Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và trở
thành một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nhất của xu thế này chính là sự ra
đời của các liên kết khu vực và quốc tế như : ASEAN, EU, WTO ... mục tiêu là thúc
đầy tự do hóa thương mại quốc tế, giảm dần và tiến đến xóa bỏ hàng rào bảo hộ do các
quốc gia đặt ra nhăm cản trở tụ do hóa thương mại. Việt Nam cũng không năm ngoài
xu thế đó, với việc ra nhập ASEAN, ký kết hiệp định thương mại song phương với Hoa
Kỳ, và gần đây nhất là Việt Nam là thanh viên thứ 150 của tổ chức WTO. Nhưng minh
chứng đó đã đánh dấu quá trình hội nhập của Việt Nam vào nên kinh tế thế giới.
Có thể nói việc chính thức là thành viên của tổ chức WTO đen lại cho Việt Nam
cơ hội phát triển nhưng đi kèm với cơ hội là thách thức trước nền kinh tế thế giới. Chúng
ta muốn đưa đất nước phát triển dựa theo các cơ hội khi hội nhập chung ta phai tìm hiểu
và thấy rõ thách thức, tận dụng triệt để các cơ hội để hạn chế và đẩy lùi thách thức.
Ngân hàng là một trong nhưng lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt
Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt hơn. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, hệ
thông ngân hàng Việt Nam cần phải tổ chức lại cơ cấu một cách hợp lý và theo được các
nước phát triển để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh
tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở
rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước. thành hệ thống ngân hàng đa dạng
về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt
các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước.
Là một người thực tập ở ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải và mong
muốn đóng góp ý kiến của mình để ra sự phát triển bền vững của ngân hàng chính
vì vậy tôi xin chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân
hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập tổ chức
kinh tế thế giới ( WTO ) ”
2. Mục tiêu nghiên cứu
5. Ý nghĩa của đề tài
Tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của ngân hàng TMCP
Hàng Hải Việt Nam nói riêng là vấn để mà mọi doanh nghiệp đặt lên hàng đầu. Khi nên kinh
tế ngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tiến trình hội nhập. Tăng khả năng cạnh tranh là con
đường dẫn đến thành công của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Bởi vì thế tôi chọn đề tài “
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Hàng Hải Việt Nam trong điều
kiện hội nhập tổ chức kinh tế thế giới ( WTO) ” để thực hiện bào chuyên đề này
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo
luận văn trang được trình bày như sau :
Chương 1 : khái luận chung về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
thương mại.
Chương 2 : Hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Hàng
Hải Việt Nam.
Chương 3 : Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam.
Phần kết luận.
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
2
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
CHƯƠNG I
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANHTRONG LĨNH VỰC
hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
3
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh ( tổ chức tài chính phi ngân hàng)
bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chưng
khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào các quỹ tưỡng hồ và thực hiện
nhiều dịch vụ khác.
Cách tiếp cận an toàn nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện
nhưng loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt nhất là tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nên kinh tế.
Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân hàng của các thợ vàng hay ngân hàng của
những kẻ cho vay nặng lãi – thực hiện cho vay với cá nhân, chủ yếu là người giàu. Do
lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ ngân hàng đã lãm dụng ưu thế của chứng chỉ
tiền gửi và phát chứng chỉ tiền gửi chỉ là tiền gửi không để cho vay. Thực trạng này đã
đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản. Trước tình hình đó,
nhiều nhà buôn góp vốn lập ngân hàng, với chức năng chủ yếu là tài trợ ngắn hạn và
thánh toán hộ, gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng
này được gọi là NHTM. Tại Việt Nam trước đây, theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính ngày 24/05/1990, NHTM được hiểu là tổ chức kinh
đối với người bán ( người bán chuyển các khoản thu ngân hàng để lấy tiền trước).
