LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế HOÀN THIỆN kế TOÁN DOANH THU bán HÀNG tại các DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG điều KIỆN hội NHẬP KINH tế QUỐC tế - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của các quốc gia trong thời đại ngày
nay. Quá trình toàn cầu hóa khu vực và thế giới đã dẫn đến hội nhập kinh tế
trên phạm vi quốc tế. Trong xu thế đó, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức
đúng đắn tầm quan trọng của vấn đề mang tính thời đại nên đã chủ động thực
hiện đường lối mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc tế.
Quá trình hội nhập được diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Quá trình hội
nhập về kinh tế đã làm cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói
chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng trở nên sôi động, đa dạng và
ngày càng đạt được những thành tựu to lớn. Quá trình này đã tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với các phương thức giao dịch mua
bán trên thị trường thế giới. Bên cạnh phương thức giao dịch mua bán thông
thường, trên thị trường thế giới còn diễn ra những giao dịch đặc biệt, đó là
giao dịch mua bán hàng hóa ở thị trường giá cả tương lai; mặt khác, sự phát
triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cùng với những ứng dụng đa dạng của
Internet đã xuất hiện loại hình thương mại điện tử bên cạnh hình thức thương
mại truyền thống. Bên cạnh đó, các công cụ tài chính như Hợp đồng kỳ hạn,
Hợp đồng hoán đổi, Hợp đồng quyền chọn v.v... đã bước đầu được áp dụng ở
Việt Nam, cho phép các doanh nghiệp áp dụng để dự phòng rủi ro hối đoái,
đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp trước sự biến động của tỷ giá ngoại tệ. Hệ
quả của các quá trình này đã dẫn đến một số những vấn đề cần được thay đổi và
bổ sung trong kế toán các nghiệp vụ nói chung và doanh thu bán hàng nói riêng.
Quá trình hội nhập về kinh tế dẫn đến hội nhập trong lĩnh vực kế toán
là một tất yếu khách quan, được xem là một trong những cơ sở nền tảng và
tiền đề đối với sự thành công của quá trình hội nhập. Quá trình này đã tạo cơ
hội cho Việt Nam tiếp cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế và các nước có




3

+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu bán hàng trong
điều kiện hội nhập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về kế toán doanh
thu bán hàng hóa của kế toán Việt Nam, kế toán quốc tế và một số nước điển
hình trên thế giới.
- Luận án nghiên cứu thực tiễn kế toán doanh thu bán hàng ở các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam nói riêng và doanh nghiệp thương
mại Việt Nam nói chung, trong đó chú trọng đến các doanh nghiệp Nhà nước.
Những nội dung hoàn thiện của luận án, trên góc độ kế toán tài chính là hoàn
thiện chung cho loại hình doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp thương mại
có chức năng xuất nhập khẩu; trên góc độ kế toán quản trị, luận án chỉ tập trung
hoàn thiện mô hình tổ chức kế toán quản trị doanh thu và xây dựng dự toán
doanh thu bán hàng trong doanh nghiệp, bởi đây được xem là nội dung quan
trọng có tính đặc thù của kế toán quản trị doanh thu. Còn những nội dung khác
của kế toán quản trị doanh thu sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
này do đã được đề cập trong nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được công bố.
- Các nghiệp vụ xuất khẩu đề cập trong luận án chỉ giới hạn trong
trường hợp các bên tham gia xuất nhập khẩu là chủ thể chính thức của hợp
đồng mua bán ngoại thương. Luận án không đề cập đến các trường hợp giao
dịch tái xuất trong xuất nhập khẩu. Luận án cũng không đề cập đến kế toán
doanh thu cung cấp dịch vụ và các khoản thu nhập khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa hệ thống, đảm bảo
tính logic và tính thực tiễn của giải pháp.

6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Nội dung của luận án gồm 3 chương, 11 tiết.


5

Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1. DOANH THU VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN DOANH THU TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH DOANH

1.1.1. Doanh thu và phân loại doanh thu trong doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm doanh thu
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản của doanh nghiệp được
vận động qua các giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất. Tài sản vận
động qua các giai đoạn nào tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp, nhưng
nhìn chung khi tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng hóa sang
hình thái tiền tệ (H - T) chính là lúc mà doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng
và doanh thu đã được tạo ra. Vậy doanh thu là gì?
Theo Học viện đào tạo các kế toán viên công cộng của Mỹ (AICPA)
thì "Doanh thu là tổng số gia tăng tài sản hay là sự giảm gộp các khoản nợ
được công nhận và được định lượng theo đúng các nguyên tắc kế toán được
chấp thuận, là kết quả của các loại hoạt động có lợi nhuận của doanh nghiệp
và có thể làm thay đổi vốn chủ sở hữu" [29, tr. 133]. Trong phần giải thích
tiếp theo, AICPA đã chỉ rõ doanh thu được cấu thành từ ba hoạt động, đó là bán
sản phẩm, thực hiện các dịch vụ và bán các nguồn tài sản khác ngoài sản

