Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu ở công ty TNHH Kim Khí Hà Nội. - Pdf 51

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm thực hiện nền kinh tế thị trường với biết bao nhiêu những
thăng trầm của lịch sử. Kinh tế đất nước đã có nhiều chuyển biến và đạt được
những thành tựu đáng kể. Từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển
đổi thành nền kinh tế có quan hệ sản xuất được điều chỉnh với tính chất, trình
độ và yêu cầu của nền sản xuất.
Cơ chế kinh tế mở cửa đã tạo cho các doanh nghiệp mạnh dạn và chủ
động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Song bên cạnh đó các doanh
nghiệp cũng gặp không ít những khó khăn và thử thách.
Để xác định được chỗ đứng của mình trong nền kinh tế thị trường các
doanh nghiệp không những cần phải cải tiến mẫu mã, chất lượng mà còn phải
quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ vốn ra cho tới
khi thu được vốn về.
Một trong những công cụ quản lý không thể thiếu được trong hoạt động
sản xuất kinh doanh là hạch toán kế toán. Vì nó đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong doanh nghiệp. Đối với các
hoạt động sản xuất, đặc biệt là với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành
xây dựng cơ bản, nguyên vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, việc ghi chép, phản
ánh thu, mua, nhập, xuất, dự trữ nguyên vật liệu đóng một vai trò rất lớn trong
việc cung cấp thông tin sử dụng và đề ra các biện pháp quản lý NVL một cách
đúng đắn nên công việc tổ chức công tác kế toán NVL là vấn đề cần thiết mà
các doanh nghiệp thường quan tâm.
NVL không thể thiếu được trong quá trình sản xuất. Chính vì những lý
do đó tại công ty TNHH Kim Khí Hà Nội NVL cũng đóng một vai trò quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Công ty làm cho Công ty
ngày càng có chỗ đứng vững hơn trên thị trường.
1
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN
NVL TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức kế toán NVL trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Khái niệm về nguyên vật liệu
Để tiến hành sản xuất kinh doanh một trong những điều kiện cần thiết
không thể thiếu được đó là đối tượng lao động. NVL là những đối tượng lao
động đã được thể hiện dưới dạng vật hoá.
Theo Các Mác tất cả mọi vật thiên nhiên ở xung quanh ta mà lao động
có ích có thể tác động vào đối tượng lao động, như vậy nếu đối tượng lao
động được con người tác động vào thì đối tượng lao động đó trở thành NVL.
Đồng thời Các Mác cũng chỉ ra rằng bất cứ một loại NVL nào cũng là đối
tượng lao động, nhưng không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là
NVL mà chỉ có trong điều kiện đối tượng thay đổi do lao động thì đối tượng
đó mới là NVL.
1.1.2. Đặc điểm NVL xây trong doanh nghiệp sản xuất
Sản phẩm của doanh nghiệp dựng là các công trình, hạng mục công
trình có kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài, giá trị công trình lớn. Do vậy
NVL dùng trong doanh nghiệp xây lắp rất đa dạng, phong phú về chủng loại,
phức tạp về kỹ thuật. Trong mỗi quá trình sản xuất, vật liệu không ngừng
chuyển hoá biến đổi về mặt hiện vật và giá trị. Về hiện vật, VL chỉ tham gia
vào một chu kỳ thi công công trình, bị tiêu hao toàn bộ không giữ nguyên
hình thái ban đầu. Xét về mặt giá trị thì NVL là một bộ phận của vốn kinh
doanh. Khi tham gia sản xuất, VL chuyển dịch toàn bộ giá trị của chúng vào
giá trị công trình mới tạo ra.
Trong các doanh nghiệp xây dựng, NVL thường có đặc thù cồng kềnh,
khối lượng lớn gây ra nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển, bảo quản
như: sắt thép, xi măng, cát và hao hụt tự nhiên thường rất cao.
3
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp

SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
Như vậy, kế toán NVL có vai trò quan trọng trong việc quản lý sử dụng
NVL. Song để thực hiện tốt vai trò đó trong công tác quản lý, kế toán NVL
phải đảm bảo được những yêu cầu quản lý nhất định.
1.1.5. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán NVL
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của NVL trong quá trình thi công xây lắp
là một yêu cầu không thể thiếu trong bất kỳ doanh nghiệp xây lắp nào. Vì vậy
các doanh nghiệp xây lắp cần tiết phải tổ chức việc quản lý và hạch toán một
cách chặt chẽ ở tất cả các khâu trừ khâu thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự
trữ và sử dụng NVL. Quản lý tốt các khâu trên là điều kiện cần thiết để đảm
bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Để thuận lợi trong công tác quản lý và hạch toán NVL, trước hết các
doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống danh điểm và đánh số danh điểm
của NVL phải rõ ràng, chính xác tương ứng với quy cách, chủng loại của
NVL.
- Trong khâu thu mua: Cần quản lý về số lượng, chủng loại, quy cách,
chất lượng, giá cả và chi phí thu mua cũng như kế hoạch thu mua theo đúng
tiến độ thời gian phù hợp với kế hoạch thi công, xây dựng công trình.
Trong doanh nghiệp vật liệu luôn được dự trữ ở một mức nhất định,
hợp lý nhằm đảm bảo cho quá trình thi công được liên tục. Do vậy, các doanh
nghiệp phải xác định mức tồn kho tối đa và tối thiểu cho từng danh điểm
NVL, tách việc dự trữ quá nhiều hoặc quá ít một loạt nguyên vật liệu nào đó
gây ra tình trạng ứ đọng hoặc khan hiếm vật liệu ảnh hưởng đến tốc độ chu
chuyển vốn và tiến độ thi công các công trình.
Định mức tồn kho còn là cơ sở để xác định kế hoạch thu mua NVL và
kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.
- Để bảo quản tốt NVL dự trữ, giảm thiểu hư hao, mất mát các doanh
nghiệp cần phải xác định hệ thống kho tàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn kỹ thuật,

nhằm phục vụ công tác quản lý vật liệu một cách hợp lý trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, hạ thấp chi phí kinh doanh.
1.2. Phân loại và đánh giá NVL
6
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu
NVL sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ có vai trò
công dụng khác nhau. Để có thể quản lý một cách chặt và hạch toán chi phí
từng loại từng thứ vật liệu phục vụ yêu cầu quản lý doanh nghiệp cần phải
tiến hành phân loại chúng theo những tiêu thức cố định.
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại NVL như dựa vào công dụng của
vật liệu theo nguồn nhập vật liệu hoặc phân theo quyền sở hữu.
Nhưng trong thực tế của công tác quản lý và hạch toán ở các doanh
nghiệp, đặc trưng dùng để phân loại NVL thông dụng nhất là cách phân loại
căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp được chia
thành các loại sau:
- NVL chính: là loại vật liệu không thể thiếu trong quá trình thi công
xây lắp NVLchính thường chiếm tỷ trọng lớn trong thông số nguyên vật liệu
của doanh nghiệp sau quá trình thi công, hình thái của nguyên vật liệu chính
thay đổi hoàn toàn để hình thành công trình.
- Vật liệu phụ: là các loại vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình thi
công xây lắp, được sử dụng kết hợp nguyên vật liệu chính để hoàn thiện và
nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được dùng để đảm bảo cho
công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc để phục vụ cho nhu cầu kỹ
thuật, nhu cầu quản lý như dầu mỡ bôi trơn, dầu nhờn.
- Nhiên liệu: là những loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng
cho quá trình sản xuất kinh doanh gồm: xăng, dầu, than, củi, khí ga…
- Phụ tùng thay thế: là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay
thế, sửa chữa những máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…