Ngân hàng có thể gữi thương phiếu đến hạn đòi tiền người mua ( hay người phải trả)
Thứ hai, cho vay :
- Thấu chi : là nghiệp vụ vho vay qua đó ngân hàng cho phép người được
vay chỉ vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và
trong một khoảng thời gian xác định. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh
hoạt cà thủ tục đơn giản nhất. Phần lớn không có đảm bảo có thể cấp cho cả doanh
nghiệp lẫn cá nhân. Hình thức chủ yếu sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy
cao, thu nhập ổn định và kỳ thu nhập ngắn.
- Cho vay trức tiếp từng lần : là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, khồng có điều kiện để cung cấp
hạn mức thấu chi. Mỗi khách hàng vay phải làm đơn và trình ngân hàng phương án
sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích dự án của khách hàng và quyết định ký
hợp đồng hay không. Nghiệp vụ cho vay tưng lần tương đối đơn giản và an toàn vi
ngân hàng có thể kiểm soát được từng món cho vay.
- Cho vay theo hạn mức : Là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả
kỳ hay cuối kỳ. Đây là hình thức cho vay rất thuận tiện cho nhưng khách hàng vay
thường xuyên, vốn vay tham gia thương xuyên vào quá trình kinh doanh. Trong
nghiệp vụ này thì khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ.
- Cho vay luân chuyển : là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng hóa có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và ngân hàng sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng. Chính vì vậy
khoản cho vay này rất là mạo hiểm vì nó phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của
doanh nghiệp nên ngân hàng luôn theo dõi sát sao hoạt động của doanh nghiệp
- Cho vay trả góp : là hình thưc tín dụng, ngân hàng cho phép khách hàng
trả gốc làm nhiều lần trong thời gian tín dụng đã thỏa thuận. thường chỉ được áp
dụng ở các khoản vay trung và dài hạn. Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng
thương thê chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc đều đặn
của người vay.
Bảo lãnh đảm bảo thanh toán
1.1.2.2. Huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cho vay, huy động vốn, đâu tư và
cung cáp các dịch vụ khác. Huy động vón là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM và
đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng
Vốn chủ sở hữu : Để bắt đầu hoạt động chủ ngân hàng phải có một lượng
vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên
trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hinh thành và nghiệp vụ hình thành
loại vốn này rấy đã dạng với tínhc chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân
hàng yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu có thể hình thành từ
các nguồn sau :
- Nguồn vón hình thành ban đầu
- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Các quỹ như là : quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư …
- Nguồn vay nợ cí thể chuyển đổi thanh cổ phần
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
6
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Vốn nợ : Các nguồn hình thành vốn nợ có thể được hiểu là :
Một là , tiền gửi và các doanh nghiệp vụ huy động tiền gửi :
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng.
Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đâu tiên là mở các tài khoản gưi
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
7
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của thợ vàng.
Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp
với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc tiền và đổi tiền tại cửa khẩu
hoặc trung tâm thương mại. người làm nghề đúc, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền
tệ bằng cách dổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Các chủ của hàng vàng bạc vừa
đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền. Nhưng ngân hàng loại này được gọi là ngân
hàng của những thợ vàng.
Những người kinh doanh tiền tệ đầu tiên đã dung vốn tự có để cho vay,
nhưng điều đó không đã nhanh chóng được thay đổi. Từ hoạt động thực tiễn, các
chủ ngân hàng nhân thấy thường xuyên cí người gửi tiền vào và có người lấy tiền
ra, song tất cả người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc nên đã tạo số dư thương
xuyên ở ngân hàng. Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể sử dụng
tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay, Hoạt động cho vay tạo nên lợi
nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng dều tìm cách mở rộng thu hút gửi
tiền. Băng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày
càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi xuất cho vay.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nên kinh tế.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ chúng thực hiện
bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày cành phát triển. Ngân hàng thương mại từ
chỗ chi cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay
tiêu dung, kinh doanh chứng khoán, cho thuê… Các hình thức huy động cũng ngày
càng phong phú. Các loại hình thức tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng
tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân
hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương, vay các ngân
hàng khác. Công nghệ ngân hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán
thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán.