VAS 01 "Chuẩn mực chung". Theo chuẩn mực VAS 01, "Doanh thu và thu
nhập khác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt
động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao
gồm khoản vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu". Trong chuẩn mực VAS 14,
đưa ra khái niệm cụ thể về doanh thu và khái niệm về thu nhập khác dựa trên
nền tảng được quy định trong chuẩn mực chung. Tuy nhiên vẫn còn có khác
biệt ở chỗ, Việt Nam coi các khoản thu phát sinh từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh thông thường là doanh thu, còn các khoản thu từ hoạt động ngoài
các hoạt động tạo ra doanh thu là thu nhập khác. Sự khác biệt này không phải
là vấn đề cơ bản và vẫn đảm bảo tính thống nhất của khái niệm về doanh thu
nói chung.


9

Từ những vấn đề đã phân tích và trình bày ở trên, chúng tôi có thể rút
ra kết luận quan trọng khi nghiên cứu khái niệm về doanh thu, theo chúng tôi
thì bản chất của doanh thu chỉ bao gồm giá trị các lợi ích kinh tế đã nhận được
và có thể nhận được của riêng doanh nghiệp, các khoản thu hộ không phải là
nguồn lợi kinh tế của doanh nghiệp và không làm tăng vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp thì không được coi là doanh thu. Mặt khác, qua nghiên cứu nội
hàm của khái niệm doanh thu, có thể thấy việc nghiên cứu doanh thu không
chỉ đơn thuần là xác định giá trị lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, mà phải gắn
liền với nghiên cứu thời điểm mà doanh nghiệp thu được thu được lợi ích
kinh tế đó - nói cách khác đó là thời điểm xác định doanh thu. Nội dung này
chúng tôi sẽ đề cập cụ thể trong mục 1.3.1 của luận án.
1.1.1.2. Phân loại doanh thu trong doanh nghiệp
Để thuận tiện cho công tác quản lý và kế toán doanh thu, doanh thu có
thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu

gửi bán đại lý theo hợp đồng ký kết.
Phân loại doanh thu theo cách này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác
định được tổng mức lưu chuyển hàng hóa theo từng loại, từ đó hoạch định
được mức luân chuyển hàng hóa, xây dựng mức dự trữ hàng hóa cần thiết,
tránh được tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, phân theo phương thức thanh toán tiền hàng
Doanh thu bán hàng được chia thành doanh thu bán hàng thu tiền
ngay, doanh thu bán hàng trả chậm, doanh thu bán hàng trả góp, doanh thu
nhận trước.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp lập dự toán số tiền thu được
trong kỳ, là cơ sở để xây dựng dự toán về thanh toán các khoản công nợ và
chi phí trong kỳ của doanh nghiệp. Ngoài ra, cách phân loại này giúp cho việc
phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng, là căn cứ quan trọng
để xác định mức dự phòng phải thu khó đòi.
Thứ tư, phân theo mối quan hệ với điểm hòa vốn


11

Doanh thu bán bán hàng được chia thành hai loại, đó là doanh thu hòa
vốn và doanh thu an toàn. Trong đó, doanh thu hòa vốn là doanh thu của khối
lượng bán ở điểm hòa vốn; doanh thu an toàn là phần chênh lệch của doanh
thu thực hiện được với doanh thu hòa vốn.
Cách phân loại này giúp nhà quản trị nhận thức được những vấn đề cơ
bản và trực quan về tình hình kết quả kinh doanh nói chung và của nhóm, mặt
hàng, bộ phận nói riêng; xác định được phạm vi lời, lỗ cũng như đo lường được
mức độ an toàn hay tính rủi ro trong kinh doanh của từng nhóm, mặt hàng hay
bộ phận kinh doanh.
Thứ năm, phân theo mối quan hệ với khu vực địa lý