Nguyên tắc thận trọng: vật tư, hàng hoá được đánh giá theo giá gốc,
nhưng trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính
theo giá trị thuần có thể được thực hiện. Giá trị thuần có thể thực hiện được là
giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kì sản xuất, kinh doanh trừ đi chi phí
ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu
thụ chúng. Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách dự phòng giảm giá
8
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng tồn kho: Kế toán ghi theo giá gốc và phản ánh dự phòng giảm giá hàng
tồn kho. Do đó, trên báo cáo tài chính phản ánh chỉ tiêu này thông qua hai chỉ
tiêu:
- Trị giá vốn thực tế vật tư hàng hoá
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh
giá vật tư, hàng hoá phải đảm bảo tính nhất quán. Tức là kế toán đã chọn
phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong suốt niên
độ kế toán.
1.2.2.2. Đánh giá NVL theo thực tế
1.2.2.1.1. Xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho
Giá thực tế của vật liệu nhập kho là toàn bộ chi phí cấu thành liên quan
đến nguyên vật liệu nhập kho, được xác định theo từng nguồn nhập.
* Đối với vật liệu mua ngoài:
- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ:
= +
Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp hoặc những cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng
chịu thuế GTGT:
= +

xuất nhập khẩu thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính trị giá vốn
vật tư xuất kho.
Phương pháp bình quân gia quyền
Trị giá vốn thực tế của vật tư xuất kho được tính căn cứ vào số lượng
xuất kho và định giá bình quân gia quyền, theo công thức:
= x
=
Đơn giá bình quân thường được tính cho từng thứ vật tư.
Đơn giá bình quân có thể xác định cho cả kỳ (đơn giá bình quân cố
định)
10
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
Đơn giá bình quân có thể xác định sau mỗi lần nhập (đơn giá bình quân
liên hoàn hay đơn giá bình quân di động).
Phương pháp nhập trước, xuất trước
Phương pháp này dựa trên giả định hàng nào nhập trước sẽ được xuất
trước sẽ được xuất trước và lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập.
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập
sau cùng.
Phương pháp nhập sau xuất trước
Phương pháp này dựa trên giả định là hàng rào nhập sau được xuất
trước lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập.
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính trước những lần nhập đầu tiên.
1.3. Kế toán chi tiết NVL
Hạch toán chi tiết VT là việc hạch toán kết hợp giữa thủ kho và phòng
kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập xuất kho, nhằm đảm bảo theo dõi
chặt chẽ số liệu hiện có và tình hình biến động từng loại, nhóm, thứ vật tư về
số lượng và giá trị. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các
sổ kế toán chi tiết và vận dụng phương pháp hạch toán chi tiết VT phù hợp để

nhập, xuất tồn kho trong hạch toán chi tiết NVL giữa thủ kho và kế toán,
doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp sau:
1.3.2.1. Phương pháp ghi thẻ song song
* Nội dung:
- Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng ngày tình hình
nhập, xuất, tồn kho vật tư của từng danh điểm vật tư, ở từng kho theo chỉ tiêu
số lượng.
- Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ chi tiết NVL để ghi chép tình
hình nhập xuất tồn kho theo chỉ tiêu số lượng và số tiền.
Cuối tháng, kế toán cộng sổ chi tiết NVL và kiểm tra đối chiếu với thẻ
kho rồi ghi vào Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn.
Trình tự ghi sổ theo phương pháp ghi thẻ song song được khái quát
trong sơ đồ sau:
12
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
Thẻ kho
Sổ chi tiết
Bảng kê tổng hợp N-X-T
Sổ kế toán
tổng hợp
Chứng từ xuất
Chứng từ nhập
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu cuối tháng
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết NVL theo phương pháp ghi thẻ song
song
* Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng:
- Ưu điểm: Đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu và phát hiện sai sót.

