Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập - Pdf 11

lời mở đầu
Phát triển kinh tế theo hớng mở cửa thị trờng, từng bớc tham gia hội nhập với
nền kinh tế khu vực và thế giới, đã, đang và sẽ tạo ra những cơ hội cho các doanh
nghiệp Việt nam nói chung và các doanh nghiệp thơng mại nói riêng mở rộng và
phát triển đợc thị trờng mới, tiếp cận trực tiếp với thị trờng nguồn, giảm bớt khâu
trung gian và gia tăng thị phần trên thị trờng nội địa cũng nh trên thị trờng thế
giới. Bên cạnh đó họi nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới cũng đang đặt ra
những thách thức cho các doanh nghiệp Việt nam nói chung và các doanh nghiệp
thơng mại nói riêng trớc cuộc cạnh tranh khốc liệt nhằm gành giật khách hàng và
mở rộng thị phần cả trên thị trờng nội địa và thị trờng thế giới, trong đó thử thách
nổi bật vẫn là các doanh nghiệp Việt nam sẽ phải cạnh tranh với hàng loạt các
công ty đa quốc gia có nhiều kinh nghiệm và trình độ quản lý kinh doanh, có tiềm
lực tài chính, công nghệ, có mạng lới tiêu thụ khắp toàn cầu.
Tuy vậy, dới tác động của hàng loạt các chính sách và biện pháp hỗ trợ của
Chính phủ, các doanh nghiệp thơng mại cũng từng bớc tăng trởng và thích nghi
dần với môi trờng cạnh tranh, song số doanh nghiệp thơng mại hoạt động hiệu
quả còn ít và nhỏ bé, sức cạnh tranh còn rất yếu ớt. Một trong những nguyên nhân
cơ bản của tình trạng trên bắt nguồn từ thực trạng hệ thống kinh doanh thơng mại
trên thị trờng bị rời rạc, cắt khúc, manh mún, không có sự liên kết và hợp tác ổn
định, trong đó cơ cấu của hệ thống kinh doanh chỉ mới tồn tại và hoạt động ở
phạm vi quy mô nhỏ và vừa, mang đặc điểm thích ứng và điều tiết thị trờng sẵn có
mà cha có khả năng liên kết, hợp tác dài hạn để hình thành và mở rộng thị trờng
cả trong và ngoài nớc. Trên thực tế, cấu trúc của thị trờng đang thiếu hụt cơ cấu
chủ đạo của hệ thống kinh doanh thơng mại có khả năng liên kết ổn định với các
thành tố kinh tế khác để hình thành các hệ thống kinh doanh thơng mại gắn liền
với nhãn hiệu thơng mại, quy mô hoạt động không chỉ trên toàn bộ quy mô thị tr-
ờng nội địa mà cả trên thị trờng thế giới, theo đuổi các chiến lợc cạnh tranh quốc
tế là các doanh nghiệp th ơng mại quy mô lớn, vừa có khả năng hình thành và
mở rộng thị trờng tiêu thụ cho các sản phẩm sản xuất trong nớc, liên kết với sản

1

doanh nghiệp Thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
Chơng2: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp thơng mại ở thị trờng Việt
Nam giai đoạn 1995 2001
Chơng 3: Một số giải pháp năng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
thơng mạiViệt Nam trong quá trình hội nhập
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo, các anh chị Ban thị trờng và các
phòng ban khác trong Viện nghiên cứu Thơng mại, Thầy giáo: ThS . Trịnh Anh
Đức đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn
thành tốt chuyên đề này.3
Phần nội dung
Chơng I: Cơ sở lý luận về Doanh nghiệp thơng mại và
cạnh tranh của các doanh nghiệp Thơng mại trong
nền kinh tế thị trờng.
I. Doanh nghiệp thơng mại và cạnh tranh của Doanh nghiệp Thơng mại
trong nền kinh tế thị trờng.
1. Khái quát chức năng, đặc điểm của doanh nghiệp.
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế đợc thành lập nhằm mục đích chủ yếu là
thực hiện các hoạt động kinh doanh. Qua khái niệm này chúng ta có đợc những
đặc điểm chung của doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp là các tổ chức, các đơn vị đợc thành lập theo quy định của
pháp luật để chủ yếu tiến hành các hoạt động kinh doanh.
- Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh có quy mô đủ lớn (vợt quy mô
của các cá thể, các hộ gia đình) nh hợp tác xã, công ty, xí nghiệp, tập đoàn.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống, theo nghĩa nó cũng có vòng đời với các
bớc thăng trầm, suy giảm, tăng trởng, phát triển hoặc bị diệt vong.
Chức năng của doanh nghiệp

chuyên làm nhiệm vụ buôn bán mà các đơn vị đảm nhiệm sản xuất và cung ứng
dịch vụ.

