Học viện Tài Chính
1
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC VIẾT TẮT
Tiếng Anh
ASEAN
Association of southeast Asian nations
AUD
BOP
Tiếng Việt
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Đô la Úc
Balance of Payment
Cán cân thanh toán quốc tế
CCTM
Cán cân thương mại
CNY
Nhân dân tệ
Yên Nhật
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NK
Nhập khẩu
NKHH
Nhập khẩu hàng hóa
TCTK
Tổng cục thống kê
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
USD
Đô la Mỹ
WB
World bank
Bảng 2.1: Cân đối xuất, nhập khẩu (2006-2011)...........................................30
Đơn vị tính: Triệu USD.................................................................................30
Bảng 2.2: Xuất, nhập khẩu hàng hóa và CCTM theo chủ thể (2006-2011). .32
Bảng 2.3: Hàng hóa xuất khẩu phân theo tiêu chuẩn ngoại thương..............33
Bảng 2.4: Hàng hóa nhập khẩu phân theo tiêu chuẩn ngoại thương (20062011) .............................................................................................................35
Bảng 2.5: Các thị trường xuất khẩu chính (2006-2011)................................37
Bảng 2.6: Các thị trường nhập khẩu chính (2006-2011)...............................38
Bảng 2.7: Chủ thể xuất, nhập khẩu giai đoạn 2012-2014.............................51
Bảng 2.8: Các thị trường xuất, nhập khẩu chính 2012-2014.........................54
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
3
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Mỹ (1960-II/2012)........19
Hình 2.1: Cán cân thương mại Việt Nam từ 2006 đến 2014........................28
Hình 2.2: Giá gạo xuất khẩu Việt Nam- Thái Lan (2007-2011)....................41
Hình 2.3: Tỷ giá USD/VND năm 2008-2009................................................43
Hình 2.4: CCTM với Trung Quốc và CCTM tổng giai đoạn 2006-2011......45
Hình 2.5: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam (2008-2014)..50
Hình 2.6: Mười mặt hàng xuất khẩu chính 2013-2014.................................53
Hình 2.7: Kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng chính của Việt Nam (20132014) .............................................................................................................54
từ nội tại nền kinh tế dẫn đến việc cán cân thương mại thâm hụt trong một
khoảng thời gian tương đối dài và chỉ mới thặng dư trong vòng 3 năm trở lại
đây (2012-2014). Tuy nhiên, với con số thặng dư không hề lớn, nếu không có
những biện pháp hiệu quả thì tình trạng thâm hụt rất có thể sẽ quay trở lại với
cán cân thương mại Việt Nam đặc biệt là trong năm 2015 – năm mà Việt Nam
phải thực hiện rất nhiều cam kết với các tổ chức thế giới.
Như vậy, ngoài việc xem xét thực trạng cán cân thương mại, Việt Nam cần
phải tìm ra những biện pháp để giữ vững tình trạng thặng dư của cán cân hay
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
2
Luận văn tốt nghiệp
nói cách khác là hạn chế thâm hụt trên cơ sở phân tích và tìm ra những
nguyên nhân của thâm hụt cán cân thương mại.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu với các mục tiêu sau:
Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại và cách
thức điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới
Đánh giá thực trạng cán cân thương mại Việt Nam qua các giai đoạn
thâm hụt (2006-2011) và thặng dư (2011-2014), từ đó tìm ra các nguyên
nhân gây nên thâm hụt và đánh giá những yếu tố đã tác động tích cực lên
cán cân thương mại Việt Nam.
quốc tế.
Chương 2: Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 20062014.
Chương 3: Giải pháp cân bằng cán cân thương mại Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
4
Luận văn tốt nghiệp
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN
QUỐC TẾ VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI.
1.1. Cán cân thanh toán quốc tế
1.1.1.Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế (Balance of payment)
Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) được các quốc gia sử dụng chủ yếu từ
sau chiến tranh thế giới thứ hai theo tinh thần của Hiệp ước Bretton Woods.
Tại thời điểm này, cán cân thanh toán quốc tế chủ yếu được sử dụng để phản
ánh các khoản giao dịch tiền tệ trong việc thanh toán các hàng hóa và dịch vụ
giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới.
Tuy nhiên, kinh tế thế giới đang có những biến chuyển mạnh mẽ; vì vậy,
việc xác định những giao dịch kinh tế được phản ảnh vào BOP ngày càng trở
nên phức tạp và việc đưa các quan hệ tiền tệ quốc tế khác ngoài thanh toán
hàng hóa, dịch vụ vào cán cân thanh toán là điều tất yếu bao gồm: tín dụng
quốc tế, đầu tư quốc tế và chuyển giao tiền tệ quốc tế một chiều. Đồng thời,
Khoản 2, điều 3, Nghị định số 16/2014 về quản lý cán cân thanh toán
của Việt Nam: “Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (sau đây gọi tắt
là cán cân thanh toán) là báo cáo thống kê tổng hợp các giao dịch giữa
người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định.”