Sổ kế toán tổng
hợp
Chuyên đề tốt nghiệp
- Ưu điểm: Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt do chỉ thị
ghi một lần vào cuối tháng.
- Nhược điểm: Phương pháp này vẫn còn ghi sổ trùng lặp giữa kho và
phòng kế toán về chỉ tiêu số lượng; việc theo dõi kiểm tra đối chiếu giữa kho
và phòng kế toán chỉ tiến hành được vào cuối tháng nên hạn chế tác dụng
kiểm tra của kế toán. - Điều kiện áp dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có
chủng loại vật tư, hàng hoá ít, không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình
nhập, xuất hàng ngày; phương pháp này thường ít được áp dụng trong thực tế.
15
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.2.3. Phương pháp ghi sổ số dư
* Nội dung:
- Thủ kho: Vẫn sử dụng "thẻ kho" để ghi chép như hai phương pháp
trên. Đồng thời cuối tháng thủ kho còn ghi vào "Sổ số dư" số tồn kho cuối
tháng của từng thứ vật tư cột số lượng.
- Phòng kế toán: Kế toán mở Sổ số dư cho từng kho dùng cho cả năm
để ghi số tồn kho của từng thứ, nhóm, loại vào cuối tháng theo chỉ tiêu giá trị.
Căn cứ vào chứng từ nhập, xuất kế toán lập các bảng kê nhập, bảng kê xuất;
sau đó vào bảng kê tổng hợp nhập - xuất - tồn. Cuối tháng, khi nhận được Sổ
số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số tồn kho theo chỉ tiêu số lượng
mà thủ kho đã ghi và đơn giá hạch toán để tính ra số tồn kho theo từng thứ
theo chỉ tiêu giá trị và ghi vào cột số tiền trên sổ số dư.
Việc kiểm tra đối chiếu được tiến hành vào cuối tháng, căn cứ vào cột
số tiền tồn kho cuối tháng trên Sổ số dư đối chiếu với số tiền tồn kho cuối
tháng trên Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn.
Có thể khái quát nội dung, trình tự hạch toán chi tiết VL theo phương

hoá, việc nhập xuất diễn ra thường xuyên; và đã xây dựng được hệ thống giá
hạch toán và xây dựng được hệ thống danh điểm vật tư hàng hoá hợp lý. Trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của kế toán vững vàng.
1.4. Kế toán tổng hợp NVL
NVL là tài sản lưu động của doanh nghiệp và được nhập xuất kho
thường xuyên, tuy nhiên tuỳ theo đặc điểm NVL của từng doanh nghiệp mà
các doanh nghiệp có các phương thức kiểm kê khác nhau. Có doanh nghiệp
thực hiện kiểm kê theo từng nghiệp vụ nhập - xuất kho (mỗi lần nhập - xuất
kho đều có cân, đo, đóng, đếm) nhưng cũng có những doanh nghiệp chỉ kiểm
kê một lần vào thời điểm cuối kỳ bằng cách cân, đo, đong, đếm ước lượng
NVL tồn cuối kỳ. Tương ứng với hai phương pháp kiểm kê trên, trong kế toán
NVL nói riêng và kế toán các loại hàng tồn kho nói chung có hai phương
pháp hạch toán tổng hợp là kê khai thường xuyên (KKTX) và kiểm kê định
kỳ (KKĐK).
1.4.1. Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.4.1.1. Đặc điểm của phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp KKTX là phương pháp kế toán phải tổ chức ghi chép một
cách thường xuyên, liên tục các nghiệp vụ nhập kho, xuất kho và tồn kho củac
các loại vật tư trên các tài khoản và sổ kế toán khi có các chứng từ nhập - xuất
vật liệu.
17
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
Việc xác định trị giá vốn thực tế của vật tư xuất kho được tính căn cứ
trực tiếp vào các chứng từ xuất kho. Sau khi đã tập hợp, phân loại theo đối
tượng sử dụng để ghi vào các tài khoản và các sổ kế toán.
Trị giá vốn thực tế của vật tư tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán có thể
được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán.
- Ưu điểm: Phương pháp này có độ chính xác cao, nắm rõ được tình
hình hiện có và biến động NVL, cung cấp kịp thời đầy đủ theo yêu cầu quản

