Điều 171. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10
năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ
thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc
người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15
năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ
thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm
hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ
thể 61 % trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở
lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Lưu ý: Đối tượng của hành vi cướp giật tài sản (tương tự như đối với tội
cướp tài sản). Tuy nhiên thông thường là nữ trang tiền và các giấy tờ có
giá trị như tiền, là những vật nhẹ, gọn, dễ lấy và cất giấy một cách dễ
dàng.
Nhiều trường hợp người phạm tội cũng sử dụng thủ đoạn tinh vi để tạo
sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sản để thực
hiện hành vi cướp giật.
Ví dụ: giả vờ hỏi mua chiếc điện thoại di động, khi được chủ sở hữu tài
sản đưa cho xem đã nhanh chóng tẩu thoát cầm theo chiếc điện thoại.
2.2. Khách thể.
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
2.3. Mặt khách quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
2.4. Chủ thể
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách
nhiệm hình sự.
3. Về hình phạt
Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 04 khung, cụ thể như
sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
b) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
b) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
4. Hình phạt bổ sung
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ
tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm
đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở
lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc
tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
1. Cướp tài sản là gì?
Cướp tài sản được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực
ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình
trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu
của họ hoặc do họ quản lý.
2. Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản tại Bộ luật hình sự 2015
2.1. Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội cướp tài sản có một trong các dấu hiệu sau:
a) Có hành vi dùng vũ lực: Là hành vi của người phạm tội dùng sức
các thủ đoạn tinh vi để tác động vào thể chất, tinh thần của người bị hại.
Lưu ý:
Các hành vi nêu trên luôn và bao giờ cũng gắn liền với mục đích
chiếm đoạt tài sản. Thông thường việc chiếm đoạt này luôn được
thực hiện liền ngay sau khi thực hiện một trong các hành vi nói trên.
Đây
là
điểm
đặc
thù
của
tội
này.
Tuy nhiện, hậu quả có xảy ra hay không (tức có lấy được tài sản hay
không), giá trị tài sản ít hay nhiều không làm ảnh hưởng đến việc
truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà chỉ có ý nghĩa về
định khung hình phạt.
Đối tượng chiếm đoạt của hành vi cướp tài sản là tài sản của Nhà
nước, của tổ chức, tài sản của công dân. Thực tế cho thấy tài sản đã
bị chiếm đoạt trong tội cướp thường là vật, tiền hoặc giấy tò trị giá
được bằng tiền, còn quyền tài sản hầu như chưa thấy xảy ra hoặc
khó có thể là đối tượng chiếm đoạt của tội này. Đối với tài sản là vật
thì thông thường bao giờ động sản (như tiền, vàng, xe máy…) cũng
là đối tượng của tội cướp tài sản.
Thời điểm hoàn thành của tội phạm này được xác định từ lúc kẻ
phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm (một trong các hành vi nêu ở
mặt khách quan).
2.2. Khách thể
khắc, hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình
trạng không thể tự vệ được. Nếu ý thức chiếm đoạt phát sinh sau khi đã
thực hiện các hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc
hoặc các hành vi khác thì không phạm vào tội cướp tài sản, mà tuỳ vào
từng trường hợp cụ thể mà phạm vào các tội tương ứng với hành vi đó
(thường là tội công nhiên chiếm đoạt tài sản).
Ví dụ: A đánh B để trả thù, B do bị đánh đã để lại xe mô tô đang đi và bỏ
chạy. A nảy sinh và thực hiện ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của B.
Trường hợp này không có sự chuyển hoá tội phạm, từ tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản sang tội cướp tài sản. Tức là A không phạm vào tội
cướp tài sản mà phạm vào tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
– Việc chuyên hoá tội phạm khác sang tội cướp tài sản khi người phạm
tội đã chiếm giữ được tài sản thì bị chủ sở hữu hoặc người có trách
nhiệm quản lý tài sản giằng, giật lại tài sản, khi đó, người phạm tội đã sử
dụng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc để bảo vệ tài sản đã
chiếm đoạt được từ việc thực hiện một tội phạm khác.
Nếu người phạm tội, phạm vào một tội khác thì bị chủ sở hữu hoặc
người có trách nhiệm giằng giật lại tài sản, liền sau đó đã sử dụng vũ
lực. đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm tẩu thoát thì không phạm
vào tội cướp tài sản, vì lúc đó không có mục đích tiếp tục chiếm đoạt tài
sản. Trường hợp này không có sự chuyển hoá từ tội phạm khác sang tội
cướp tài sản. Hành vi trên được coi là hành hung để tẩu thoát đối với
việc phạm tội trước đó (trường hợp này chỉ có ý nghĩa trong việc định
khung tăng nặng, trong việc quyết định hình phạt).
