷ lệ quy định và tính vào chi phí sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và có một tỷ lệ phần trăm đóng góp của người lao
động.
2. Sự hình thành và sử dụng qũy BHXH, BHYT, KPCĐ:
Qũy BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số
qũy tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (chức vụ, khu vực, đắt đỏ, thâm niên)
của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện hành, tỷ lệ
trích BHXH là 20% trong đó 15% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp, được
vào lương tháng.Qũy BHXH được chi tiêu cho các trường hợp người lao động ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Qũy này do cơ
quan bảo hiểm xã hội quản lý..
Qũy BHYT được sử dụng đẻ thanh toán các khoản tiền khám, chữa bệnh,
viện phí, thuốc thang… cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ. Qũy
này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương của
công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ trích BHYT hiện hành là

-Trích KPCĐ, BHXH, BHYT theo tỷ lệ quy định.
- Tổng số doanh thu nhận trước phát sinh trong kỳ.
- Các khoản đã trả, đã nộp hay thu hộ.
- Giá trị tài sản thừa chờ xử lý.
- Số đã trả, đã nộp lớn hơn số phải trả, phải nộp hoàn lại.
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 13
Dư Nợ(nếu có): Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi chưa được thanh toán.
Dư Có: Số tiền còn phải trả, phải nộp và giá trị tài sản thừa chờ xử lý.
Việc hạch toán các khoản trích theo lương được thể hiện bằng sơ đồ đối ứng
tài khoán sau:
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ
Khấu trừ các khoản vào TL của CNV Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính
vào
chí phí SXKD theo quy định
Chi tiêu kinh phí CĐ tại doanh nghiệp
TK 334
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ trừ
vào TL của người lao động
TK 334
Chi trả BHXH cho BHXH phải trả
người lao động cho CNV
BHXH, KPCĐ vượt chi được cấp
Các khoản khấu trừ vào thu nhập của công nhân viên: Theo quy định, sau khiđóng
BHXH, BHYT, KPCĐ và thuế thu nhập cá nhân, tổng số các khoản khấu trừ không
đượt vượt quá 30% số còn lại.
TK 111, 112 TK 3382 ÷ 3384 TK 622, 627,641, 642
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 14
III. HẠCH TOÁN CÁC KHOẢN THU NHẬP KHÁC CỦA NGƯỜI LAO

toán
lao động và tiền lương bao gồm các loại sau đây:
a. Bảng chấm công
Bảng chấm công dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc,
ngừng việc, nghỉ BHXH... của người lao động để có căn cứ tính trả lương, BHXH
trả
thay lương, tiền thưởng... cho từng người và quản lý lao động trong doanh nghiệp.
Cuối tháng bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan như phiếu nghỉ hưởng
BHXH... được chuyển về bộ phận kế toán để kiểm tra, đối chiếu, quy ra công để
tính
lương và bảo hiểm xã hội. Kế toán tiền lương căn cứ vào các ký hiệu chấm công
của
từng người tính ra số ngày công theo từng loại tương ứng để ghi vào cột 32, 33, 34,
35, 36. Bảng chấm công được lưu tại Phòng kế toán cùng các chứng từ liên quan.
b. Bảng thanh toán tiền lương
Bảng thanh toán tiền lương là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương, phụ
cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động làm
việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, đồng thời là căn cứ để thống kê về lao
động tiền lương.
Bảng thanh toán tiền lương được lập hàng tháng theo từng bộ phận (phòng,
ban, tổ nhóm... ) tương ứng với bảng chấm công.
Cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương là các chứng từ về lao động như :
bảng chấm công, bảng tính phụ cấp, trợ cấp, phiếu xác nhận thời gian lao động hoặc
công việc hoàn thành.
Căn cứ vào chứng từ liên quan, bộ phận kế toán lập bảng thanh toán lương,
chuyển cho kế toán trưởng duyệt để làm căn cứ lập phiếu chi và phát lương. Bảng
này được lưu tại phòng (ban) kế toán.
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 16
c. Phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội

g. Phiếu báo làm thêm giờ
Phiếu báo làm thêm giờ là chứng từ xác nhận số giờ công, đơn giá và số tiền
làm thêm được hưởng của từng công việc và là cơ sở để tính trả lương cho người
lao
động.
Phiếu này do người báo làm thêm giờ lập và chuyển cho người có trách nhiệm
kiểm tra và ký duyệt chấp nhận số giờ làm thêm và đồng ý thanh toán. Sau khi có
đầy
đủ chữ ký, phiếu báo làm thêm giờ được chuyển đến kế toán lao động tiền lương để
làm cơ sở tính lương tháng.
h. Hợp đồng giao khoán:
Hợp đồng giao khoán là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận
khoán về khối lượng công việc, thời gian làm v iệc,, trách nhiệm và quyền lợi của
mỗi bên khi thực hiện công việc đó đồng thời là cơ sở để thanh toán tiền công lao
động cho người nhận khoán.
i. Biên bản điều tra tai nạn lao động
Biên bản này nhằm xác định một cách chính xác các vụ tai nạn lao động xảy
ra tại đơn vị để có chế độ bảo hiểm cho người lao động một cách thoả đáng và có
các
biện pháp bảo đảm an toàn lao động, ngăn ngừa các vụ tai nạn xảy ra tại đơn vị.
2.Sổ sách dùng để hạch toán:
Để việc hạch toán tiền lương được chuẩn xác, kịp thời cung cấp thông tin cho
người quản lý, hệ thống sổ sách và quy trình ghi chép đòi hỏi phải được tổ chức
khoa
học, hợp lý, vừa đảm bảo chính xác, vừa giảm bớt lao động cho người làm công tác
kế toán.
Theo chế độ kế toán hiện hành, việc tổ chức hệ thống sổ sách do doanh nghiệp
tự xây dựng dựa trên 4 hình thức sổ do Bộ Tài chính quy định, đồng thời căn cứ vào
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 18

Bảng cân đối tài khoản
Sổ chi tiết TK 334
Bảng tổng hợp chi tiết
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 19
* Hình thức nhật ký sổ cái:
Đây là hình thức ghi chép kết hợp việc ghi chép theo thời gian và theo hệ
thống vào trong một quyển sổ gọi là nhật ký sổ cái. Trên sổ này gồm phần nhật ký
phản ánh trình tự phát sinh các nghiệp vụ qua phần chứng từ và phần sổ cái phản
ánh
theo cả 2 bên Nợ, Có của tài khoản. Hình thức này chi thường áp dụng ở các đơn vị
nhỏ, ít nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Sơ đồ hình thức ghi sổ nhật ký sổ cái:
* Hình thức chứng từ ghi sổ:
Hình thức này rất đơn giản, dễ áp dụng. Theo hình thức này thì việc ghi sổ kế
toán tổng hợp được chi thành 2 quá trình riêng biệt: ghi theo trình tự thời gian, ghi
theo hệ thống được ghi ở sổ cái. Việc ghi chép được tiến hành theo trình tự như sau:
Hàng ngày, khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế, căn cứ vào các chứng từ gốc, kế
toán lập bảng tổng hợp chứng từ gốc của các nghiệp vụ về tiền lương, lập chứng từ
ghi sổ, sau đó chứng từ ghi sổ này được chuyển cho kế toán trưởng kiểm tra, ký
Chứng từ gốc:
- Bảng thanh toán tiền lương
- Bảng thanh toán BHXH
- Bảng thanh toán tiền thưởng
- Chứng từ thanh toán
Nhật ký sổ cái
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 20
duyệt rồi chuyển cho kế toán tổng hợp tiến hành ghi sổ cái tài khoản 334. Khái quát
lại ta có sơ đồ như sau:

Sơ đồ trình tự ghi sổ hạch toán tiền lương theo hình thức nhật ký chứng từ
Chứng từ gốc:
- Bảng thanh toán tiền lương
- Bảng thanh toán BHXH
- Bảng thanh toán tiền thưởng
- Chứng từ thanh toán
Bảng phân bổ số 1
Nhật ký chứng từ số 7
Nhật ký chứng từ số 10
Sổ cái TK 334
Bảng kê số 4
Bảng kê số 5
Chứng từ
thanh toán
Nhật ký chứng từ số
1, số 2
Ghi nợ TK 334 (338)
Ghi có TK 111(112)
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 23
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN
TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY VIỄN THÔNG HÀ NỘI
I. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÔNG TÁC KẾ TOÁN:
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Ngày 01/07/1987 tiền thân của Công ty Viễn thông Hà nội là Công ty Điện báo
Hà nội được thành lập. Đây là một đơn vị kinh tế trực thuộc Bưu điện Hà nội được
hạch toán trong nội bộ xí nghiệp. Trong thời kỳ đó, Công ty Điện báo Hà nội có
nhiệm vụ hoạt động trong một số lĩnh vực hạn chế như: quản lý hệ thống thiết bị