kết quả kinh doanh hợp nhất.
Ngoài các tiêu thức phân loại trên, doanh thu bán hàng còn có thể
được phân loại thành doanh thu thực tế, doanh thu bị giảm trừ và doanh thu
thuần v.v... Nhìn chung, mỗi cách phân loại doanh thu đều có ý nghĩa nhất
định đối với nhà quản trị doanh nghiệp. Do đó, tùy thuộc vào yêu cầu của nhà
quản trị doanh nghiệp mà kế toán thực hiện tổ chức thu thập, xử lý và cung
cấp thông tin về doanh thu theo những cách thức nhất định.
1.1.2. Vai trò và nhiệm vụ kế toán doanh thu trong các doanh nghiệp
Kế toán là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các công cụ quản lý
kinh tế tài chính. Ở góc độ quản lý, kế toán có vai trò tích cực trong điều
hành, kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính; ở góc độ cung cấp thông tin, kế
toán đảm nhận chức năng cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính
của doanh nghiệp cho những người sử dụng thông tin để họ đưa ra quyết định
kinh tế đối với doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, kế toán có vai
trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp, mà còn hết sức
cần thiết cho những người có lợi ích trực tiếp hay gián tiếp đối với hoạt động của
doanh nghiệp. Kế toán doanh thu là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế
toán doanh nghiệp, cung cấp thông tin về toàn bộ tình hình doanh thu bán
hàng của doanh nghiệp. Thông tin về doanh thu được xem là một trong những


13

dòng thông tin quan trọng nhất để người sử dụng thông tin phân tích, đánh giá
tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và của từng loại
hoạt động, sản phẩm, hàng hóa, bộ phận nói riêng. Qua đó đánh giá được khả
năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp và khả năng đạt
được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đưa ra. Do vậy, kế toán doanh thu
trong doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán nói
riêng và công tác quản lý nói chung.

- Tổ chức lập báo cáo doanh thu theo yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp, tổ chức phân tích báo cáo, lập dự toán doanh thu, tư vấn cho chủ
doanh nghiệp và giám đốc lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả v.v...
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.2.1. Những ảnh hưởng của quá trình hội nhập đến hoạt động
kinh doanh và lĩnh vực kế toán doanh nghiệp
Trong bối cảnh xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế đang phát
triển mạnh mẽ, Việt Nam đã có những chủ trương và chính sách nhất quán
cho việc tham gia tiến trình hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế. Quá
trình hội nhập này đã làm cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
ngày càng phong phú, đa dạng. Quá trình này đã tạo ra cho các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng những cơ hội
thuận lợi để mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa, tăng thêm bạn
hàng, phát triển thị trường ở cả trong và ngoài nước. Không những vậy còn
có thể thu hút, sử dụng các dòng vốn quốc tế và kéo theo dòng chảy của vốn
là kỹ thuật công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý tiên tiến, mở ra điều kiện
cho Việt Nam tham gia sâu sắc vào hệ thống phân công lao động quốc tế.
Trên cơ sở đó phát huy được lợi thế của quốc gia, bổ sung những yếu kém
của nền sản xuất trong nước, tiết kiệm lao động xã hội, tận dụng tốt các


15

nguồn lực cho phát triển, góp phần đẩy nhanh sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế. Tuy nhiên, trong điều kiện này, mỗi doanh nghiệp cũng phải đứng
trước những thử thách lớn như phải đương đầu với cuộc cạnh tranh ngày
càng gay gắt, khốc liệt diễn ra trên khu vực và toàn cầu, trong khi đó các
doanh nghiệp của Việt Nam còn nhỏ và yếu, yếu cả về khả năng quản lý

trường có thể làm ảnh hưởng đến lợi nhuận dự tính của doanh nghiệp. Ngoài
ra, quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế toàn cầu cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học công nghệ thông tin, lĩnh vực thương mại điện tử phát triển ngày
một mạnh mẽ. Phạm vi hoạt động của thương mại điện tử dần bao quát gần như
mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Thương mại điện tử phát triển đã tạo
ra cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu một thị trường không biên giới, là điều
kiện để gia tăng các đối tác kinh doanh, mở rộng cung ứng tiêu thụ hàng hóa,
nâng cao doanh số bán và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mặt khác, cùng với việc
tiếp cận phương thức giao dịch mua bán đặc biệt, việc áp dụng thương mại điện
tử vào quá trình kinh doanh mua bán, là sự xuất hiện của các công cụ tài chính
như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn v.v... cho phép
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu áp dụng để dự phòng rủi ro hối đoái, đảm bảo
an toàn cho doanh nghiệp trước sự biến động của tỷ giá ngoại tệ.
Quá trình hội nhập kinh tế đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong cơ
chế quản lý kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - mà kế
toán được xem là một trong những công cụ quản lý quan trọng. Hội nhập về
kinh tế dẫn đến hội nhập trong lĩnh vực kế toán là một tất yếu khách quan,
quá trình này đã tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp cận với các chuẩn mực kế toán
quốc tế và các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, tiếp cận với các
phương pháp và kỹ thuật kế toán hiện đại trên thế giới. Trên cơ sở đó Việt
Nam ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán có các quy định phù hợp và thống
nhất với thông lệ quốc tế, tạo ra sự hòa nhập và công nhận kế toán Việt Nam
trên trường quốc tế; đồng thời đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm, đặc thù phát
triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện tại và tương lai. Điều này có ý nghĩa to lớn góp phần thúc đẩy việc mở
cửa, hội nhập nền kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới.


