1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐỔI MỚI CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC (VIỆT NAM) TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆP
ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)
CÓ HIỆU LỰC
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
2
HÀ THANH XUÂN
HÀ NỘI - 2017
3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đổi mới cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước (Việt Nam)
trong điều kiện hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Hà Thanh Xuân
6
7
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tác giả đã hoàn thành luận
văn thạc sĩ kinh tế quản trị kinh doanh với đề tài: “Đổi mới cạnh tranh của doanh
nghiệp nhà nước (Việt Nam) trong điều kiện hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP) có hiệu lực”.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS, TS Tăng Văn Nghĩa,
người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ
và định hướng cho tác giả trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu khoa học.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các tập thể, cá nhân, bạn bè, đồng
nghiệp và người thân đã chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
8
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
Viện nghiên cứu Quản lý Kinh
tế Trung ương
Cổ phần hóa
Debt and Asset Trading
Công ty TNHH Mua bán nợ
Corporation
Việt Nam
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp ngoài nhà nước
Vietnam Electricity
Tập đoàn điện lực Việt Nam
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Foreign Trade Association
Hiệp định thương mại tự do
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
International Organization For Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc
Standardization
tế
Organization For Economic
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Cooperation And Development
Kinh tế
State Capital Investment
Phần nội dung chính của luận văn, tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận
về cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các quy định của TPP về doanh
nghiệp nhà nước ở chương 1; phân tích thực trạng cạnh tranh của DNNN Việt Nam
ở chương 2 và đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới cạnh tranh của DNNN khi Hiệp
định đối tác xuyên Thái Bình Dương có hiệu lực ở chương 3. Cụ thể:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước và các
quy định của TPP về doanh nghiệp nhà nước.
Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý luận chung về cạnh tranh, vai trò,
cách thức phân loại hành vi cạnh tranh cũng như các phương tiện cạnh tranh của
doanh nghiệp. Tác giả dẫn chứng các quan niệm về DNNN và nêu các đặc điểm của
DNNN nói chung. Luận văn giới thiệu về Hiệp định TPP, các vấn đề đặt ra đối với
doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện TPP có hiệu lực.
Trên cơ sở lý luận, luận văn hướng tới phân tích thực trạng trong chương 2.
Chương 2: Thực trạng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
trên thị trường.
Trong chương 2, tác giả tiến hành phân tích thực trạng của các DNNN Việt
Nam. Hiện nay, sau 25 năm cải cách, sắp xếp thì số DNNN đã giảm đáng kể, tập
trung vào 19 ngành, lĩnh vực có quy mô vừa và lớn. Số lượng DNNN tuy chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong khu vực doanh nghiệp nhưng DNNN vẫn đóng góp vào GDP
khoảng 28,8%. Hiệu quả kinh doanh của các DNNN về cơ bản đã được nâng lên
nhưng nhìn chung vẫn còn yếu kém, chưa thực sự hiệu quả so với khu vực ngoài
quốc doanh. Trình độ công nghệ trong sản xuất kinh doanh của các DNNN còn lạc
hậu. Trình độ quản lý cũng đang tồn tại nhiều vấn đề, năng lực sản xuất của người
lao động còn nhiều hạn chế.
11
Sau những đánh giá chung về DNNN Việt Nam, luận văn tiến hành đánh giá
DNNN trên các phương tiện cạnh tranh về giá cả, chất lượng hàng hóa/dịch vụ, các
dịch vụ kèm theo và cuối cùng là truyền thông, quảng cáo. Theo nhận định chung
Trong đó, thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo: Mở đường, dẫn dắt, hỗ
trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững,
cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhất là hàng hóa dịch vụ trong các ngành kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội. Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã và đang giữ
một vị trí then chốt trong nhiều lĩnh vực sản xuất hàng hóa như điện, nước, vận tải
đường sắt, v.v. Tuy nhiên, những năm qua, DNNN đã bộc lộ nhiều bất cập: cở sở
vật chất kỹ thuật lạc hậu, vốn thiếu, cơ chế quản lý có nhiều lúng túng, hoạt động
kém hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất và làm
chưa tốt vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng vị thế độc quyền bằng các chính sách ủng
hộ của Nhà nước đã gây cản trở việc tự do hóa thương mại và bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, quá trình cổ phần
hóa DNNN ở Việt Nam được tiến hành từ 5/1990. Việc chuyển DNNN thành các
Công ty cổ phần đã làm thay đổi cơ chế quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp
theo hướng tăng cường chức năng giám sát hoạt động bằng pháp luật và nội dung
điều lệ hoạt động của công ty cổ phần phù hợp với quy định của Nhà nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế và việc gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP) là quá trình tất yếu khách quan, không một ngành nào có thể đứng
ngoài, không một doanh nghiệp nào có thể né tránh. Các DNNN Việt Nam cũng
vậy. Điều này tạo ra cơ hội giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển ổn định và bền
vững. Tuy nhiên, các DNNN cũng đứng trước những thử thách gay gắt. Hiệp định
TPP đưa ra những thay đổi trong cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với các
ngành này. Đứng trước những thay đổi đó, liệu DNNN có thể tự đổi mới và cạnh
tranh hiệu quả trên thị trường?