Như vậy, định nghĩa về cán cân thanh toán được quy định trong các văn
bản đã được ban hành tại Việt Nam cũng đều tương đồng với khái niệm của
IMF. Và chúng ta có thể nhận thấy các thuật ngữ đều được xuất hiện trong các
định nghĩa: “giao dịch kinh tế (giao dịch)”, “người cư trú”, “người không cư
trú”.
Giao dịch kinh tế có thể hiểu là sự vận động qua lại của hàng hóa, dịch
vụ, thu nhập và các tài sản tài chính khác giữa các tổ chức và cá nhân vì
những mục đích lợi ích vật chất trước mắt hoặc lâu dài.
“Người cư trú” và “người không cư trú” được quy định theo luật của
các quốc gia và tương đối thống nhất. Việc xác định một chủ thể kinh tế
thuộc về “người cư trú” hay “người không cư trú” chủ yếu dựa trên hai
yếu tố: thời gian cư trú hay sinh sống, làm việc và nguồn thu nhập.
1 Phan Duy Minh (chủ biên) (2012), “Giáo trình Tài chính quốc tế”, NXB Tài Chính
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
6
Luận văn tốt nghiệp
Tại Việt Nam, hai khái niệm này được quy định cụ thể tại khoản 2 và
Luận văn tốt nghiệp
1.1.2.1. Cán cân vãng lai (Tài khoản vãng lai – Current Account –
CA).
“Cán cân vãng lai bao gồm toàn bộ các giao dịch giữa người cư trú và
người không cư trú về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu
nhập từ đầu tư, chuyển giao vãng lai được quy định tại Điều 14, Điều 15,
Điều 16 và Điều 17 của nghị định này.”2 Trong đó, các điều 14, điều 15,
điều 16, điều 17 chỉ rõ các thuật ngữ hàng hóa, dịch vụ, thu nhập và
chuyển giao vãng lai được đưa vào BOP.
Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú cho người
không cư trú được ghi vào bên “Nợ” (theo truyền thống kế toán sẽ ghi
bằng mực đỏ), và ngược lại, những giao dịch dẫn đến sự thanh toán của
người không cư trú đối với người cư trú được ghi vào bên “Có” (theo
truyền thống kế toán sẽ ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai
xảy ra khi bên “Có” lớn hơn bên “Nợ”.
Cán cân vãng lai bao gồm bốn cán cân tiểu bộ phận sau: Cán cân
thương mại (Trade balance), cán cân dịch vụ (Services), cán cân thu nhập
(Incomes) và cán cân chuyển giao vãng lai (Current transfers).
a)Cán cân thương mại (Trade balance)
Cán cân thương mại phản ánh chênh lệch giữacác khoản thu từ xuất
khẩu và các khoản chi cho hoạt động nhập khẩu. Các khoản thu từ xuất
khẩu được ghi “Có” với dấu “+” và các khoản chi cho nhập khẩu được ghi
“Nợ” với dấu “–”. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương
mại: tỷ giá hối đoái, lạm phát, thu nhập quốc dân trong và ngoài nước, giá
cả hàng hóa, chính sách thương mại quốc gia,…
2Mục a Khoản 1 Điều 13 Nghị định 16/2014/NĐ-CP về Quản lý cán cân thanh toán quốc tế của
“người cư trú” và “người không cư trú”.
Thu nhập được chuyển từ “người không cư trú” đến “người cư trú”
được ghi vào bên “Có” mang dấu “+” và ngược lại chuyển đến “người
không cư trú” ghi “–” vào bên “Nợ”.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thu nhập bao gồm: quy mô thu
nhập (mức lương, tỷ lệ sinh lời) và các yếu tố kinh tế-chính trị-xã hội.
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
9
Luận văn tốt nghiệp
d)Cán cân chuyển giao vãng lai (Current transfers)
Phản ánh các khoản chuyển giao một chiều không hoàn lại bao gồm:
viện trợ không hoàn lại, quà tặng, cho, biếu, các khoản trợ cấp và các
khoản chuyển giao bằng tiền và hiện vật khác cho mục đích tiêu dùng.
Các khoản làm phát sinh chi ngoại tệ thì ghi “–” vào bên “Nợ” và thu
được ngoại tệ thì ghi “+” vào bên “Có”.