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng
và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn thất rất
lớn cho nên kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói, các vụ sụp đổ ngân hàng
cũng là một khẩu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng. Các nhà quản lí
đã và đang không ngừng cái tiến chính sách quản lí để hạn chế sự sụp đổ và mở
đường cho sự phát triển của khu vực ngân hàng.
1.2.2. Cấu trúc ngành hàng hiện nay tại Việt Nam và
sự thay đổi sau ra nhập WTO
Cấu trúc ngành ngân hàng ở nước ta hiện nay là:
Khi bước vào hội nhập tổ chức kinh tế thế giới ( WTO) Chính phủ và NHNN đã
có đinh hướng thay đổi cấu trúc ngành ngân hàng. Không để tồn tại 2 cấp như các năm
trước nữa. Thay vào đó sự xuất hiện khối NHTM cổ phần mặc dù xuất phát điểm là
quy mô nhỏ, thị phần khiêm tốn, khách hàng thì từ lâu chỉ biết đên những ngân hàng
TMQD có thâm niên trên thị trường. Vì vậy việc thu hút khách hàng không dễ dàng.
Việc xây dựng uy tín, tên tuổi của các ngân hàng thương mại cổ phần ban đầu rất khó
khăn. Thêm nữa, họ chịu sự cạnh tranh không cân sức về vốn với các ngân hàng có
thâm niên. Và trong bối cảnh hôi nhập buộc hoi phải đưa công nghệ ngân hàng hiện đại
vào để phát triển sản phẩm dịch vụ vỗn dĩ quá nghèo nàn .
Hiện nay, các ngân hàng TMQD đã mất gần 40% thị phần vào tay các ngân
hàng đổi thủ là ngân hàng TMCP và ngân hàng ngoại. 60% thi phần mà các ngân
SV : NguyÔn Duy Tïng
Hội nhập góp phàn thúc đẩy quá trình thu hút nguồn vốn đầu tư nhờ sự gia
tăng nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế, nhờ những chính sách khuyến khích
đầu tư, nhờ các ngân hàng trong nước linh hoạt và chủ động điều chỉnh theo thị
trường. Điều này cũng giúp phát triển các mối quan hệ đại lý, thanh toán quốc tế,
tài trợ thương mại, hợp tác đầu tư và trao đổi công nghệ…
Khi ra nhập WTO các dịch vụ đã được mở rộng và nâng cao về chất lượng.
Số lượng các dịch vụ mới được mở ra nhiều. Các hình thức kinh doanh cũng được
thay đổi một cách kịp thời và phù hợp với tình hình trên thị trường trong và ngoài
nước. Khi ra nhập WTO các thủ tục hành chính đã được giảm bớt và từng bước cải
cách hành chính phù hợp hơn với các nươc trên thế giới. Chính sách cũng được thể
hiện sự khuyến khích của chính phủ nhằm phát triển NHTM trong nước bắt kịp với
sự phát triển với các ngân hàng thế giới. Một sự thay đổi chính tại sự chuyên nghiệp
của bộ máy để có thế đáp ứng luôn vốn đầu tư từ nước ngoài.
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
10
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
1.3. LÝ THUYẾT CẠNH TRANH
1.3.1. Các khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà
ở đó trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng
thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế. Một doanh nghiệp được
11
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
vay không phải xuất phát từ ý chí tự thân của mỗi ngân hàng mà thực chất là nhằm
thực hiện những kế hoạch pháp lệnh mang tính áp đặt từ phía Nhà nước. Do đặc thù
của cơ chế kinh tế chỉ huy bằng mệnh lệnh hành chính, hầu như mỗi ngân hàng
không có cơ hội để tự mình quyết định giá cả sản phẩm dịch vụ của chính mình, bởi
lẽ hệ thống lãi suất huy động vốn và cho vay đều do Nhà nước quy định sẵn và
được áp dụng thống nhất cho tất cả các ngân hàng. Mặt khác, mỗi ngân hàng cũng
không có quyền tự quyết định về kế hoạch huy động vốn cho vay, không được tự do
lựa chọn khách hàng và cũng không thế tự xây dựng cho mình chiến lược kinh
doanh thích hợp hay một phong cách kinh doanh độc đáo để tạo dấu ấn riêng mang
tín đẩy mạnh thương hiệu.
Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu
quả nên kinh tế. Trong bối cảnh hiên tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh lành
mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hàng hiệu quả của cơ chế
thị trường. Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, ngày
03/12/2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thong qua luật Cạnh tranh số
27/2004/QH11
Luật này ứng dụng vào trong lĩnh vực cạnh tranh của ngành ngân hàng tạo sự
bình đẳng và lành mạnh như :
Với 6 chương, 123 điều, Luật cạnh tranh được ban hành nhằm đưa cuộc
chiến giữa các ngân hàng đạt được những điểm sau :
- Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể dẫn
đến việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế
sản xuất nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh”. Một cách truyền thống, các hành vi cản
trở việc xâm nhập thị trường, áp đặt giá bán lại tối thiểu và hành vi phân biệt đối xử
trong giao dịch thương mại tao bất bình đẳng trong cạnh tranh đều thuộc nhóm các
hành vi lạm dụng vị trí thỗng lĩnh thị trường bị cấm. Điều đặc biệt nhất ở đây là quy
định về việc “áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý” ( điều 13 khoản 2).
Như ta thấy, Điều 18 Luật Cạnh tranh cấm các ngân hàng tập trung kih tế nếu
các ngân hàng đó có thị phần kết hợp từ 50% trở lên trên thị trường liên quan,
không cần xét đến hoàn cảnh và tình huống. Việc tiến hành tập trung kinh tế mà
không xin phép được coi là một hành vi bị cấm và bị xử lý hành chính. Ngoài ra,
chia, tách ngân hàng đã sát nhập, hợp nhất hoặc buộc bán lại phần ngân hàng đã
mua . Các ngân hàng có tâp trung kinh tế có thị phần từ 30% đến 50% trên thị
trường liên quan phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh trah trước khi tiến hành
tập trung kinh tế ( tại điều 20). Còn nếu ngân hàng than gia tập trung kinh tế thấp
hơn 30% trên thị trường liên quan, các ngân hàng không có nghĩa vụ phải thông báo
với cơ quan quản lý cạnh tranh. Đương nhiên trong trường hợp này, không có sự
kiểm soát của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Tại điều 39 Luật Cạnh tranh quy định 9 hành vi bị coi là cạnh tranh không lành
mạnh, trong đó bảo gồm các hành vi như xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha ngân
hàng khác, quảng cáo hoặc khuyên mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Từ các điều trên ta thấy Luật Cạnh tranh ngày 3/12/2004 của Việt Nam
dường như thíc hợp với giai đoạnh đầu của một nên kinh tế muốn đi theo xu thế
nhưng chưa bứt ra khỏi dấu ấn quá khứ
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
13
Líp :
Đây là nhưng mỗi lo thường trực của các NHTM trong kinh doanh. Đối thủ
canh tranh ảnh hưởng đến chiếm lược hoạt động kinh doanh của NHTM trong
tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng phải
thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng
để chiến thắng trong cạnh tranh.
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
14
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
1.4.1.3. Khách hàng
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá
nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dung, thậm chí là các ngân hàng khác
cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là người
bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng. Những người bán sản phẩm thông qua các
hình thức tiền gửi, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhận
được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng lại muốn mình chi trả một khoản chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như
vậy, Ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mẫu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có
hiểu quả và giữ được chân khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút hiệu
quả rẻ nhất có thể.