Để trả lời cho vấn đề nêu trên cần có sự nghiên cứu một cách hệ thống và cụ
thể về các DNNN Việt Nam khi gia nhập Hiệp định TPP. Đó chính là lý do tôi chọn
đề tài luận văn:“Đổi mới cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước (Việt Nam) trong
điều kiện hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu về các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các DNNN nói
14
Luận văn: Đánh giá tác động của Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên
Thái Bình Dương tới sự phát triển thương mại Việt Nam. Tác giả: Mai Công Trà
Giang, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, 2010. Luận văn đề cập đến những cơ
hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp để phát triển thương mại Việt Nam.
Sách: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP và vấn đề tham gia của
Việt Nam của tác giả Hoàng Văn Châu (NXB Bách khoa Hà Nội, 2014) có đề cập
đến những cơ hội và thách thức đối với DNNN và cũng có một phần nhất định đề
cập tới những giải pháp đổi mới các DNNN.
Sách: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP): Cơ hội nào cho Việt
Nam Tác giả: Phạm Duy Nghĩa, Nhà xuất bản Thời đại, 2013.
Tài liệu: Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi tham gia Hiệp định
thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tác giả: Hoàng Quỳnh Ngọc, 2011.
Tài liệu: Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế.
Tác giả: Phạm Tất Thắng, Tạp chí Cộng sản, Số 833-2012.
Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình này đã đề cập đến các vấn
đề đặt ra cho Việt Nam khi gia nhập TPP, các cơ hội, thách thức đối với các doanh
nghiệp nhưng đó là doanh nghiệp Việt Nam nói chung.
Ngoài ra, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp nhưng đó là doanh nghiệp Việt Nam nói chung, chưa có đề tài
nào nghiên cứu về đổi mới cạnh tranh của các DNNN (Việt Nam) trong bối cảnh
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương có hiệu lực.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và một số
nguyên tắc của TPP, một số tổng kết, đánh giá về thực trạng cạnh tranh của các
DNNN ở Việt Nam, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới cạnh tranh của
các DNNN Việt Nam trong điều kiện Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương có
hiệu lực.
chọn khoảng thời gian này là từ năm 2011 – 2016 là khoảng thời gian đủ dài để
đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Theo Đại
16
hội Đảng thứ 12, chính phủ đã đưa ra nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ cổ
phần hóa hầu hết các DNNN.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá, bổ sung lý luận về cạnh tranh của DNNN, về TPP và DNNN
trong các quy định của TPP.
Phân tích, đánh giá thực trạng cạnh tranh của DNNN trước khi Việt Nam gia
nhập TPP.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới cạnh tranh của DNNN trong
điều kiện TPP có hiệu lực và tham gia các hiệp định FTAs khác.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo và mục lục, luận văn gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước và các quy
định của TPP về doanh nghiệp nhà nước.
Chương 2: Thực trạng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trên
thị trường.
Chương 3: Giải pháp đổi mới cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhà nước Việt
Nam trong điều kiện Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực.
17
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA TPP VỀ DNNN
1.1. Cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc
chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các
điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh.
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử
dụng nhiều công cụ khác nhau như: cạnh tranh bằng đặc tính về chất lượng sản
phẩm, cạnh tranh bằng giá sản phẩm (chính sách định giá thấp, chính sách định giá
cao, chính sách định giá ổn định, định giá theo thị trường, chính sách giá phân biệt,
bán phá giá, cạnh tranh bằng nghệ thuật phân biệt sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ
bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán, v.v...)
Với cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm cạnh
tranh có thể được hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể
kinh tế (quốc gia, ngành hay doanh nghiệp) ganh đua với nhau, tìm mọi biện pháp
để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy
khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối
cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với
người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng
và sự tiện lợi.
Như vậy về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong
việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích
lợi nhuận và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh
doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những
người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối
quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác nhau.