17



- Bán lẻ hàng hóa: Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu
dùng hoặc cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang
tính chất tiêu dùng nội bộ. Đặc điểm của phương thức này là hàng hóa đã
thoát khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Bán lẻ thường bán
đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Bản lẻ có thể được thực
hiện dưới các hình thức như bán lẻ thu tiền tập trung, bán lẻ thu tiền trực tiếp,
bán lẻ tự phục vụ, bán hàng trả góp, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua
hội chợ, triển lãm v.v...
- Phương thức gửi hàng bán đại lý: Là phương thức bán hàng mà trong
đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở đại lý để các cơ sở này trực
tiếp bán hàng. Bên nhận đại lý sau khi bán hàng, thanh toán tiền hàng và được
hưởng hoa hồng đại lý bán. Số hàng chuyển giao cho cơ sở đại lý bán vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho đến khi doanh nghiệp
thương mại nhận được tiền do cơ sở đại lý thanh toán hoặc thông báo về số
hàng đã bán được.
* Đối với bán hàng xuất khẩu: Hàng hóa được xuất khẩu theo các
phương thức giao dịch sau:
- Phương thức xuất khẩu trực tiếp: Là phương thức xuất khẩu trong đó
đơn vị tham gia hoạt động xuất khẩu được Bộ Thương mại cấp giấy phép có
thể trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng với nước ngoài, trực tiếp giao hàng
và thanh toán tiền hàng. Các doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu trực tiếp trên
cơ sở tự cân đối về tài chính, tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn
phương thức thanh toán, xác định phạm vi kinh doanh trong khuôn khổ chính
sách quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước.
- Phương thức xuất khẩu ủy thác: Là phương thức xuất khẩu được áp
dụng đối với các doanh nghiệp được Nhà nước cấp giấy phép xuất nhập khẩu,


19

20

hợp đồng kỳ hạn chỉ được mua bán ở sở giao dịch có tổ chức, còn hợp đồng
triển hạn được mua bán ở ngoài sở giao dịch [11, tr. 46]. Còn hợp đồng tự
chọn cũng là hợp đồng ký kết giao dịch mua bán trong tương lai, nhưng khác
với hợp đồng kỳ hạn ở chỗ chỉ đặt nghĩa vụ duy nhất vào một bên. Nếu người
mua lựa chọn thực hiện quyền thì người bán hợp đồng lựa chọn có nghĩa vụ
thi hành. Để thực hiện được quyền này, người mua quyền phải trả một khoản
phí không hoàn lại cho người bán quyền. Đến kỳ hạn giao hàng, nếu giá cả
trên thị trường giao ngay cao hơn giá cố định trong hợp đồng tự chọn thì
người mua quyền chọn bán có thể hủy hợp đồng tự chọn và tự do bán hàng
hóa trên thị trường. Ngược lại, nếu giá cả trên thị trường giao ngay thấp hơn
giá cố định trong hợp đồng tự chọn thì người mua quyền thực hiện quyền
chọn bán này theo hợp đồng.
Một hợp đồng kỳ hạn có thể được kết thúc bằng việc giao hàng hữu
hình hoặc bù trừ. Tuy nhiên, hầu hết các hợp đồng kỳ hạn lại không thực hiện
việc giao hàng hữu hình. Theo số liệu của Ủy ban mua bán kỳ hạn hàng hóa
(CFTC) năm 1993 có 324 triệu hợp đồng được mua bán nhưng chỉ có 2,1
triệu hợp đồng kết thúc bằng việc giao hàng [11, tr. 143]. Năm 2003, tổng số
hợp đồng ký kết là 986,15 triệu hợp đồng được ký kết, nhưng chỉ có 9,13 triệu
hợp đồng được kết thúc bằng giao hàng thực tế (theo Results for: annual
report 2003 - http://www.cftc.gov/anrfuturesgrop03.htm) Các nhà giao dịch
thường kết thúc hợp đồng kỳ hạn bằng nghiệp vụ bù trừ, bằng cách mua (hoặc
bán) một hợp đồng kỳ hạn y hệt như hợp đồng kỳ hạn đã ký kết bán (hoặc
mua) về cùng một loại hàng và thời gian giao hàng. Sau khi thực hiện xong
nghiệp vụ bù trừ, nghĩa vụ của cả hai bên mua bán đều được xóa đi trong sổ
sách của sở giao dịch. Tuy nhiên, khi đó các nhà giao dịch sẽ thanh toán chênh
lệch giá của hợp đồng kỳ hạn lúc mua (bán) và bán (mua) với sở giao dịch.
Các giao dịch kỳ hạn kết thúc bằng nghiệp vụ bù trừ còn gọi là giao dịch
khống.