Việc thực hiện các khoản chuyển giao một chiều chủ yếu phụ thuộc vào
môi trường kinh tế, mối quan hệ ngoại giao và tình cảm giữa hai bên.
1.1.2.2.Cán cân vốn và tài chính (Capital and financial account – KA)
Nói một cách đơn giản, cán cân vốn và tài chính được sử dụng để phản
ánh toàn bộ các luồng vốn đầu tư và tài trợ vào, ra của quốc gia.3
Cán cân vốn và tài chính gồm các cán cân tiểu bộ phận sau:
thiếu sót trong thống kê CCTTQT. Nguyên nhân của những sai sót thống
kê có thể bắt nguồn từ việc các hóa đơn thương mại được lập, ghi và xác
định theo các cách khác nhau, tại thời điểm khác nhau.
1.1.2.4.Cán cân tổng thể (Overall Balance – OB)
Cán cân thanh toán tổng thể được xác định bằng thay đổi dự trữ ngoại
hối Nhà nước chính thức do giao dịch tạo ra trong kỳ báo cáo. 4 Nói cách
khác, cán cân tổng thể phản ảnh tất cả các giao dịch kinh tế giữa “người cư
trú” và “người không cư trú” trong kỳ. Thông thường, cán cân tổng thể chỉ
được sử dụng vào thời điểm cuối kỳ để xác định số dư cuối kỳ của CA và
KA.
OB = CA + KA +/– OM
1.1.2.5. Cán cân bù đắp chính thức
Cán cân bù đắp chính thức bao gồm:
Tài sản dự trữ (dự trữ ngoại hối quốc gia).
Tín dụng và vay nợ từ IMF.
Tài trợ đặc biệt.
Về nguyên tắc, CCTTQT luôn cân bằng, như vậy số dư của OFB luôn
bằng số dư của OB hay:
OFB = – OB +/– OM
4Mục đ Khoản 1 Điều 13 Nghị định 16/2014 /NĐ-CP về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của
Việt Nam.
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
12
Luận văn tốt nghiệp
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa phụ thuộc vào ba nhóm yếu tố chính
sau:
Nhóm nhân tố liên quan đến chất lượng, thương hiệu,… của sản
phẩm xuất khẩu. Đây là nhóm nhân tố quyết định đến năng lực cạnh
tranh của hàng hó. Có thể thấy rõ, một hàng hóa có chất lượng cao hơn
và uy tín hơn trên cùng một thị trường sẽ dễ dàng được người tiêu dùng
lựa chọn hơn so với các hàng hóa cùng loại khác. Ngoài ra, các yêu cầu
về chất lượng hàng hóa ngày càng được kiểm soát nghiêm ngặt, các
hàng hóa có chất lượng cao sẽ dễ dàng thâm nhập được vào các thị
trường khó tính bên cạnh các thị trường truyền thống của doanh nghiệp.
Nhóm nhân tố liên quan đến giá cả hàng xuất khẩu, bao gồm: chi
phí đầu vào, năng suất lao động, tỷ giá hối đoái,… Vấn đề giá cả bao
giờ cũng được đề cập đến trong năng lực cạnh tranh của hàng hóa khi
xét đến các điều kiện khác là tương đồng.
Tính đa dạng của hàng hóa xuất khẩu tại thị trường nước ngoài: Nếu
thị trường nước ngoài có nhiều hàng hóa tương đương hoặc có khả
năng thay thế thì điều kiện cạnh tranh sẽ khắc nghiệt hơn.
1.2.1.2. Chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái (sau đây gọi tắt là tỷ giá
và chính sách tỷ giá) rất quan trọng đối với quốc gia vì nó tác động trựng
của một quốc gia: bảo hộ mậu dịch và tự do hóa thương mại. Hai xu hướng
này có tác động gần như là ngược chiều đến cán cân thương mại quốc tế
của một quốc gia:
Xu hướng bảo hộ mậu dịch: là việc sử dụng một số tiêu chuẩn thuộc
các lĩnh vực như: chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường,
xuất khẩu,… hay áp dụng các mức thuế xuất nhập khẩu (chủ yếu là
thuế nhập khẩu) đối với một ngành hàng nào đó để bảo vệ sản xuất
trong nước.
Trong ngắn hạn: Bảo hộ thương mại thực hiện khá tốt mục tiêu cải
thiện cán cân thương mại của quốc gia nhờ việc hạn chế nhập khẩu một
số mặt hàng hoặc số lượng một số mặt hàng khác, từ đó giảm thâm hụt
thương mại.