gần gấp đôi doanh thu của công ty tiền thân là Công ty Điện báo Hà nội (39,6 tỷ
đồng) năm 1996 mặc dù sản lượng thuê bao của hai dịch vụ nhắn tin có giảm song
do
sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ điện thoại di động Vinaphone đã thu hút một
phần
khách hàng. Dịch vụ Vinaphone trở thành sản phẩm chủ đạo của công ty.
Đến năm 1998, công ty lại có sự biến động mới về tổ chức sản xuất khi phải
bàn giao việc quản lý hệ thống mạng điện thoại Vinaphone và Nhắn tin Việt nam
cho
công ty Dịch vụ viễn thông (GPC), công ty chỉ còn đảm nhiệm việc phát triển thuê
bao di động và nhắn tin đồng thời tiếp nhận hai mạng dịch vụ là điện thoại vô tuyến
cố định và mạng viễn thông nông thôn. Do đó, tình hình sản xuất kinh doanh gặp
một
số trở ngại. Tổng doanh thu năm 1998 là 136,6 tỷ đồng( chỉ đạt 96,2% kế hoạch
giao).
Tuy nhiên, được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Bưu điện thành phố Hà nội,
sự hỗ trợ của các đơn vị bạn cùng sự quyết tâm phấn đấu của toàn bộ CBCNV trong
công ty, trong những năm 1999, 2000 Công ty Viễn thông Hà nội đều hoàn thành
vượt mức kế hoạch. Năm 1999, đánh dấu bởi sự ra đời của dịch vụ điện thoại di
động
trả tiền trước Vinacard, công ty đạt doanh thu 186,3 tỷ đồng, riêng năm 2000 công
ty
đạt mức doanh thu 258 tỷ đồng, vượt mức 23% kế hoạch năm, mặc dù tháng 9/2000
công ty đã bàn giao toàn bộ mạng điện thoại vô tuyến cố định cho Bưu điện thành
phố Hồ Chí Minh. Năm 2000, Công ty được Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông
Việt nam tặng thưởng cờ đơn vị thi đua xuất sắc.
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Về bản chất ngành viễn thông là một ngành kinh doanh dịch vụ với đối tượng
khách hàng là các tổ chức kinh tế-xã hội trong nước, quốc tế và tư nhân. Tại Việt
nam, Bưu diện được coi là một ngành cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội

Trung tâm
nhắn tin HN
ABC
Trung tâm
KD - TT
Trung tâm
Telex
Đài
Vô tuyến
Trung tâm
thông tin 108-
116
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 26
- Tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ và nâng bậc lương hàng
năm cho người lao động.
- Thực hiện công tác hành chính quản trị .
_ Phòng kế hoạch - kinh doanh: chịu trách nhiệm:
- Lập kế hoạch sản xuất , sửa chữa, bảo dưỡng, lập và thực hiện các hợp đồng
kinh tế liên quan đến việc mua sắm thiết bị, vật tư, sửa chữa lớn, sửa chữa
thường xuyên, xây dựng cơ bản... theo quy định hiện hành.
- Theo dõi tình hình thực hiện các chỉ tiêu sản lượng , doanh thu của tất cả các
dịch vụ viễn thông mà công ty đảm nhận; quản lý chặt chẽ các hồ sơ, tài liệu
các dịch vụ để góp phần thu đủ cước phí,tổ chức quản lý tốt vật tư, thiết bị,
công cụ lao động trong toàn công ty; cung ứng, bảo quản, cấp phát đầy đủ vật
tư, thiết bị đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh.
- Điều tra khảo sát thị trường thiết bị viễn thông, có kế hoạch kinh doanh thiết
bị có hiệu quả.
- Lập các định mức nhân công, vật tư, thiết bị, máy móc và các đơn giá tại các
thời điểm khác nhau, trên cơ sở đó dự toán chi phí sản xuất, xây lắp, vật liệu