1.4.1.4. Sản phẩm thay thế
Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các
NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống
NHTM là tiền, đó là loại sản phẩm có tính xã hội và có tính nhạy cảm cao, chỉ một
biến động nhỏ ( thay đổi lãi suất ) cũng có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh
doanh của các NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nói chung. Từ đặc
điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên quyết liệt. Có
nghĩa là, chính vì sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tính cạnh
tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
- Tác nhân về đặc điểm khách hàng
Khách hàng của NHTM không phải là khách hàng luôn “trung thành” mà rất dễ
bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch. Mức độ trung thành của khách hàng phụ thuộc
vào sự đối xử của NHTM với họ, mà cao nhất là lợi ích trực tiếp thu được từ quan hệ
giao dịch với ngân hàng. Khách hàng có thể ngay lập tức thay đổi quan hệ với ngân
hàng để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi mà họ nhận được cao (nếu là sản
phẩm bán) và mức lãi suất thấp (nếu là sản phẩm mua) so với ngân hàng họ quan hệ.
Như vậy, sự cạnh tranh của ngân hàng cũng được nhân lên do đặc điểm khách hàng rất
dễ thay đổi quan hệ với ngân hàng. Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố về
phía NHTM tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng.
1.4.2. Các nội dung về cạnh tranh trong kinh doanh của các NHTM
Theo cuốn năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại của Nguyễn
thi Quy chúng ta có thể đưa ra một số nội dụng cơ bản như sau :
1.4.2.1. Cạnh tranh bằng chất lượng.
Trong nên kinh tế hiện đại ngày nãy, khi mà khoa học công nghệ phát triển
như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú và đa dạng, tao thuận lợi cho sự
lựa chọn của người tiêu dung và đặt nhà kinh doanh trước áp lực cạnh tranh ngày
cành gay gắt. Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải thỏa mãn cao
nhất nhưng yêu cầu dòi hỏi từ phía khách hàng. Một sản phẩm ngân hàng có chất
lượng phải đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng,
đem lại cho khách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích. Do vậy, ki đánh giá một sản
phẩm ngân hàng có chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chi sau :
- Tốc độ xử lý nhanh;
NHTM trong quá trình hoạt động cụ thể:
-
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân hàng
chính là một “hiện hữu ” chủ yếu của sản phẩm dịch vụ, có thể làm tăng them giá trị
của sản phẩm dịch vụ.
-
Đa số các ý tưởng cải tiến sản phẩm dịch vụ hoặc cung ưng sản phẩm
dịch vụ mới đều được đề suất trực tiếp từ thực tiễn hoạt động của nhân viên
-
Nhân viên là lực lượng chủ yếu chuyền tải thông tin của thị trường, từ khách
hàng, từ đối thủ cạnh tranh đên các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng.
Chiến lược thị trường : Nghiên cứu thị trường, phân tích những biến động,
thị hiếu và nhu cầu khách hàng từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự khác
biệt hoá trong sản phẩm ngân hàng từ đó giúp ngân hàng thu hút được ngày càng
nhiều khách hàng.
Chiến lược kinh doanh: Trong môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gắt, các NHTM phải quản lý ngân hàng theo tư duy chiến lược để ban lãnh đạo
ngân hàng sẽ luôn ở thế chủ động, không lúng túng khi môi trường kinh doanh thay
đổi, đồng thời kết hợp hài hòa và phát huy tối đa sức mạnh của tất cả các nguồn lực,
sử dụng các nguồn lực ngân hàng một cách hiệu quả nhất góp phần tăng chất lượng
sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
tốt chiến lược Marketing kết hợp với việc tổ chức mạng lưới.
1.4.2.4. Tổ chức mạng lưới
Để tạo sự thuận tiện cho khách hàng ở khắp mọi nơi, NHTM cần có một tổ
chức mạng lưới rộng khắp ở các vùng kinh tế chiến lược trong nước, các vị trí thuận
lợi ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới là cần thiết nhưng cần chọn
nơi hội đủ điều kiện có lợi cho hệ thống, nếu không sẽ gây trở ngại về vốn cũng như
nhân lực, tăng chi phí và giảm lợi nhuận cho ngân hàng.
Chiến lược Marketing
Để có thể đưa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến khách hàng một cách tốt
nhất, NHTM phải xây dựng tốt chiên lược Marketing bao gồm:
- Quảng bá thương hiệu;
- Tiếp thị và xúc tiến thương mại;
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
18
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Phát triển công nghệ và nghiệp vụ tiên tiến;
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh;
- Phát triển sản phẩm dịch vụ gắn với phát triển thị trường….