5
2. Cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp.
2.1. Khái niệm.
Xét từ góc độ tổng thể nền kinh tế, cạnh tranh trong cơ chế kinh tế thị trờng
có thể đợc hiểu là cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng
nhằm giành giật các lợi ích kinh tế về mình.
Xét ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đợc Mác đề
cập nh sau: Cạnh tranh t bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà t bản nhằm thu hút những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch (kinh tế chính trị tập II). ở đây, Mác đã đề
cập đến vấn đề cạnh tranh trong một không gian hẹp chủ nghĩa t bản. Lúc này
cạnh tranh đợc xem là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại, quan niệm về cạnh
tranh đợc nhìn nhận từ góc độ khá tiêu cực.
ở nớc ta, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây, cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp đợc hiểu một cách cứng nhắc. Trong một thời kỳ dài, chúng ta chỉ
nhìn thấy mặt trái của cạnh tranh, phê phán cạnh tranh, coi cạnh tranh là doanh
nghiệp mạnh đè bẹp doanh nghiệp yếu mà cha thấy đợc mặt tích của cạnh tranh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, quan niệm về cạnh tranh của các doanh
nghiệp ở nớc ta đã đợc thay đổi. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều thừa
nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là môi trờng và động lực của sự phát triển kinh
tế xã hội. Cạnh tranh của các doanh nghiệp đợc quan niệm là cuộc đấu tranh gay
gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ để thu đợc lợi nhuận
lớn nhất đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Chúng ta cũng có thể
hiểu theo nghĩa chung nhất cạnh tranh của các doanh nghiệp là sự ganh đua giữa
các doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng hoặc thị trờng mà kết quả cuối
cùng là để tiêu thụ đợc ngày càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao.

d. Xét theo phạm vi ngành kinh tế ng ời ta chia ra:

7
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa, nhằm mục
đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp hay
đồng minh, giữa các nhà doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm
giành giật lợi nhuận cao nhất.
e. Xét theo phạm vi lãnh thổ: ngời ta nói tới cạnh tranh trong nớc và cạnh
tranh quốc tế. Cần lu ý rằng cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay trong thị tr-
ờng nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nớc sản xuất với hàng ngoại
nhập (nhất là hàng nhập lậu).
2.3. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trờng cùng với sự tự do
trong sản xuất kinh doanh, sự đa dạng hoá kiểu hình và nhiều thành phần kinh tế,
nhiều chủ thế kinh tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp sẽ xuất hiện. Lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp là cội nguồn
cho cạnh tranh. Cạnh tranh là bất khả kháng trong cơ chế kinh tế thị trờng. Khác
với cạnh tranh để đoạt một giải thởng nào đó, cạnh tranh về mặt kinh tế là một
cuộc chạy đua không có đích giữa các doanh nghiệp, là một cuộc chạy đua không
đơn cuộc, không phải một lần rồi thôi mà là một quá trình liên tục. Cạnh tranh về
mặt kinh tế của doanh nghiệp để giành thắng lợi hai mục đích đó là: Cạnh tranh
để giành thắng lợi giữa các doanh nghiệp với nhau và cạnh tranh để tiêu thụ đợc
hàng hoá, giành đợc thị trờng hay là cạnh tranh giữa ngời mua với ngời bán.
Trong cơ chế kinh tế thị trờng, cạnh tranh không chỉ có vai trò quan trọng đối với
doanh nghiệp khi tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối
với ngời tiêu dùng cũng nh đối với toàn xã hội.
2.3.1. Đối với doanh nghiệp
- Trong cơ chế kinh tế thị trờng, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát


9
Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực mà cạnh tranh tạo ra cho xã hội, chúng
ta cũng phải thừa nhận những mặt tiêu cực của cạnh tranh.
- Cạnh tranh không lành mạnh sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực.
- Vì bị cuốn hút bởi các mục tiêu của cạnh tranh, các doanh nghiệp đã không
chịu những chi phí cho việc xử lý các chất thải, ô nhiễm môi trờng và các vấn đề
xã hội khác.
- Cạnh tranh có thể làm lãng phí nguồn lực.
- Cạnh tranh có thể có xu hớng dẫn đến độc quyền ..v..v
2.4. Mục đích cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào
đợc bán đều chịu sức ép của cạnh tranh. Cạnh tranh của sản phẩm cùng loại của
các đối thủ khác hoặc cạnh tranh của các sản phẩm thay thế. Sản xuất hàng hoá
ngày càng phát triển, số lợng những nhà cung ứng cũng nh số lợng các doanh
nghiệp ngày càng nhiều, khối lợng hàng hoá đợc cung ứng trên thị trờng ngày
càng tăng thì tình hình cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Lúc đó, thị trờng là vũ đài
của cạnh tranh, là nơi gặp gỡ các đối thủ là các chủ thể kinh doanh mà kết quả là
sẽ có một số doanh nghiệp bị thu hẹp thị trờng của mình, thậm chí bị gạt bỏ ra
khỏi thị ửờng, trong khi đó có một số doanh nghiệp khác lại mở rộng thị trờng và
ngày càng phát triển. Xã hội vẫn tiếp tục phát triển, nhu cầu thị trờng ngày càng
nâng cao và cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì liên tục tiếp diễn. Vẫn có
thể có các doanh nghiệp thành công ở cuộc cạnh tranh này, nhng họ lại bị thất bại
ở chặng đờng tiếp theo, nếu họ không có chiến lợc kinh doanh và các biện pháp
nhằm nâng cao năng lực một cách đúng đắn, thích hợp. Nh vậy, cạnh tranh là một
điều kiện và yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trờng và động lực thúc đẩy sản
xuất hàng hoá, là nội dung cơ chế vận động của thị trờng.
Dù trong hoàn cảnh nào thì mục đích bao trùm của cạnh tranh của doanh
nghiệp vẫn là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, là làm tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp. Từ mục đích cuối cùng đó, trong từng điều kiện hoàn

chất xám cao, giá cả cạnh tranh có nh vậy doanh nghiệp mới tồn tại đợc.

11
II. Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể tự
duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và có ý chí trên thị trờng cạnh tranh, bảo
đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những
mục tiêu của doanh nghiệp.
Nh chúng ta đã biết, thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trờng
phổ biến trong thực tế. Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trờng cạnh tranh đều có
một vị trí nhất định của nó. Vì thế, nếu một doanh nghiệp tham gia vào thị trờng
mà không có năng lực cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh yếu thì sẽ không thể
tồn tại đợc. Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp phải là một quá
trình lâu dài, nếu không muốn nói vĩnh viễn nh quá trình duy trì sự sống.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh
tranh cũng phải nhận thức đợc hiện tại mình có khả năng cạnh tranh trên thị trờng
hay không. Nghĩa là hàng hoá của mình có thể bán đợc không và rằng về lâu dài
việc bán hàng có mang lại nhiều lợi nhuận cho mình hay không. Doanh nghiệp
phải thờng xuyên xem xét đánh giá những mặt mà doanh nghiệp có thể làm đợc
tốt hơn so với các đối thủ. Rõ ràng là để doanh nghiệp có khả năng tích luỹ về sức
cạnh tranh trên thị trờng, cần phải có ý chí lâu dài để duy trì và phát triển các lợi
thế cạnh tranh, nhằm nâng cao năng suất và đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao,
một mục tiêu phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào đã tham gia kinh doanh trên
thơng trờng. Một mặt, doanh nghiệp phải đảm bảo tính lâu dài, mặt khác phải lấy
chỉ số tổng hợp về thị phần chiếm đợc làm tiêu biểu. Từ đó doanh nghiệp có thể
đạt đợc lợi nhuận cao và có thể lấy đó làm mục tiêu cần đạt đợc.
2. Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.

cạnh tranh rất yếu. Rất nhiều doanh nghiệp đã không đứng vững đuợc trớc sự
chuyển đổi của nền kinh tế. Các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra yếu thế hơn so với
các doanh nghiệp nớc ngoài. Hàng hoá sản xuất trong nớc bị hàng hoá nớc ngoài
cạnh tranh gay gắt và chèn ép điêu đứng. Hơn thế nữa, các hình thức kinh doanh,