viễn thông như điện thoại cố định, điện thoại di động, máy nhắn tin, máy
FAX, các linh kiện phục vụ cho các thiết bị viễn thông cầm tay... thực hiện
cung cấp các dịch vụ trực tiếp, tiến hành lắp đặt, hòa mạng thuê bao cho các
đơn vị, cá nhân, tiến hành quảng cáo, tiếp thị khuyếch trương sản phẩm của
công ty, thực hiện các hoạt động hỗ trợ sau bán hàng, nâng cao uy tín của công
ty.
_ Trung tâm nhắn tin Hà nội ABC: có nhiệm vụ quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa
máy móc, thiết bị thuộc mạng nhắn tin, khai thác hệ thống nhắn tin phục vụ
thuê bao khu vực Hà nội, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách
hàng.
_ Đài vô tuyến: được giao nhiệm vụ quản lý, bảo dưỡng định kỳ, xử lý trở ngại
trên hệ thống truyền dẫn vi ba số và mạng Viễn thông nông thôn thực hiện
cung cấp dịch vụ viễn thông đến các vùng sâu vùng xa thuộc các huyện ngoại
thành Hà nội nhằm phát triển mạng viễn thông nông thôn, đáp ứng nhu cầu
của thị trường và thực hiện chiến lược phát triển của toàn ngành.
Các đơn vị sản xuất trên được giao nhiệm vụ hàng năm, được cấp phát kinh
phí hoạt động đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, có chế độ quản lý, khen thưởng, xử
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 28
phạt rõ ràng, nghiêm minh. Hoạt động viễn thông đòi hỏi công việc phải được
chuyên môn hóa rất sâu, mô hình tổ chức phải thể hiện được tính chất: sản xuất
chuyên sâu, quản lý tổng thể. Nhìn chung cơ cấu tổ chức của Công ty Viễn thông

nội được bố trí chặt chẽ, gọn nhẹ nhằm đáp ứng, thích nghi với môi trường kinh
doanh đầy biến động.
3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán:
Bộ máy kế toán của Công ty Viễn thông Hà Nội hình thành và phát triển cùng
với sự ra đời và phát triển của Công ty. Bộ máy này được tổ chức gọn nhẹ, phù hợp
với cơ cấu tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Do đặc điểm là một đơn vị trực thuộc Bưu điện Hà Nội, và ngành Bưu chính

toán của Công ty còn phải đảm nhiệm cả việc tính giá thành, hoạch toán lỗ lãi.
Như vậy, việc tổ chức hạch toán kế toán, ghi chép kế toán ở Công ty Viễn thông
Hà Nội là ở đơn vị cấp III. Hiện nay, ở các đơn vị sản xuất của công ty đều có các
kế
toán viên chủ yếu làm công tác thống kê, còn toàn bộ công tác kế toán tài chính
được
thực hiện trên Phòng Kế toán Tài chính.
Phòng Kế toán Tài chính của Công ty có chức năng giúp Giám đốc chỉ đạo và
thực hiện toàn bộ công tác kế toán tài chính theo quy định của Nhà nước, tổ chức
thu
thập và xử lý thông tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý. Qua đó, kiểm tra quá
trình thực hiện sản xuất kinh doanh của Công ty, giám sát việc sử dụng nguồn vốn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán
kế
toán, nâng cao hiệu quả sản xuất và thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo theo quy
định. Sau đây là sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty Viễn thông Hà Nội.
Kế toán trưởng
Thủ
quỹ
Kế toán của các
đơn vị trực thuộc Cty
Kế toán
thanh
toán
Kế toán
hàng
hoá
Kế toán
vật tư
Kế toán