với những ứng dụng đa dạng của Internet trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế,
thương mại điện tử (TMĐT) được xem là một lĩnh vực ứng dụng quan trọng


22

của công nghệ thông tin đã được xuất hiện và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Theo các chuyên gia kinh tế của Liên hợp quốc ước tính, đến năm cuối cùng
của thập kỷ XX, TMĐT chiếm tỷ trọng khoảng 10% trong tổng khối lượng
buôn bán của thế giới và dự đoán đến năm 2002 con số này sẽ tăng đến 15%
[3, tr. 350].
Phạm vi của TMĐT rất rộng, bao quát gần như mọi hoạt động kinh tế.
Hoạt động TMĐT bao gồm nhiều loại hình khác nhau và xét trên góc độ hoạt
động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, TMĐT được diễn ra theo
hai hình thức chủ yếu, là B2B (Business to Business) giao dịch thương mại
giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. B2C (Business to Customer) giao dịch
thương mại giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng. So với hoạt động của
thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt cơ bản. Đó là:
- Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp
với nhau và không cần phải biết nhau từ trước.
- TMĐT được thực hiện trong một thị trường không biên giới, thị trường
thống nhất toàn cầu, không bị giới hạn bởi khái niệm biên giới quốc gia.
- TMĐT dựa trên cơ sở thông tin, dữ liệu trên máy tính.
- Hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia ít nhất của ba chủ
thể, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương
mại truyền thống, xuất hiện chủ thể thứ ba đó là các nhà cung cấp dịch vụ
mạng, các cơ quan chứng thực - là những người tạo môi trường cho các giao
dịch TMĐT.
- Về quy trình giao dịch bán hàng trong TMĐT:
Một quy trình bán hàng cơ bản trong TMĐT có thể được khái quát

được áp dụng, mỗi phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm, thể hiện thành
mâu thuẫn quyền lợi giữa người mua và người bán, hay giữa người nhập khẩu


24

và người xuất khẩu. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng đòi hỏi hai bên mua bán tùy
thuộc vào từng điều kiện cụ thể và mức độ tin cậy lẫn nhau để lựa chọn
phương thức thanh toán thích hợp.
- Phương thức chuyển tiền: Là phương thức trong đó khách hàng
(người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho
người khác (người hưởng lợi) ở nước ngoài theo những điều kiện mà mình
đặt ra. Phương thức này đơn giản nhưng lại ít được áp dụng trong thanh toán
vì nó luôn đặt người bán ở thế bất lợi. Do đó, phương thức này thường được
áp dụng trong trường hợp trả phí dịch vụ vận tải, bảo hiểm v.v...
- Phương thức mở tài khoản: Là phương thức mà người bán sau khi
giao hàng hoàn thành nghĩa vụ của hợp đồng, mở một tài khoản ghi nợ cho
người mua. Định kỳ nhất định do hai bên thỏa thuận, người mua tự động dùng
phương thức chuyển tiền để trả cho người bán. Phương thức này thường áp
dụng trong trường hợp hai bên mua bán phải tin cậy lẫn nhau hoặc dùng trong
phương thức hàng đổi hàng.
- Phương thức nhờ thu: Là phương thức mà người bán sau khi giao
hàng ký phát hối phiếu đòi tiền người mua, rồi đem đến ngân hàng nhờ thu hộ
số tiền trên hối phiếu đó. Phương thức này có hai hình thức: nhờ thu phiếu
trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
- Phương thức tín dụng chứng từ: Là sự thỏa thuận trong đó một ngân
hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin
mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người thứ ba hoặc trả cho bất cứ người nào
theo lệnh của người thứ ba đó (người hưởng lợi), hoặc chấp nhận mua hối
phiếu do người hưởng lợi phát hành, hoặc cho phép một ngân hàng khác trả

thanh toán và là căn cứ để thực hiện chi trả [48, tr. 62]. Trong kinh doanh
thường sử dụng một số phương tiện thanh toán sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status