13
cách làm ăn của các doanh nghiệp trong nớc thờng mang tính chụp giật, đánh quả,
cạnh tranh không lành mạnh. Một thực tế là ít có doanh nghiệp Việt Nam có
chiến lợc kinh doanh riêng cho mình.
Trớc một thực tế khách quan của cạnh tranh trong cơ chế thị trờng và thực trạng
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thì việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là cần thiết khách quan. Thực chất tăng năng lực cạnh tranh
là tạo ra một hay nhiều hơn các u thế về các mặt nh: Giá cả, giá trị sử dụng của sản
phẩm, chất lợng sản phẩm, các dịch vụ, uy tín. Cụ thể là các doanh nghiệp sẽ phải áp
dụng các biện pháp làm giảm chi phí sản xuất, từ đó giảm giá thành đơn vị sản phẩm
và có thể giảm giá bán, áp dụng các công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến, sử dụng
các yếu tố đầu vào có chất lợng và áp dụng các biện pháp quản lý để nâng cao chất l-
ợng sản phẩm và hoàn thiện mạng lới tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp còn
phải áp dụng một số biện pháp khác thông qua các công cụ cạnh tranh khác. Vì vậy,
có thể nói tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là làm thay đổi mối tơng quan
về thế và lực của doanh nghiệp trên thị trờng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh.
3. Các yếu tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
3.1.1. Nhóm các nhân tố thuộc môi tr ờng vĩ mô.
a. Các nhân tố về mặt kinh tế.
Các yếu tố về mặt kinh tế có vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất đối với
việc hình thành và hoàn thiện môi trờng kinh doanh. Đồng thời các yếu tố này
cũng có vai trò ảnh hởng to lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nớc ta tăng trởng với tốc độ cao làm

doanh nghiệp, qua đó tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá nói riêng và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung. Đối với các nớc chậm và đang
phát triển, giá cả và chất lợng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy nhiên,
trên thế giới hiện nay, công cụ cạnh tranh đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang
cạnh tranh về chất luợng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm luợng
khoa học và công nghệ cao.

15
d. Các nhân tố về văn hoá xã hội.
Phong tục tập quán lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tín ngỡng tôn
giáo, ảnh hởng đến cơ cấu của nhu cầu thị trờng và do đó nó sẽ ảnh hởng đến điều
kiện kinh doanh của các doanh nghiệp. Những khu vực khác nhau mà ở đó thị
hiếu, nhu cầu của ngời tiêu dùng khác nhau đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính
sách sản phẩm và chính sách tiêu thụ khác nhau. Sự phù hợp của các điều kiện
kinh doanh của các doanh nghiệp với các yếu tố và văn hoá xã hội của một thị tr-
ờng nào đó sẽ góp phần làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1.2. Nhóm các nhân tố thuộc môi tr ờng vi mô.
a. Khách hàng.
Những khách hàng mua sản phẩm của một ngành nào đó có thể làm giảm lợi
nhuận của ngành nào đó bằng việc yêu cầu chất lợng sản phẩm cao hơn hoặc dịch
vụ sau bán hàng nhiều hơn hoặc có thể cùng doanh nghiệp này chống lại doanh
nghiệp kia. Nh vậy, khách hàng cũng tác động đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
b. Số l ợng các DN trong ngành và c ờng độ cạnh tranh của ngành.
Số lợng các doanh nghiệp trong ngành và các đối thủ ngang sức tác động rất
lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một vấn đề cần xem xét là số lợng
doanh nghiệp cạnh tranh ngang nhau và các doanh nghiệp đó có quy mô, thế lực
thế nào. Các ngành mà có một hoặc vài doanh nghiệp thống lĩnh thì cờng độ cạnh
tranh ít hơn bởi các doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò là ngời chỉ đạo giá.
Trong trờng hợp này, nếu doanh nghiệp không phải là ngời thống lĩnh giá thì năng

ợc quyền có khả năng đáp ứng.
- Nếu doanh nghiệp không có nguồn cung cấp nào khác thì doanh nghiệp sẽ
yếu thế hơn trong mối tơng quan thế và lực với nhà cung ứng hiện có.
- Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng, có
nghĩa là nếu nhà cung ứng đó không bán đợc hàng hoá cho doanh nghiệp thì tổn
thất của họ là không đáng kể.
- Loại vật t mà nhà cung ứng bán cho doanh nghiệp là đầu vào quan trọng
của doanh nghiệp, đặc biệt là khi loại vật t đó có tính quyết định đến quá trình

