Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 34

DANH MỤC VIẾT TẮT

CHXHCNVN

: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao.

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

BCA

: Bộ Công An.

BLHS

: Bộ luật hình sự.

TP

: Tội phạm

1


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài

phạm sở hữu của luật hình sự Việt Nam, những vấn đề thực tiễn cùng những
giải pháp, kiến nghị vẫn còn khá chung chung. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Tội
cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực
tiễn” một cách toàn diện và có hệ thống là đòi hỏi bức xúc, tất yếu khách
quan.
2.Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu.
Đề tài thực hiện nhằm nghiên cứu sâu sắc vấn đề lý luận cũng như
thực tiễn tội cướp giật tài sản trong giai đoạn những năm hiện nay để từ đó
tìm ra những biện pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội cướp
giật tài sản.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội
cướp giật tài sản,đường lối xử lý, một số biện pháp, kiến nghị hoàn thiện các
quy định tội cướp giật tài sản.
3. Cơ cấu
Khóa luận gồm có 3 chương ngoài lời mở đầu và kết luận.Trong đó:
Chương I

: Những vấn đề lý luận chung về tội cướp giật tài sản trong

luật hình sự Việt Nam
Chương II : Đường lối xử lý tội cướp giật tài sản trong luật hình sự
Việt Nam.
Chương III : Thực tiễn áp dụng tội cướp giật tài sản và một số kiến
nghị hoàn thiện.

3


Trên đây là khóa luận của em, do trình độ hiểu biết còn hạn chế, tài liệu
tham khảo còn chưa phong phú.... nên khóa luận không tránh khỏi những

chưa được quy định thành một điều luật cụ thể. Riêng Thông tư 442 thì các
Tòa án có thể áp dụng văn bản này để xử lý thích đáng hoặc trừng trị nghiêm
khắc đối với hành vi phạm tội cướp giật tài sản.
5


Năm 1959, sau khi nước ta cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo
XHCN thì việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thật cho CNXH là nhiệm vụ trọng
tâm hàng đầu. Bởi vậy, việc bảo vệ sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể là vấn đề
cấp bách, được đặc biệt coi trọng. Điều 40 Hiến pháp 1959 ghi nhận: “Tài sản
công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể
xâm phạm. Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”.
Ngày 21 tháng 10 năm 1970, Nhà nước ta đã thông qua hai văn bản pháp luật
mới là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh
trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Cụ thể tại, Điều 5 của
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, tội cướp giật tài sản
XHCN được qui định: “Kẻ nào cướp giật tài sản XHCN thì bị phạt tù từ 1
năm đến 7 năm”. Tại Điều 4 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
riêng của công dân có ghi: “Kẻ nào cướp giật tài sản riêng của công dân thì bị
phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm”. Nội dung của hai pháp lệnh đã thể hiện đầy đủ
và toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với các tội
phạm về sở hữu nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng thể hiện sự nhạy
bén của Nhà nước trước diễn biến tình hình tội phạm. Tội cướp giật tài sản
XHCN và tội cướp giật tài sản riêng của công dân đã được cụ thể hóa thành
hai điều luật riêng nằm trong hai pháp lệnh.
Ngoài hai pháp lệnh trên, Ban bí thư trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số
185 ngày 09 tháng 12 năm 1970 về tăng cường bảo vệ tài sản XHCN nhằm
chỉ đạo thi hành nội dung hai pháp lệnh trên. Ngày 16/03/1973, Thông tư liên
bộ của TANDTC-VKSNDTC-BCA hướng dẫn áp dụng hai pháp lệnh trên.
Trong đó, tội cướp giật tài sản được hiểu là: “Trường hợp kẻ phạm tội lợi

loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp phát triển
của xã hội.

7


- Trong BLHS 1985, tội cướp giật tài sản được qui định riêng rẽ thành
hai tội là: tội cướp giật tài sản XHCN tại Điều 131với nội dung: “ Người nào
cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không
thuộc trường hợp quy định tại Điều 129 thì bị phạt tù từ một năm đến năm
năm” và tội cướp giật tài sản riêng của công dân được qui định tại Điều 154
với nội dung: “ Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của
người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 151 thì bị phạt tù
từ ba tháng đến ba năm”. Xét về nội dung, hai tội này có dấu hiệu pháp lí
tương tự nhau: về mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm; chỉ
khác nhau về dấu hiệu khách thể của tội phạm. Do tính chất quan hệ sở hữu
được luật hình sự bảo vệ khác nhau, do vị trí của hai loại quan hệ sở hữu có
tầm quan trọng khác nhau nên hành vi phạm tội cướp giật tài sản được qui
định trong BLHS1985 được qui định thành hai tội danh cụ thể tại hai chương
khác nhau.
- Trong thời kỳ mới, xuất phát từ đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta là xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, xuất phát từ việc hội nhập kinh tế quốc tế. Bộ luật hình sự 1999 đã
nhập 2 chương: Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và các tội xâm phậm sở hữu
riêng của công dân vào thành một chương: Các tội phạm sở hữu. Việc nhập 2
chương là một việc làm cần thiết bởi: Thứ nhất, hai điều Điều 131 và Điều
154 trong BLHS1985 về cơ bản là giống nhau trong dấu hiệu pháp lí ( về mặt
khách quan, về mặt chủ quan, về chủ thể ) nên việc tách thành 2 chương riêng
biệt là không cần thiết. Hơn thế nữa, có nhiều trường hợp phạm tội khi thực
hiện hành vi cướp giật tài sản họ không quan tâm xem tài sản đó thuộc về

năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
ba năm đến mười năm:
a, Có tổ chức;
9


b, Có tính chất chuyên nghiệp;
c, Tái phạm nguy hiểm;
d, Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ, Hành hung để tẩu thoát;
e, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 11% đến 30%;
g, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai
trăm triệu đồng;
h, Gây thiệt hại nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
bảy năm đến mười lăm năm:
a, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm
trăm triệu đồng;
c, Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b, Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.


11


định một cách rõ ràng hơn. Điều này là cơ sở cho việc thực thi luật được minh
bạch, chính xác.
- Ngày16/03/1973,Thông tư liên bộ của Tòa án nhân dân tối cao- Viện
kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Công An hướng dẫn áp dụng hai Pháp lệnh:
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các
tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, tội cướp giật tài sản được hiểu là:
“Trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở vướng mắc của người giữ tài sản, bất
thần giằng lấy tài sản trên tay người giữ tài sản hoặc công nhiên lấy từ nơi để
tài sản với ý thức không che giấu hành vi phi pháp của mình, rồi chạy trốn
hoặc bỏ đi không dùng bạo lực”. Hướng dẫn này đã khái quát tội cướp giật tài
sản với hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt. Đồng
thời,hướng dẫn còn nêu đặc điểm của hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật tài
sản là chiếm đoạt một cách nhanh chóng và công khai.
- Điều 136 BLHS1999 quy định tội cướp giật tài sản, từ đó có thể định
nghĩa: “Tội

cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản

một cách công khai”
Tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc
người có trách nhiệm quản lý tài sản một cách công khai, tức là người phạm
tội không ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình. Một hành vi chiếm đoạt
có tính chất công khai nếu hình thức thực hiện của nó cho phép chủ tài sản có
khả năng biết ngay có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra.

Ví dụ:
Trưa ngày 14/02/2010,Vũ Huy Hoàng (18 tuổi, trú tại số nhà 12, ngõ



Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cấu thành tội phạm là tổng hợp
những dấu hiệu chung có tính đặc thù cho loại tội phạm cụ thể được quy định
trong luật hình sự. Với nội dung này, cấu thành tội phạm được coi là khái
niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm
nhất định trong luật hình sự.
Về mặt lí luận, bốn yếu tố cấu thành tội phạm là: khách thể của tội
phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của
tội phạm. Ở tội cướp giật tài sản qui định tại Điều 136 BLHS1999, các dấu
hiệu pháp lý của bốn yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm:
1.Khách thể của tội phạm
- Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được
coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác
định trong Điều 8 của BLHS. Đồng thời, mỗi một tội phạm đều gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hai cho một trong những khách thể nhất định. Khách thể
của tội phạm là một căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính chất nguy
hiểm của hành vi phạm tội.
- Trong tội cướp giật tài sản, khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ
sở hữu về tài sản mà đối tượng tác động là những tài sản nhỏ, gọn dễ mang đi
do tính chất của hành vi là nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Khi người phạm
tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã gây ra thiệt hại về tài sản cho chủ tài
sản và sự gây thiệt hại này phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm của hành vi
phạm tội.
Ngoài ra, không phải mọi tài sản đều là đối tượng tác động của tội cướp
giật tài sản. Đối tượng tác động của tội này thường là những tài sản gọn nhẹ,
có thể lấy và mang đi một cách dễ dàng như: dây chuyền, lắc, túi xách....rất ít
khi tội phạm lấy những tài sản cồng kềnh, khó di chuyển, mang vác theo. Tuy
14


mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của
việc thực hiện hành vi phạm tội. Tổng hợp những biểu hiện trên đây tạo thành
mặt khách quan của tội phạm. Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt
bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc
tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
Đối với tội cướp giật tài sản, dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm
được qui định tại Điều 136 BLHS 1999 chính là hành vi công khai chiếm đoạt
tài sản một cách nhanh chóng.
Hành vi khách quan trong tội cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài
sản của người khác. Hành vi chiếm đoạt là hành vi dịch chuyển tài sản đang
do người khác quản lý thành tài sản của mình một cách bất hợp pháp. Hành vi
chiếm đoạt bao gồm sự thống nhất giữa biểu hiện khách quan (là sự chuyển
dịch tài sản) với ý thức chủ quan (mong muốn chiếm đoạt tài sản của người
khác một cách bất hợp pháp).
Trong tội cướp giật tài sản, hành vi chiếm đoạt thực hiện bằng hình
thức công khai và nhanh chóng.Đây là những dấu hiệu đặc trưng, là cơ sở để
phân biệt tội cướp giật tài sản với những tội phạm khác.
2.1.Dấu hiệu công khai chiếm đoạt.
- Trước hết, dấu hiệu công khai được hiểu là người phạm tội không có
ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình và khi thực hiện việc chiếm đoạt
của nó cho phép chủ tài sản biết ngay có hành vi chiếm đoạt này xảy ra. Dấu
hiệu này vừa chỉ tính khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa thể hiện ý thức
chủ quan của người phạm tội. Về khách quan, người phạm tội không che giấu
hành vi chiếm đoạt, công khai và ngang nhiên thực hiện hành vi đó. Ngay sau
khi thực hiện hành vi, người xung quanh có thể nhận thấy ngay hành vi của
người phạm tội.Về mặt chủ quan,người phạm tội không có ý định che giấu
16



ràng. Chủ cửa hàng thấy A bảo hợp lý, không chút nghi ngờ gì cả nên đã đồng
ý. A cầm nhẫn leo lên xe của B nổ sẵn và tháo chạy. Như thế, A đã sử dụng
thủ đoạn gian dối để giúp việc chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhanh chóng
và dễ dàng hơn.
Hoặc: Ngày 13/04/2009, Phạm Văn Ng ở Từ Liêm- Hà Nội đến cửa
hàng đồng hồ để bán chiếc đồng hồ Selko5 nhưng cửa hàng này không mua.
Ông Ng gạ bán đồng hồ cho Phạm Khánh N đứng ở gần đó. N đồng ý mua
nhưng lấy lí do là không mang theo tiền nên đề nghị ông Ng theo y về nhà lấy
tiền để trả. Ông Ng tin và đồng ý đi theo N. Khi đến Yên Hòa- Cầu Giấy thì N
bảo ông Ng đưa đồng hồ cho y xem lại chất lượng lần nữa. Ngay sau khi ông
Ng đưa đồng hồ, N lập tức bỏ chạy. Sau đó, y bị bắt.
Tại bản án sơ thẩm số 135/HS-ST ngày 05/11/2009 của Tòa án nhân
dân quận H đã áp dụng Điều 136 khoản 1 BLHS năm1999, phạt Phạm Khánh
N 3 năm tù về tội cướp giật tài sản.
Vụ án trên, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Ng, N đã
phải dùng đến 1 số thủ đoạn cũng như tiếu xảo để qua mặt Ng, để tạo ra sơ hở
và lợi dụng sơ hở đó để thực hiện hành vi chiếm đoạt của mình. Tất cả những
hành vi trên chỉ là cơ sở để N thực hiện mục đích chiếm đoạt. Hành vi cuối
cùng của N vẫn là cầm lấy đồng hồ và nhanh chóng bỏ chạy đã chứng tỏ ý
thức công khai không cần che giấu hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Tòa
án nhân dân quận H, áp dụng Điều 136 khoản 1 BLHS1999 là hoàn toàn đúng
đắn.
Dấu hiệu công khai là dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản,
không thể thiếu trong cấu thành tội phạm. Nhưng chỉ công khai thôi thì chưa
đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự một người về tội cướp giật tài sản.
Bởi trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có nhiều tội mà hành vi chiếm đoạt
tài sản cũng có dấu hiệu công khai.
18