Trong dài hạn: Với trường hợp quốc gia thực hiện tỷ giá cố định,
việc giảm nhập khẩu sẽ làm tăng tổng cầu trong nước và tăng thu nhập
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
14
Luận văn tốt nghiệp
quốc dân, và kéo theo đó là tăng nhập khẩu và làm giảm đi hiệu quả đã
đạt được trong ngắn hạn. Trường hợp tỷ giá thả nổi, khi quốc gia thực
hiện bảo hộ mậu dịch, nội tệ tăng giá dẫn đến giảm xuất khẩu và tác
động không tốt đến cán cân thương mại. Ngoài ra, việc áp dụng các
Luận văn tốt nghiệp
1.2.1.4. Lạm phát
Lạm phát ảnh hưởng đến cán cân thương mại thông qua việc tác động
đến giá cả hàng hóa. Xét trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi
một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng cao hơn so với các quốc gia khác thì:
Giá đầu vào tăng cao, dẫn đến giá cả hàng hóa cao hơn các nước
khác, làm giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu.
Giá hàng hóa trong nước cao hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ
nước ngoài, làm tăng lượng nhập khẩu từ nước ngoài thay thế cho hàng
hóa trong nước đắt đỏ.
Như vậy, sự thay đổi của xuất khẩu và nhập khẩu dưới tác động của
lạm phát tăng đều làm xấu đi tình trạng của cán cân thương mại.
Ngoài ra, lạm phát còn tác động gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu, bởi
lẽ, khi lạm phát tăng sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia,
đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tổng cung của nền kinh tế trong đó
có cung xuất khẩu.
1.2.1.5. Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước
Thu nhập quốc dân trong nước tăng, người tiêu dùng có xu hướng nhập
khẩu nhiều hơn và làm xấu đi tình trạng của cán cân thương mại. Và
ngược lại, khi thu nhập quốc dân trong nước giảm, việc nhập khẩu được
hạn chế lại.
Áp dụng ngược trở lại, hoán đổi vai trò xuất nhập khẩu ta có thể thấy,
khi thu nhập quốc dân ngoài nước tăng thì cầu hàng hóa của nước nhập
khẩu tăng, hoạt động xuất khẩu được khuyến khích từ đó cải thiện cán cân
thương mại.
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
kĩ thuật cao, các sản phẩm đã qua chế biến, tinh luyện, co giãn ít với giá
thì với sự biến động bắt thường của giá sẽ tác động lớn đến cán cân thương
mại.
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
17
Luận văn tốt nghiệp
1.2.1.7. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nếu xét đến việc các công ty đa quốc gia đầu tư vào một quốc gia theo
hướng thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trực tiếp tại các nước khác
nhau để giảm chi phí sản xuất thì việc đầu tư các doanh nghiệp này sẽ có
tác dụng thay thế cho hoạt động thương mại. Có thể hiểu đơn giản, khi các
doanh nghiệp trực tiếp sản xuất được thành lập trong nước, hàng hóa sẽ
được cung cấp trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu trong nước thay vì sản xuất
từ nước ngoài và cung cấp cho thị trường trong nước thông qua hoạt động
thương mại quốc tế. Như vậy, việc điều chỉnh, định hướng sử dụng nguồn
vốn FDI sẽ ảnh hưởng đến cán cân thương mại của quốc gia. Nếu một
Chính phủ định hướng được FDI vào các ngành xuất khẩu hay các mặt
hàng phụ trợ cho ngành sản xuất để xuất khẩu thì có thể cải thiện cán cân
thương mại của quốc gia đó.
1.2.1.8. Tình hình kinh tế chính trị trong nước và thế giới
Sự ổn định chính trị trong nước là cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế của một
các yếu tố trong nền kinh tế bao gồm: cung, cầu, giá cả hàng hóa và sự biến
động tỷ giá, tăng trưởng kinh tế, sau đó là cung, cầu nội tệ và tình hình lạm
phát trong nước.
1.2.2.1. Cán cân thương mại thặng dư (thặng dư thương mại)
Cán cân thương mại thặng dư hay thặng dư thương mại thương mại
dương xảy ra khi một quốc gia có chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu
lớn hơn 0 hay xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu.
Cán cân thương mại thặng dư thường đem lại những tác động tích cực
cho nền kinh tế của quốc gia. Một quốc gia có cán cân thương mại thặng
dưcho thấy quốc gia đó có nền sản xuất trong nước tương đối phát triển,
đáp ứng được yêu cầu trong nước và đem lại thêm nguồn ngoại tệ cho
quốc gia.