II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG, PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG
TY:
1. Các loại lao động trong công ty
Lao động trong Công ty Viễn thông Hà nội có tính chuyên môn hóa rất cao.
Mỗi loại lao động đảm nhiệm một lĩnh vực dịch vụ riêng biệt, ngoài bộ máy quản
lý, các phòng ban chức năng, Công ty Viễn thông Hà nội có các loại lao động sau:
- Các chuyên viên, kỹ sư, kỹ thuật viên phụ trách các vấn đề về kỹ thuật của hệ
thống viễn thông.
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 31
- Công nhân tổng đài, công nhân máy tính, công nhân lái xe, công nhân khai thác
nhắn tin, công nhân 108, công nhân 116,: có nhiệm vụ trực tổng đài và thực hiện
các
dịch vụ phục vụ khách hàng .
- Giao dịch viên: có nhiệm vụ bán các thiết bị viễn thông, hòa mạng điện thoại di
động, vinacard, thẻ nạp tiền, cardphone, thực hiện nhiệm vụ chăm sóc khách hàng,
cấp lại SIM card…
- Nhân viên tiếp thị.
- Nhân viên văn thư đánh máy.
- Nhân viên kế toán, sơ cấp, thủ qũy.
- Nhân viên lao công tạo vụ….
2. Các hình thức trả lương hiện nay ở công ty:
Như đã trình bày ở phần trước, Công ty Viễn thông Hà Nội là đơn vị trực
thuộc Bưu điện TP Hà Nội và tuân thủ quy định hạch toán toàn ngành của ngành
Bưu
chính viễn thông. Quỹ tiền lương của Công ty Viễn thông Hà Nội được xác định
căn
cứ vào các yếu tố: mức độ thực hiện doanh thu trong tháng, đơn giá tiền lương, có
xét
đến chất lượng phục vụ của các hệ thống thông tin mà công ty quản lý. Đơn giá tiền

2000 210 7,125 33,93 1.250.000
Biểu 2: Quỹ lương thực hiện trong các năm : 199
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 33
8, 1999 và 2000
Năm
Doanh thu thực
hiện
(tỷ đồng)
Quỹ lương thực
hiện
(tỷ đồng)
Đơn giá tiền
lương thực hiện
(/1000đ doanh
thu)
Mức lương TB
thực hiện
(đồng)
1998 136,5 5,957 43,61 1.060.000
1999 186,3 6,508 34,93 1.220.000
2000 258 7.453 28.88 1.307.000
Biểu 3: Tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch trong các năm: 1998, 1999 và 2000
Năm
Doanh thu thực
hiện so với kế
hoạch
(%)
Quỹ lương thực
hiện so với kế

căn cứ vào chất lượng công tác của các đơn vị phân bổ quỹ lương cho các đơn vị từ
tổng quỹ lương tháng tạm tính của công ty.
Tổng quỹ lương Lương bình Số CBCNV
thực hiện tháng = quân đầu người x được trả lương
(tạm tính) (tạm tính) trong tháng
Mức lương bình quân đầu người của mỗi tháng được tạm tính dựa trên cơ sở
mức độ hoàn thành doanh thu của tháng liền trước đó. Ví dụ: doanh thu của tháng 5
sẽ được dùng làm căn cứ để tính lương tháng 6. Cần nhấn mạnh mức lương bình
quân đầu người hàng tháng chỉ là tạm tính vì chỉ đến thời điểm cuối năm, sau khi
khoá sổ kế toán và Bưu điện Hà Nội duyệt báo cáo doanh thu thực hiện của Công ty
thì Công ty mới có số liệu quỹ lương năm chính xác (Công thức xác định quỹ lương
đã trình bày ở phần trên). Từ đó, kế toán lương mới có cơ sở tính toán quyết toán
lương năm. Nếu trong năm chưa chia hết quỹ lương thì sẽ chia bổ sung lương khoán
cho công nhân viên trong công ty.
III. HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG CHÍNH SÁCH:
Vào ngày đầu tiên của tháng, các đơn vị trong Công ty Viễn thông Hà Nội
hoàn thành bảng chấm công của tháng trước, tập hợp các chứng từ hưởng lương
BHXH và gửi tới bộ phận kế toán tiền lương để kiểm tra, đối chiếu. Trên cơ sở các
chứng từ lao động tiền lương, kế toán sẽ tính toán lương chính sách cho các đơn vị
theo các quy định và nguyên tắc như sau:
- Căn cứ vào hệ số lương cấp bậc đã được duyệt tính
Lương cấp bậc = hệ số lương cấp bậc x 210.000/số ngày công danh định * số ngày
công được hưởng lương.
Đối tượng đang trong thời gian thử việc hoặc tập sự được trả bằng 80% mức
lương nghề hoặc công việc được thoả thuận trong hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng
lao động.
- Tính các loại phụ cấp:
Trường Đại học KTQD Phạm Thị Hà - Lớp KT9B
Báo cáo thực tập tốt nghiệp 35
+ Phụ cấp chức vụ lãnh đạo: tính cho các chức vụ Giám đốc, Phó giám đốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status