17
sản xuất hoặc quyết định đến chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp. Khi đó nhà
cung cấp có thế lực đáng kể đối với doanh nghiệp.
Với các trờng hợp trên thì nhà cung cấp buộc các doanh nghiệp mua với giá
cao các yếu tố đầu vào, khi đó chi phí sản xuất tăng lên, giá thành đơn vị tăng, lợi
nhuận giảm hoặc doanh nghiệp không thể mua đợc nguyên vật liệu để sản xuất,
không có sản phẩm bán ra làm cho sức cạnh tranh của doanh nghiệp giảm đi đáng
kể.
Để giảm bớt các ảnh hởng xấu từ các nhà cung ứng, các doanh nghiệp cần có
mối quan hệ tốt với họ, hoặc doanh nghiệp mua vật liệu từ nhiều nguồn cung cấp
trong đó chọn ra một nguồn cung ứng chính, nghiên cứu tìm ra nguyên vật liệu
thay thế, dự trữ nguyên vật liệu.
e. Sức ép của sản phẩm thay thế.
Sự ra đời của sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự phát triển
của nhu cầu thị trờng theo hớng ngày càng đa dạng phong phú và cao cấp hơn.
Sản phẩm thay thế làm giảm đi tính cần thiết, mức độ quan trọng của các sản
phẩm bị thay thế.
Sản phẩm thay thế hầu hết đợc sản xuất trên những dây chuyền máy móc
tiên tiến hơn, do đó nó có sức cạnh tranh cao hơn. Mặc dù các sản phẩm thay thế
chịu sự chống trả của các sản phẩm bị thay thế nhng các sản phẩm này có nhiều u
thế hơn và chúng sẽ dần dần thu hẹp thị trờng của các sản phẩm bị thay thế, đặc

dẫn đến giá thành sản phẩm cao.
3.2.3. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp, theo cấp quản trị, có thể
đuợc chia thành các nguồn sau: Ban Giám đốc doanh nghiệp - Cán bộ quản lý ở
cấp doanh nghiệp - Cán bộ quản lý ở cấp trung gian, đốc công và đội ngũ công
nhân
a. Ban Giám đốc doanh nghiệp.

19
Ban Giám đốc doanh nghiệp là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong
doanh nghiệp, những nguời vạch ra chiến luợc, trực tiếp điều hành, tổ chức thực
hiện công việc kinh doanh cuả doanh nghiệp.
Các thành viên Ban giám đốc ảnh hởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu các thành viên của ban giám đốc có trình độ chuyên môn cao,
kinh nghiệm phân tích đánh giá năng động, sáng tạo, có mối quan hệ với bên
ngoài tốt thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ những lợi ích truớc mắt
nhu tăng doanh thu, lợi nhuận, mà còn nâng cao uy tín doanh nghiệp - lợi ích lâu
dài. Đây là yếu tố quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
b. Độ ngũ cán bộ cấp doanh nghiệp.
Họ là những ngời điều hành các kế hoạch tác nghiệp của Công ty, có kinh
nghiệm công tác, phong cách quản lý tốt, khả năng ra quyết định chính xác, kịp
thời, biết xây dựng êkíp quản lý và hiểu biết nhiều về kinh doanh thì sẽ là một lợi
thế rất lớn cho doanh nghiệp. Mặt khác các cán bộ quản lý với những trình độ
hiểu biết rộng các kiến thức chuyên môn khác nhau có thể tạo ra nhiều ý tuởng
sáng tạo, nhanh nhạy với sự thay đổi, điều này góp phần to lớn cho sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
c. Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân.
Đây là lực luợng lao động trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hàng hoá cho doanh
nghiệp. Họ có vai trò to lớn trong việc đảm bảo chất luợng sản phẩm. Trình độ tay