– Nếu tài sản bị cướp lại là đối tượng của một tội phạm khác thì tuỳ từng
trường hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội
danh tương ứng, như tội chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật Hình
sự); Tội chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma tuý
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 % đến 30%;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm
đến 18 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm
đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Làm chết người;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc
tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
hành vi bắt cóc người khác làm con tin (với mục đích để chiếm đoạt tài
sản) để đòi chuộc bằng tài sản.
Lưu ý:
Việc chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là dấu hiệu cấu
thành cơ bản tội này. (không bắt buộc có dấu hiệu này)
Người chuẩn bị phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
này.
2.2. Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
(xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản). Ngoài ra còn có thể xâm
phạm đến tính mạng, sức khỏe, quyền tự do thân thể, danh dự, nhân
phẩm của người khác.
2.3. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích nhằm
chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội
này.
2.4. Chủ thể
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm
hình sự
3. Về hình phạt
Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 05 khung, cụ thể như
sau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
Trong quá trình bắc cóc người làm con tin nhằm chiếm đoạt tài
sản, người phạm tội đã có hành vi xâm phạm đến danh sự, nhân
phẩm, sức khỏe của người bị bắt cóc như làm nhục, gây thương
tích, dâm ô, hiếp dâm… thì tùy vào từng trường hợp cụ thể họ còn
phải bị truy cứu TNHS về những tội danh tương ứng trên. Riêng
trường hợp bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã có hành vi làm chết
con tin hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của
con tin thì không phạm vào tội danh tương ứng độc lập đã nêu trên,
mà phạm vào Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với khung tăng
nặng.
Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần
người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm
đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người
già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
(đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tội cướp tài sản với tội này). Việc đe
dọa được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
Đe dọa trực tiếp: Người phạm tội thực hiện đe dọa bằng lời nói, cử
chỉ, hành động… công khai, trực tiếp với người bị hại.
Đe dọa gián tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe dọa thông qua
các thình thức như: nhắn tin, điện thoại, thư… mà không gặp người
bị hại
b) Có hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác.
Được hiểu là dùng các thủ đoạn gây áp lực rất lớn về tinh thần của người
bị hại để buộc họ phải giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt
theo đòi hỏi mà người phạm tội đưa ra, kèm với việc dùng thủ đoạn đó.
Các thủ đoạn thường sử dụng là lợi dụng những lỗi lầm, khuyết điểm
của người bị hại mà người phạm tội biết được để đe dọa sẽ làm ảnh
hưởng đến uy tin, danh dự, nhân phẩm của họ (ví dụ: dọa tố cáo bí mật
đời tư của một người, mà bí mật sẽ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm
của ho) hoặc dọa gây ảnh hưởng xấu tới các mối quan hệ xã hội khác
như các mối quan hệ kinh doanh (ví dụ: Phát hiện nước giải khát, đóng
chai của một công ty có tạp chất, đã dọa công ty này phải đưa ra một
khoản tiền lớn để người phạm tội không tiết lộ thông tin này…)
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được tính từ lúc người phạm
tội thực hiện xong hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy
hiếp tinh thần người khác kèm theo đòi hỏi về giao tài sản để (với mục
đích) chiếm đoạt. Nếu chỉ thuần túy đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng
thủ đoạn uy hiếp tinh thần mà không có hay không gắn liền với yêu cầu
về tài sản để chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm này.
Nếu người phạm tội mới có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện,
kế hoặc… để doe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm
chiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được thì vẫn bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Hành vi phạm tội đối với bị hại được thực hiện công khai. Công
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 03 đến 10 năm.
c) Khung ba (khoản 3).
Có mức phạt tù từ 07 đến 15 năm.
d) Khung bốn (khoản 4).
Có mức phạt tù từ 12 đến 20 năm.
Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng
thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi
phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án
tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài
sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối
với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Hành hung để tẩu thoát;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm
tội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ không
làm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt
của người phạm tội hoặc nếu có thì biện pháp đó cũng không đem lại
hiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy đi một cách công khai).
Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài
sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu diếm hành vi phạm tội của
mình, trước, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản người bị hại biết
ngay người lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được).
Các yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội phạm
Theo quy định tại điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối
với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm là người trên
16 tuổi. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản cần chú ý độ tuổi của người phạm tội và các
tình tiết định khung hình phạt.