Để mở rộng thị phần bán lẻ, các ngân hàng phát triển các hình thức phân
phối cùng nhiều tiện ích:
- Kênh phân phối truyền thống Bao gồm:
+ Hệ thống các chi nhánh
19
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Khả năng sinh lời
- khả năng ngăn ngừa và chống đỡ rủi ro
* Năng lực hoạt động của NHTM bao gồm :
- Khả năng huy động vốn
- khả năng phát triển sản phẩm, dịch vụ ( các phương thức gửi tiền khác nhau
về kỳ hạn, lãi xuất, sự thuận tiện... và các nhu cầu vay vốn khác nhau về kỳ hạn vay,
trả về loại đồng tiền, về cách giải ngân, cách trả lãi, cách sử dụng vốn vay...)
* Năng lực quản trị, điều hành.
Đánh giá năng lực quản trị điều hành của NHTM thông qua các tiêu chí sau:
- Mô hình một ngân hàng hiện đại.
- Cơ cấu, trình độ, thực hiện của bộ máy lãnh đạo và lực lượng lao động chủ
yếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
- Khả năng ứng phó của cơ chế điều hành trước diễn biến của thị trường.
- Cơ chế vận hành một ngân hàng hiện đại( quản trị tài sản nợ, tài sản có,
quản trị dịch vụ phi tín dụng, quản trị kế toán và ngân quỹ, quản trị nhân sự ...)
* Năng lực công nghệ thông tin.
Năng lực công nghệ thông tin của NHTM thường được đánh giá thông qua
các tiêu chí :
- Khả năng trang bị công nghệ mới bao gồm thiết bị và nhân lực
- Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của thị trường
để giữ được thị phần dịch vụ
- Tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ
b)Tài sản có
Chất lượng tài sản có phản ánh sức khỏe tài chính của một ngân hàng và
được thể hiện qua các chỉ tiêu như : Tỷ lệ nợ xấu, tỷ trọng tài sản có sinh lời trong
tổng tài sản có, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được xây dựng khoa học và được
vận hành một cách hiệu quả và tín cậy ở mức độ thế nào, chính sách phân loại nợ và
trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, khả năng thu hồi các khoản nợ quá hạn, mức độ
tập trung hay phân tán của danh mục tín dụng, đầu tư cũng như nguồn gộc các
khoản thu nhập chính của ngân hàng, tỷ lệ cho dư nợ cho vay so với nguồn vốn huy
động từ thị trường tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế
và cuối cùng là mức độ rủi ro của các khoản cam kết ngoại bảng
c)Lợi nhuận
Lợi nhuân hay khả năng sinh lời, là thước đo cuối cùng trong quá trình đánh
giá năng lực hoạt động của một ngân hàng. Chỉ tiêu lợi nhuận được phân tích qua
các chỉ tiêu cụ thể như : giá trị tuyệt đối của lợi nhuận trước thuế, tốc độ tăng
trưởng của lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận ( cho biết được lợi nhuận hình thành từ
những nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng hay từ các khoản
lợi nhuận bất thường; tỷ trọng của nguồn thu nhập phi tín dụng so với tổng thu
nhập), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có. Ngoài ra, cần phải phân tích thêm các
chỉ tiêu bổ sung như tỷ lệ thu nhập so với chi phí, chất lượng của các khoản thu.
1.4.4.2. Năng lực về công nghệ
Công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực
tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng công nghệ ngân hàng
được thể hiện tập trung ở hệ thông ngân hàng lõi và liên quan đến tất cả các phân hệ
nghiệp vụ và quản trị rủi ro nhằm cung cấp những sản phẩm dịch vụ có giá trị gia
tăng cao. Khả năng nâng cấp và đối mới công nghệ của một ngân hàng nhằm đáp
ứng một cách có hiệu quả và tối ưu nhưng yêu cầu nghiệp vụ, đáp ứng được tốt nhất
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
kinh doanh người ta xe xét các yếu tố như chiến lược kinhh doanh có đúng hướng
hay không, có thể hiện mục tiêu kinh doanh có trọng điểm rõ ràng, lựa chọn sản
phẩm ngoại vi phục vụ thiết thực, hiệu quả cho sản phẩm chính. Vấn đề quan trọng
đặt ra là mức độ phù hợp của các sản phẩm đối với thị trường mà ngân hàng đang
hoạt động. Mức độ phù hợp của sản phẩm đối với nhân lực, công nghệ, tiềm lực tài
chính của ngân hàng. Mức độ hấp dẫn của các hoạt động Marketing mà ngân hàng
đang thực hiện.