đó thơng mại nhà nớc đợc sắp xếp lại, về cơ bản đã thể hiện đợc vai trò nòng cốt ở
những mặt hàng trọng yếu, ở những khâu và lĩnh vực then chốt, thơng mại tập thể
bớc đầu đợc chú ý khôi phục nhằm thích ứng với cơ chế thị trờng, thơng mại
ngoài quốc doanh dới hình thức các doanh nghiệp t bản nhà nớc, doanh nghiệp
100% vốn đầu t nớc ngoài đợc xác lập và hoạt động có kết quả tất cả tạo nên một
thị trờng phức tạp, đan xen nhiều thành phần và nhiều loại hình thơng nhân.
Thứ ba, mạng lới kinh doanh thơng mại dịch vụ tiếp tục đợc mở rộng trên cả
ba địa bàn: thành thị, nông thôn và miền núi, thu hút sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế với nhiều qui mô và hình thức tổ chức khác nhau. Kênh lu thông một
số mặt hàng đã bớc đầu đợc định hình và củng cố với sự tham gia đông đảo của

22
các loại hình thơng nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, bớc đầu góp phần thúc
đẩy sản xuất hàng hóa phát triển gắn sản xuất với tiêu thụ, gắn hàng hóa với thị tr-
ờng, gắn thị trờng trong nớc với thị trờng quốc tế.
Thứ bốn, hệ thống quản lý nhà nớc về thơng mại đợc quan tâm hơn và từng
bớc đợc đổi mới về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy. Hành lang pháp lý
cho lu thông hàng hóa và hoạt động của thơng nhân ngày một đợc bổ sung và
hoàn thiện. Trật tự, kỷ cơng trên thị trờng đợc khôi phục đáng kể, hoạt động buôn
lậu, gian lận thơng mại, kinh doanh trái phép bớc đầu bị kiềm chế, góp phần bảo
vệ sự tăng trởng của sản xuất, hiệu quả của kinh doanh thơng mại và lợi ích của
ngời tiêu dùng.
Thứ năm, khả năng cạnh tranh của hàng hóa nói chung còn yếu, nhiều mặt
hàng công nghiệp còn đơn điệu, cũ kỹ về mẫu mã và qui cách, chất lợng thấp và
giá thành cao, phần lớn mặt hàng nông sản cũng trong tình trạng tơng tự, lại ít
hoặc cha qua chế biến, do vậy vị thế phổ biến của hàng hóa là khá cạnh tranh với
hàng nớc ngoài và khó tiêu thụ ngay với thị trờng trong nớc. Vấn đề "đầu ra" cho
nông sản hàng hóa thờng xuyên là vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nền kinh tế.
Tình trạng d thừa lu chuyển ách tắc, tồn kho ứ đọng lớn chỉ số giá tiêu dùng
không tăng thậm chí còn giảm, dấu hiệu thiểu phát và trì trệ xuất hiện đã làm

18,85
15,03%
313623
48914
15,60
15,29
13,42%
361016
35783
15,45
15,11
14,04
399942
59384
14,85
10,78
6,54
444139
64460
14,51
11,05%
8,55
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Số liệu trên cho thấy tỷ lệ đóng góp của thơng mại vào GDP qua các năm lần
lợt là năm 1996 thơng mại đóng góp 15,85% GDP, năm 1997 là 15,60%, năm
1998 là 14,45% năm 1999 là 14,85% năm 2000 là 14,51%. Trung bình mỗi năm
đóng góp 15,18% vào GDP. Đây là một đóng góp khá quan trọng trong việc thúc
đẩy tăng trởng nền kinh tế thời gian qua. Mục tiêu tăng trởng không thể không
xem xét tới việc tăng trởng của thơng mại. Tốc độ tăng trởng của GDP giảm dần.
Năm 1996 tốc độ GDP là 18,85% giảm xuống còn 10,78% năm 1999. Nguyên

thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và phát triển với tốc độ khá cao . Từ đó nâng cao
đợc đời sống nhân dân. Tính đến năm 2001 GDP đầu ngời ớc đạt 400 USD gấp
gần hai lần so với năm 1991. Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân đợc nâng
cao. Nớc ta đã đợc thế giới công nhận chuẩn về phổ cập giáo dục từ năm 2000.
Đó là thành công lớn của nớc ta. Về y tế cũng có những bớc thay đổi đãng kể, số
lợng các bệnh viên phòng khám tăng nhanh với nhữnh tranh thiết bị hiện đại,số l-
ợng các gờng bệnh đã tạm đủ đáp ứng nhu cầu của nhân dân về khám chữa

25

Trích đoạn Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp doanh: Doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài Tình hình hoạt động của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp thơng mại t nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status