Khách thể của tội phạm
– Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như tội
có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ
sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này này được
thể hiện trong cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản nhà làm luật
không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung
hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm
tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ
đoạt người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.
– Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm
đoạt.
Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000
đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới
2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây ảnh hưởng xấu tới an
ninh, trật tự xã hội, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà
còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình
họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh
thần đối với người bị hại. Lúc này mớicấu thành tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản, nhưng không vì thế mà cho rằng, phải có thiệt hại về tài sản
(người phạm tội chiếm đoạt được tài sản) thì mới cấu thành tội phạm.
Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản
có giá trị lớn hoặc rất lớn như ôtô, xe máy, máy tính xách tay, đồng hồ
đắt tiền hoặc tài sản khác có giá trị hàng chục triệu đồng trở lên, thì dù
người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi là phạm tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, là phạm tội trong trường hợp phạm
tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ
thể.
Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi này với lỗi cố ý.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữđến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm:
1. Khái niệm
Trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách
trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
2. Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật hình sự 2015
2.1. Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi. Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi
chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Trên
thực tế, hành vi này làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không
thể thực hiện được các quyền năng (gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hay
quản lý) đối với tài sản của họ hoặc được giao quản lý, đồng thời những quyền này
lại thuộc về người phạm tội và người này có thể thực hiện được các quyền này một
cách trái pháp luật.
Ví dụ: Tên trộm đã lấy trộm một chiếc tivi mang về nhà sử dụng, sau đó bán đi.
Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt được thực hiện (hành động) một cách lén lút, bí
mật. Việc lén lút, bí mật là nhằm để che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu hoặc
người quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó.
Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với các tội có tính
chiếm đoạt khác (như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản…)
Việc che giấu hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng những hình thức khác
nhau, cụ thể là:
Che giấu toàn bộ hành vi: Trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người quản lý
tài sản không biết được bất cứ thông tin nào về người phạm tội cũng như
hành vi phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đêm tối, lẻn vào nhà người khác lấy trộm
tài sản).
Che giấu một phần hành vi: Tức chỉ che giấu riêng hành vi phạm tội (ví dụ:
Kẻ phạm tội giả vờ vào hỏi chủ nhà xin nước uống, giả vờ hỏi thăm đường
đi… và nhanh tay trộm tài sản giấu vào người). Trong trường hợp này chủ sở
o
Tài sản là di vật, cổ vật.
o
Di vật: Là vật được giữ lại của một thời xưa hoặc của người đã mất
(Từ điển Tiếng Việt – Trung tâm từ điển học – Nhà xuất bản Đà Nẵng
2009 – trang 341).
o
Cổ vật: Là vật được chế tạo từ thời cỏ, có giá trị văn hóa, nghệ thuật,
lịch sử nhất đinh (Từ điển Tiếng Việt – Trung tâm từ điển học – Nhà
xuất bản Đà Nẵng 2009 – trang 276).
o
Lưu ý:
Về đối tượng của tội trộm cắp tài sản gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
tài sản được Bộ luật dân sự quy định
Tuy nhiên thực tế theo chúng tôi thì quyền tài sản khó (hoặc không thể) là đốì
tượng của tội trộm cắp tài sản (chẳng hạn như quyền sử dụng đất) vì quyền tài sản
tuy được coi là tài sản nhưng có tính đặc thù, chỉ là một quyền năng mang tính
pháp lý được Nhà nước bảo hộ, để chuyển dịch được phải thông qua các thủ
tục pháp lý (thường là phức tạp) do Nhà nước quy định nên không thể lén lút mà
chiếm đoạt được. Trong trường hợp nhất định mà chuyển dịch được quyền này thì
lại cấu thành các tội phạm tương ứng khác.
Ví dụ 1: Để chuyển dịch quyền sử dụng một người đã phải giả giấy tờ mua bán
có công chứng để chuyển dịch quyền sử dụng đất của người khác thành của mình
tức sang tên của mình. Trong trường hợp này hành vi nêu trên cấu thành tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức.
Ví dụ 2: Một người không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển
nhượng quyền sử dụng đất (bằng giấy tay) cho một ngưòi khác bằng thủ đoạn là
nói với người mua rằng đất này là do mình là chủ sử dụng để người mua giao tiền.
Tuy nhiên thực chất thì chủ sử dụng đất là người đứng tên giấy chứng nhận quyền
2.4. Chủ thể
Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình
sự.
3. Về hình phạt.
Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành bôn khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06
tháng đến 03 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu
thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Được áp dụng đối vối một trong các trường
hợp phạm tội sau đây:
Có tổ chức (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).