SV : NguyÔn Duy Tïng
KÕ Ho¹ch 48A
22
Líp :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sự hình thành và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam chính thức khai trương
và đi vào hoạt động vào ngày 12 tháng 7 năm 1991 tại thành phố cảng Hải Phòng
theo quyết định số 0001/ NH- GP ngày 08/06/1991 của thống đốc ngân hàng nhà
nước Việt Nam.
Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế bằng tiến anh : Vietnam Commercial Stock Bank
Tên viết tắt : Maritime Bank
Trụ sở chính đặt tại : 519 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
viên lên 2000 nhân viên năm 2009, số lượng các điểm giao dịch tăng mạnh từ 16
điểm giao dịch lên 110 điểm giao dịch năm 2009.
Như vậy thực hiện đường lỗi đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước đến này,
Maritime Bank đã trưởng thành vượt bậc và đạt được những kết quả cụ thể như sau :
- Có sự hậu thuẫn từ các cổ đông chiến lược là các doanh nghiệp thuộc
ngành Bưu chính viễn thông, hàng hải, hàng không, bảo hiểm..... và với đường lối
phát triển đúng đắn cùng với nội lực đã được khẳng định, năm 2003, Maritime Bank
được ngân hàng thế giới ( world bank) lựa chọn là một trong 6 ngân hàng thương
mại Việt Nam tham gia vào dự án “Hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán”.
Đến nay, Maritime Bank vượt qua nhiều ứng viên khác để trở thành ngân hàng
TMCP duy nhất của Việt Nam được World Bank tài trợ cho giai đoạn 2 của dự án
trên. Kết quả này thêm một lần nữa khẳng định khả năng bứt phá mạnh mẽ của
Maritime Bank trong thời kỳ hội nhập.
- Với mục tiêu phát tiển bền vững, Maritime Bạnk luôn chú trọng mở rộng
các điểm giai dịch mới với công nghệ, trang thiết bị hiên đại cũng đội ngũ nhân lực
trẻ trung, năng động và chuyên nghiệp, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng
dịch vụ tài chính – ngân hàng. Maritime Bank đã có thêm 100 điểm giao dịch, tập
trung chủ yếu tại các khu vực kinh tế trọng điểm trên cả nước.
- Theo kế hoạch 2010, Maritime Bank sẽ phát triển mạnh mẽ theo định
hướng trở thành ngân hàng thương mại tiêu biểu nhất Việt Nam. Để hiên thực hóa
định hướng này, Maritime Bank đã triển khia đồng bộ các giải pháp mang tính chiến
lược nhằm tăng cường quan hệ toàn diện với các tập đoàn kinh tế thuộc các ngành
hàng hải, hàng không, bưu chính viễn thông… ; Phát triển bên vững, tin cậy với
khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ; cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
với chất lượng cao cho mọi đối tượng khách hàng; xây dựng quan hệ đối tác hiệu
quả với các định chế tài chính trong nước và quốc tế.
- Khi các kênh dẫn vốn được khởi động đã góp phần tăng nhanh lợi nhuận
trước thuế của Maritime Bank, năm 2009 Maritime Bank đạt lợi nhuận hơn
1005,314 tỷ đồng, vượt xa chỉ tiêu lợi nhuận cả năm. Với đà tăng trưởng đó chốt lợi
nhuận sau thuế đến 31/12/2009 của Maritime Bank đã đạt 772,885 tỷ đồng, sa trích