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu
nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị xã hội, nó có quan hệ hữu cơ
với các quy luật kinh tế khác: như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy
luật cung cầu. Đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh. Quy luật cạnh
tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó làm
trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế; Về phía doanh nghiệp, thông qua
quan hệ cung cầu, cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhanh nhạy nắm bắt và đáp ứng
20
nhu cầu và thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng. Các doanh nghiệp với mục tiêu hút
càng nhiều khách hàng về phía mình càng tốt. Như vậy, cạnh tranh giúp cho doanh
nghiệp phát huy hết khả năng của mình bằng cách chính bản thân nó khuyến khích
các doanh nghiệp phấn đấu đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, dịch vụ và giá cả. Sức
ép cạnh tranh thúc giục các doanh nghiệp phải liên tục tạo ra những sản phẩm mới
đi kèm với việc áp dụng công nghệ mới, các phương pháp quản lý tiên tiến. Bởi
vậy, cũng có thể thấy, cạnh tranh cũng là nguồn gốc để phát triển khoa học kỹ thuật
và công nghệ cao cho nền kinh tế đất nước. Về phía người tiêu dùng, cạnh tranh
không những thỏa mãn nhu cầu của họ mà còn giúp người tiêu dùng có nhiều cơ hội
lựa chọn hàng hóa dịch vụ có chất lượng tốt và giá thành rẻ hơn.
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì cạnh tranh cũng có một số hạn chế.
Do chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực, vừa là động lực tăng
trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh đào thải. Sự đào thải không khoan nhượng
những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả do cạnh tranh khốc liệt. Mặc dù
điều này phù hợp với quy luật kinh tế khách quan nhưng lại gây ra những hậu quả
kinh tế xã hội như thất nghiệp gia tăng, mất ổn định xã hội. Cạnh tranh là quá trình
kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó có cả những thủ đoạn cạnh
tranh không lành mạnh để giành ưu thế trên thương trường như gian lận, quảng cáo
lừa gạt khách hàng. Cuối cùng, cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho
thị trường phát triển theo chiều hướng không tốt.
Tuy nhiên, do cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động của
nền kinh tế thị trường nên chúng ta cần nhận thức được các vai trò tích cực và hạn
chế của cạnh tranh để vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất.
1.1.3. Phân loại hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.1. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh trên thị trường
Độc quyền tập đoàn là trường hợp trên thị trường chỉ có một số hãng lớn bán các
sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất. Họ kiểm soát gần như toàn bộ lượng
cung trên thị trường nên có sức mạnh thị trường khá lớn. Các hãng trong tập đoàn
có tính phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sản lượng của mỗi hãng đều ảnh
hưởng trực tiếp đến các hãng khác trong tập đoàn và giá thị trường. Vì vậy, họ
thường cấu kết với nhau để thu lợi nhuận siêu ngạch.
1.1.3.2. Căn cứ vào hình thức
a)
Cạnh tranh tự do
Cạnh tranh tự do là cạnh tranh hoàn toàn không có sự điều tiết của Nhà nước.
Trên thế giới hiện nay, hiện tượng này không thể có do kinh tế thị trường hiện đại
luôn có nhu cầu được điều tiết.
22
b)
Cạnh tranh có sự điều tiết
Cạnh tranh có sự điều tiết, bản thân nó đã nói lên sự can thiệp của nhà nước
vào đời sống kinh tế nhưng ở các mức độ khác nhau bởi Nhà nước nào cũng có các
mục tiêu kinh tế của mình và bằng các chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô hướng các
hoạt động kinh tế theo các mục tiêu đó.
1.1.3.3. Căn cứ vào tính chất và mục đích của các phương thức cạnh tranh
a)
Cạnh tranh lành mạnh
Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh theo qui định của pháp luật, theo đó các
đối thủ cạnh tranh và sự hài lòng của khách hàng đối với hàng hóa/dịch vụ nào đó.
Việc sử dụng phương tiện cạnh tranh giá có vai trò và ý nghĩa trong mọi giai
đoạn thị trường của sản phẩm. Tuy nhiên, ở mỗi một giai đoạn thì giá lại mang ý
nghĩa khác nhau. Doanh nghiệp cần phải xác định rõ vòng đời của sản phẩm để đưa
ra được những chiến lược giá phù hợp. Ví dụ, ở giai đoạn thử nghiệm và tăng
trưởng thì giá có ý nghĩa rất lớn vì khi đưa ra một sản phẩm/dịch vụ mới đến khách
hàng với giá cả thấp thì mới có khả năng tác động vào tâm lý tiêu dùng của khách
hàng một cách tốt nhất. Ở giai đoạn chín muồi, tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ đã trở
thành nhu cầu và thói quen thì giá lại không còn là chiến lược để cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Hơn nữa, việc cạnh tranh bằng giá còn phụ thuộc vào loại sản phẩm,
mô hình thị trường và các rào cản gia nhập thị trường (Tăng Văn Nghĩa 2013, tr.19).