đe dọa vũ lực hay uy hiếp tinh thần, người chủ tài sản biết mà vẫn không dám
kháng cự để bảo vệ tài sản của mình.
Ví dự như: A là một tên côn đồ khét tiếng về việc đánh nhau ở địa bàn
quận H.Hôm đó, A đang ngồi uống nước ở quán thì thấy anh B là thương binh
ngồi trên xe lăn. A đứng dậy tiến gần anh B giật lấy dây chuyền rồi quay vào
quán ngồi uống nước. Anh B nhìn thấy vậy nhưng không dám có phản ứng gì
bởi anh B biết được A là một tên côn đồ có tiếng.
Ví dụ trên đã chứng tỏ, tẩu thoát không phải là dấu hiệu bắt buộc trong
mặc khách quan của tội cướp giật tài sản. A vẫn không hề lẩn tránh sau khi
thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi của A đã bị xét xử theo Điều 136BLHS1999 về tội cướp giật tài sản.
Như vậy, hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản mang tính chất
công khai và nhanh chóng chiếm đoạt. Tội phạm hoàn thành khi người phạm
tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, không kể đã chiếm đoạt được tài sản
đó hay chưa. Đây là đặc trưng để phân biệt với tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản đòi hỏi việc chiếm đoạt tài sản phải đã được thực hiện trên thực tế.
Ví dụ như:
Chị B đến cửa hàng chị A để thu tiền nợ. Anh C thấy chị B để tiền
trong một túi đen. Lúc chị B rời khỏi cửa hàng đi được một đoạn, đến quãng
đường vắng vẻ, anh C liền áp sát rồi giật lấy cái túi đen của chị B. Anh C mở
ra không thấy tiền mà chỉ thấy áo chống nắng, khẩu trang và một số đồ lặt vặt.
Chị B trước khi rời khỏi cửa hàng đã để túi tiền trong cốp xe máy, điều này
khiến anh C bị nhầm. Tuy tài sản anh C không chiếm đoạt được nhưng hành
vi của anh C vẫn bị cấu thành tội cướp giật tài sản đã hoàn thành theo qui
định của Điều 136 BLHS1999.

20


Như vậy, hành vi chiếm đoạt là một trong những hình thức thể hiện của
hành vi khách quan trong các tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, ở từng tội

Chủ thể của tội cướp giật tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách
nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Trong
đó, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy.
- Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tại Điều 12 BLHS qui định:
1. “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.”
- Theo Điều 3 Khoản 8 BLHS1999 thì tội cướp giật tài sản tại Điều 136
BLHS1999, khung hình phạt lần lượt là khung thứ nhất áp dụng đối với
người từ đủ 16 tuổi trở lên phạm tội vì mức cao nhất của khung hình phạt là
đến năm năm (tội nghiêm trọng), khung thứ hai áp dụng đối với người từ đủ
14 tuổi trở lên phạm tội vì mức cao nhất của khung hình phạt là đến mười
năm (tội rất nghiêm trọng), khung thứ ba áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi
trở lên phạm tội vì mức cao nhất của khung hình phạt là đến mười lăm năm
(tội rất nghiêm trọng), khung thứ tư áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi trở
lên phạm tội vì mức cao nhất của khung hình phạt là đến tù chung thân (tội
đặc biệt nghiêm trọng).
Như vậy, đối với tội cướp giật tài sản, chủ thể của tội phạm trước hết
bao gồm những người từ đủ 16 tuổi trờ lên, có năng lực trách nhiệm hình sự
và những người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự thực
22


hiện hành vi cướp giật tài sản trong trường hợp thuộc Điều 139 Khoản
2,Khoản 3, Khoản 4 BLHS1999.
Ví dụ: Ngày 13/10/2010, chị Nguyễn Thị Thu V, 22 tuổi đi xe máy

buộc còn có động cơ và mục đích.

24


CHƯƠNG II
ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.
I.Khung hình phạt tội cướp giật tài sản.
1.Khung hình phạt cơ bản ( Khoản 1 Điều 136)
- Điều 136 khoản 1 BLHS1999 qui định: “Người nào cướp giật tài sản
của người khác thì bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm.”
- Như vậy, một người thực hiện hành vi chiếm đoạt công khai, nhanh
chóng tài sản của người khác trong điều kiện thông thường thì sẽ bị áp dụng
mức phạt tù từ một năm đến năm năm. Cần phải lưu ý rằng, tài sản bị chiếm
đoạt phải có giá trị dưới 50 triệu đồng. Quan điểm này là rất phù hợp vì: thể
hiện rõ tính nghiêm khắc, trừng trị đúng người đúng tội của Nhà nước.
2.Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất ( Khoản 2 Điều 136)
- Điều 136 khoản2 BLHS 1999 qui định: “ Phạm tội thuộc một trong
các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến 10 năm”.
- Các tình tiết tăng nặng bao gồm:
2.1. Phạm tội có tổ chức
Theo Điều 20 khoản3 BLHS1999 :”Phạm tội có tổ chức là hình thức
đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cũng thực hiện tội phạm.
Như vậy, phạm tội có tổ chức gồm 2 dấu hiệu là “đồng phạm” và “cấu kết
chặt chẽ”.
- Phạm tội có tổ chức mang nét đặc trưng là: (1) Nhóm phạm tội được
hình thành do một hoặc một số người đứng ra rủ rê, tập hợp với phương
hướng hành động có tính chất lâu dài, bền vững. Trong nhóm tồn tại quan hệ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status