1.2.2.2. Cán cân thương mại thâm hụt (Thâm hụt thương mại).
Thâm hụt thương mại là tình trạng của cán cân thương mại khi xuất
khẩu của một quốc gia nhỏ hơn lượng nhập khẩu của quốc gia đó hay xuất
khẩu ròng/ thặng dư thương mại âm.
Thâm hụt cán cân thương mại thường gây ảnh hưởng xấu đến cán cân
thanh toán, và kinh tế quốc gia. Bởi lẽ, khi nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu
hay tiêu dùng nhiều hơn sản xuất trong nước, các quốc gia phải tìm kiếm
các khoản ngoại tệ để chi trả cho các khoản nhập khẩu đó.
Khi đó, các quốc gia thường cần đến các dòng vốn khác như: FDI, FII,
vay ngắn hạn và dài hạn nước ngoài, kiều hối và ODA. Như vậy thường
làm tăng gánh nặng nợ cho quốc gia. Và trong nhiều trường hợp, khi Cán
cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng, các quốc gia phải sử dụng nguồn
dự trữ ngoại hối để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu, làm giảm dự trữ ngoại hối
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
20
Luận văn tốt nghiệp
Hình1.1: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Mỹ (1960-II/2012)
Nguồn: />
Ta có thể thấy, sau năm 2009, cán cân thương mại của Mỹ đã có những
dấu hiệu được cân bằng trở lại. Điều này là nhờ sự nỗ lực của cả nền kinh
tế Mỹ. Bên cạnh việc cơ cấu lại nền kinh tế, mở rộng mối quan hệ thương
mại với các nước trong khu vực, Mỹ luôn cố gắng giảm thâm hụt bằng các
biện pháp:
1) Hỗ trợ xuất khẩu: Đây là chính sách thương mại trọng tâm của Mỹ
bao gồm các biện pháp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu:
Miễn thuế của bang và liên bang, chương trình hoàn thuế.
Hỗ trợ bảo hiểm, hỗ trợ tài chính và các công cụ tín dụng qua
Ngân hàng Xuất nhập khẩu.
Hỗ trợ các sản phẩm đầu ra trong việc tiếp cận thị trường.
Trong đó, ưu tiên cho một số ngành mục tiêu gồm nông nghiệp và
năng lượng, thêm nữa các hỗ trợ của Chính phủ tăng khi giá giảm.
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
1995
1996
1997
1998
1999
Xuất khẩu
148.797
151.197
182.877
183.589
195.150
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04
Học viện Tài Chính
22
tỷ giá hối đoái,…
1) Tận dụng lợi thế cạnh tranh và tự do hóa xuất khẩu
Trung Quốc đã tận dụng các lợi thế từ nguồn nhân công giá rẻ,
dồi dào trong nước để đem lại thặng dư thương mại cho quốc gia.
Tận dụng nguồn lực bên ngoài, thu hút các doanh nghiệp FDI để
thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia, biến Trung Quốc thành trung tâm
chế biến hàng đầu, “công xưởng của thế giới”. Nhờ đó, vừa đem lại
nguồn hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu, vừa tạo nguồn xuất khẩu,
đem lại lợi ích thương mại cho quốc gia.
2) Hoàn thiện chính sách tỷ giá
Từ đầu năm 1990, Trung Quốc tiến hành phá giá đồng nhân dân tệ (CNY). Sau đó, liên tục
đến 21/7/2005, Trung Quốc ấn định tỷ giá 8,2-8,3 CNY/USD. Theo hiệp hội các doanh nghiệp
Mỹ, với tỷ giá này, đồng CNY đã bị định giá thấp hơn 40% giá trị thực, điều này đã gây ra sự
bất cân bằng đối với các hàng hóa nước ngoài, mang lại lợi thế cho thu hút đầu tư và tăng khả
năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước.
Sau đó, vào cuối tháng 7/2005, dưới áp lực của Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác,
Trung Quốc đã chuyển đổi chế độ tỷ giá. Tỷ giá mới được xác định trên một rổ tiền tệ, và cho
phép tỷ giá giao động trong ngày là 0.3%. Ngày 9/8/2005, trong bài phát biểu khai mạc trụ sở
thứ 2 của NHTW tại Thượng Hải, Thống đốc NHTW Trung Quốc ZhouXia Chuan đã công bố
11 đồng tiền trong rổ, trong đó các đồng tiền chính là USD, EURO, JPY và KRW (các đồng
Mặc dù tỷ
giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh
nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần. Như vậy, Trung Quốc vẫn
duy trì được lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế.
GBP, RUR, THB cũng có mặt trong rổ tiền tệ nhưng có tỷ trọng nhỏ hơn nhiều).
SV:Nguyễn Thị Thu Hường
Lớp: CQ49/08.04