Tại môi trường cạnh tranh hoàn hảo thì phương tiện cạnh tranh bằng giá được sử
dụng hữu hiệu theo quan hệ cung cầu, quy luật giá trị quyết định, không có sự tồn
tại của bất cứ khả năng hay quyền lực nào có thể chi phối. Tại các thị trường không
hoàn hảo thì phương tiện cạnh tranh bằng giá theo cơ cấu giá nguồn cung không
đồng nhất. Mỗi thành viên của thị trường đều có một mức độ quyền lực nhất định
đủ để tác động đến giá sản phẩm. Tùy từng biểu hiện của hình thức cạnh tranh này
(cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm) mà cách thức tác động đến
giá cả sẽ là khác nhau.
Giá cả là phương tiện cạnh tranh của doanh nghiệp, tác động mạnh mẽ đến
tâm lý tiêu dùng của khách hàng. Tuy nhiên, cạnh tranh bằng giá còn nằm trong sự
tương quan với các phương tiện cạnh tranh khác như chất lượng hay dịch vụ kèm
theo. Các yếu tố này sẽ đẩy chi phí sản xuất hàng hóa lên cao hơn. Việc doanh
nghiệp tăng yếu tố chất lượng, dịch vụ đi kèm hay quảng cáo cho hàng hóa/dịch vụ
và vẫn giữ nguyên được giá thì cũng có ý nghĩa cạnh tranh bằng giá cả.
Giá là phương tiện hữu hiệu để cạnh tranh, tuy nhiên không phải lúc nào giá
cũng mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần có một chiến lược
giá linh hoạt cho từng thời kỳ, từng sản phẩm, từng thị trường. Ngoài việc cân bằng
được chi phí đầu vào đầu ra của sản phẩm, chính sách giá hợp lý sẽ giúp doanh
(Tăng Văn Nghĩa 2013, tr.20 - 21).
Nhìn chung, cạnh tranh chất lượng thể hiện sự đầu tư, cam kết và tính sáng tạo
25
của doanh nghiệp trong việc đảm bảo chất lượng hàng hóa hay dịch vụ cung cấp,
cho nên khi chiếm được lòng tin của khách hàng thì cũng làm tăng giá trị thương
hiệu của doanh nghiệp.
1.1.4.3. Dịch vụ
Phương tiện cạnh tranh dịch vụ chính là các dịch vụ kèm theo khi nhà cung
cấp/hàng hóa dịch vụ cho khách hàng nhằm tăng độ hấp dẫn của sản phẩm và uy tín
của nhà cung cấp. Các dịch vụ kèm theo có thể là dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo hành,
dịch vụ hậu mãi, v.v. Phương tiện cạnh tranh dịch vụ được sử dụng khá phổ biến
trong việc cung cấp hàng hóa/dịch vụ phức tạp hoặc có ứng dụng công nghệ cao.
Dịch vụ là phương tiện cạnh tranh độc lập nhưng nó có mối quan hệ chặt chẽ
với chất lượng sản phẩm và sự hấp dẫn của sản phẩm. Dịch vụ ở đây hoàn toàn có
tính độc lập với việc cung cấp các sản phẩm/dịch vụ. Nếu không có các dịch vụ này
thì việc cung cấp sản phẩm/dịch vụ vẫn diễn ra bình thường nhưng sẽ ở tốc độ thấp
và phạm vi hẹp hơn. Dịch vụ sẽ làm tăng chất lượng cũng như hiệu suất của sản
phẩm. Cạnh tranh dịch vụ mang ý nghĩa là một đối tượng bổ sung làm tăng giá trị
của sản phẩm có liên quan của doanh nghiệp. Cùng với phương tiện giá cả, chất
lượng và quảng cáo, dịch vụ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Phương tiện cạnh tranh dịch vụ có mối quan hệ và ảnh hưởng tùy thuộc vào
chủng loại hàng hóa hay dịch vụ chính. Nó đóng vai trò quan trọng trong các sản
phẩm có hàm lượng công nghệ cao (ô tô, máy tính, thiết bị điện tử viễn thông, thiết
bị y tế, v.v.) hay cung cấp dịch vụ phức tạp, công nghệ và tính chuyên môn hóa cao
như ngân hàng, điện tử viễn thông. Phương tiện cạnh tranh dịch vụ có ý nghĩa trong
mọi giai đoạn của thị trường. Tuy nhiên, ở giai đoạn thoái trào, vai trò của dịch vụ
thể hiện rõ nét hơn vì nó có thể nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trước nguy
cơ bị thay thế bởi những hàng hoa/dịch vụ tiềm năng khác. Nó bổ sung cho cạnh