+ TK1331: "Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá, vật tư"
+ TK1332: "Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ".
TK 133 chỉ được mở và áp dung cho những đơn vị áp dụng nộp thuế
theo phương pháp khấu trừ, không áp dụng cho những đơn vị nộp thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp.
* Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX được thể hiện qua
sơ đồ sau:
19
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX
TK111,112,141,131
TK133
TK152
TK621
TK333
TK151
TK411
TK154
TK128
TK627,641,642
TK632,157
TK154
TK128,222
TK128,222
Tổng giá
thanh toán
Thuế GTGT được khấu trừ
Nhập kho do mua ngoài
Xuất dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm

Chuyên đề tốt nghiệp
khoản tổng hợp không thể biết được số NVL mất mát, hư hỏng. Và độ chính
xác về vật tư xuất dùng cho các mục đích khác nhau không cao vì nó phụ
thuộc vào chất lượng công tác quản lý tại kho, bến bãi.
- Điều kiện áp dụng: phương pháp này phù hợp với những doanh
nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, với quy cách mẫu mã khác nhau, giá trị
thấp và được xuất thường xuyên.
1.4.2.2. Kế toán tổng hợp các nghiệp vụ chủ yếu
* Tài khoản sử dụng:
Kế toán tổng hợp tình hình nhập xuất vật tư theo phương pháp KKĐK
vẫn sử dụng TK152. Nhưng tài khoản này không phản ánh tình hình nhập
xuất vật tư trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển trị giá vốn thực tế NVL tồn
kho đầu kỳ, tồn kho cuối kỳ.
Ngoài ra còn sử dụng thêm TK611-TK mua hàng.
TK này phản ánh trị giá vốn thực tế của VT tăng, giảm trong kỳ.
TK611 không có số dư, được mở chi tiết theo TK cấp 2.
TK6111 "Mua NVL, CCDC"
TK6112 "Mua hàng hoá"
Cũng giống như phương pháp KKTX kế toán sử dụng các tài khoản
liên quan như TK111, 112, 621,641, 642, 331…
* Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKĐK được thể hiện qua
sơ đồ sau:
22
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
TK151,152
TK611
TK151,152
Thuế GTGT được khấu trừ
K/c tồn cuối kỳ
TK111,112,331

Xuất dùng cho sản xuất
TK128,222
Xuất góp vốn liên doanh
TK333
Thuế nhập khẩu
TK411
Nhận vốn góp liên doanh
góp cổ phần
TK711
Được quyên tặng
Chuyên đề tốt nghiệp
- Bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng kê tổng hợp N-X-T
- Nhật ký chung
- Bảng kê tính giá số 3, bảng kê phân bổ số 2
- Sổ cáiTK152, 153
* Đối với hình thức chứng từ ghi sổ
- Thẻ kho, Sổ kế toán chi tiết vật liệu
- Sổ chi tiết TK331
- Bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng kê tổng hợp N-X-T
- Chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Sổ cái TK152, 153.
24
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5
Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NGUYÊN VẬT LIỆU
TẠI CÔNG TY TNHH KIM KHÍ HÀ NỘI
2.1.Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty sản xuất và kinh
doanh vật liệu xây dựng

3. Thu nhập bình
quân
Triệu
đồng
3 3,3 110 2,6 127
Từ bảng trên ta thấy giá trị sản xuất của công ty ngày càng tăng năm
2006 tăng 144% so với năm 2005 đây là tỷ lệ tăng rất cao. Thu nhập bình
25
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn - Lớp: C8 - KT5

Trích đoạn Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty Đánh giá NVL ở công ty Thủ tục nhập, xuất vật liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status