KINH TẾ PHÁT TRIỂN.
Nhóm 2: Thực trạng, tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản trong quá trình phát
triển kinh tế tại Việt Nam.
Phần I: Giới thiệu:
Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn
Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các quá trình
phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm nghiên cứu điều tra cơ bản và
tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng với các kết qủa nghiên cứu của các
nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng tháng 8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta
có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng
sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng.
Phần II: Nội dung chính.
1.
Khái niệm khoáng sản. (trích: “Tình hình khai thác và sử dụng khoáng sản ở Việt
Nam”-https://text.xemtailieu.com)
- Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành
phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng
chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật
chất của nền kinh tế quốc dân
- Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất
hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người
có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp
chúng trong đời sống hàng ngày.
2.
Phân loại khoáng sản.
(Trích “ Tài nguyên khoáng sản Việt Nam”- http://toponejsc.com/Tin-tuc/14).
A). Nhóm khoáng sản năng lượng gồm có dầu khí, than khoáng, urani và địa nhiệt.
Về dầu khí. Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể. Tiềm năng và trữ lượng dầu khí có
khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu
quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có khả năng
thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi. Đến ngày 2/9/2009 tập đoàn Dầu khí quốc gia
giới như bauxit (quặng nhôm)(Việt Nam có hơn 6 tỷ tấn- Trích dẫn “Đánh giá tài nguyên
khoáng sản Việt Nam trong bối cảnh khoáng sản thế giới”- http://www.vinacomin.vn/tintrong-nuoc/danh-gia-tai-nguyen-khoang-san-viet-nam-trong-boi-canh-khoang-san-the-gioi),
đất hiếm, titan, wolfram, crôm v.v..
Bauxit có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit.
Diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương và
Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần 200 triệu tấn.
Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên với trữ lượng đạt
gần 2,1 tỷ tấn (Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công bố sách hàng hoá khoáng sản thế giới
và xếp bauxit Việt nam đứng hàng thứ 3 thế giới sau Guinea 7,4 tỷ tấn và Australia 6,2
tỷ tấn) với trữ lượng khoảng 2,3 tỷ tấn. Hiện bauxit đang được khai thác thử nghiệm để sản
xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông.
Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng đạt
gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu
tấn). Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng.
Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương Thái Nguyên có trữ lượng
4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn đang được khai thác.
Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và Đại Từ Thái
Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn.
Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu. Đặc biệt ở một số
diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài
nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn. Ngoài khoáng vật ilmenit, còn có các khoáng vật có
giá trị kinh tế kỹ thuật là zircon và monazit. Một số mỏ ilmenit ở Hà Tĩnh, Bình Định, Bình
Thuận v.v.. đã được khai thác và xuất khẩu.
Quặng Wolfram tập trung chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền, Đại Từ, Thái Nguyên. Công ty
Tiberon Minerals đã tiến hành thăm dò xác định tài nguyên và trữ lượng đạt 110,2 triệu tấn
quặng chứa 227.500 tấn WO3 , 8,5 triệu tấn CàF2, 191.800 tấn Cu, 20,8 tấn Au và 107.000
tấn Bi. Đây là vùng quặng rất đáng được quan tâm chú ý vì có tài nguyên dự báo đáng kể.
Quặng crôm sa khoáng có giá trị kinh tế kỹ thuật được tìm thấy ở Cổ Định, Nông Cống
Thanh Hoá với trữ lượng 22 triệu tấn đang được khai thác. Đi kèm crôm còn có trữ lượng
đáng kể của Nickel và Cobal ... cần được nghiên cứu sử dụng.
triển khoáng sản. Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào
hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể.
3.
Vai trò của tài nguyên khoáng sản đối với nền kinh tế nước ta.
(Trích “ Khoáng sản Việt Nam-https://nvcuong1992.violet.vn/present/khoang-san-viet-nam) ‒
Cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu cho các ngành sản xuất kinh tế.
+ Đối với công nghiệp: Khoáng sản là nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu cho nhiều ngành
công nghiệp như luyện kim, hoá chất, cơ khí,…và là cơ sở vật chất của những tiến bộ về
khoa học, kỹ thuật, đồng thời sự phong phú và đa dạng của các loại khoáng sản đã tạo cho
nước ta có điều kiện để phát triển một nền công nghiệp có cơ cấu ngành đa dạng. Không
những thế, với sự phân bố theo vùng đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc hình thành và phát
triển các trung tâm công nghiệp, vùng công nghiệp với trình độ chuyên môn hoá ngày
càng cao.
+ Đối với ngành nông nghiệp: khoáng sản là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu nhằm tạo điều kiện để nước ta đẩy mạnh điện khí hoá,
cơ khí hoá,… trong nông nghiệp. Nhờ đó mà năng suất nông nghiệp không ngừng tăng
lên, trình độ sản xuất nâng cao.
+ Đối với ngành giao thông vận tải: khoáng sản là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng cầu
đường, bến cảng, các loại giao phương tiện giao thông vận tải khác,…
+ Đối với thương mại: Khoáng sản là nguồn cung cấp nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị
kinh tế lớn, đem lại nguồn ngoại tệ cao, kích thích mở rộng thị trường, thu hút đầu tư.
+ Ngoài ra, đối với nền kinh tế: nhờ có nguồn thu từ khoáng sản mà nước ta có thể tích
luỹ được một số vốn lớn để đầu tư phát triển các ngành kinh tế còn lại, thúc đẩy quá
trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, góp phần tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu
ngành và cơ cấu lãnh thổ.
+Là nguồn cung cấp mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao.
Nguồn khoáng sản đa dạng, phong phú tạo điều kiện cho nước ta khai thác chế biến phục
vụ cho sản xuất trong nước, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài thu về ngoại tệ. Nhờ đó,
nước ta có thể tích luỹ vốn, đầu tư, phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy quá trình công
nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, góp phần tạo sự dịch chuyển cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh
vôi,…cũng rất phong phú. Đó chính là nguồn cung cấp những nguyên liệu tốt để phát
triển nền công nghiệp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
+Nước ta có nhiều loại khoáng sản có chất lượng tốt như than đá ở Quảng Ninh có chất
lượng tốt ngang với than đá Antraxit của vương quốc Anh.(Có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ
tấn (43,8%), hầu hết thuộc dòng an-tra-xít, tỷ lệ các-bon ổn định 80 – 90% - Trích
dẫn”Quảng Ninh” - nguồn https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ninh) Đó cũng
chính là nguyên liệu tốt để phát triển ngành công nghiệp và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị
cao về kinh tế.
+Ở nhiều mỏ khoáng sản có điều kiện khai thác rất thuận lợi như khai thác cát thủy tinh lộ
thiên ở bờ biển (Mỏ cát của Khánh Hòa nổi tiếng thế giới về chất lượng, ít tạp chất và đạt tiêu
chuẩn sản xuất thủy tinh cao cấp- trích dẫn “CÁT THỦY TINH NGUỒN NGUYÊN LIỆU
VÀNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP”- nguồn http://danhbongkimloai.com.vn )., Apatit
lộ thiên ở Lào Cai. Điều đó vừa giúp cho việc khai thác dễ dàng, vừa giúp làm hạ giá thành
sản phẩm khi đưa ra ngoài thì trường.
+Nước sông, biển quanh năm không bị đóng băng do thời tiết khí hậu nước ta là nắng nóng
quanh năm(Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí
tuyến hơn là phía xích đạoVị trí đó đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ
trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC.-.nguồn http://www.vietnamtourism.com) , vì thế ta có thể
khai thác tài nguyên quanh năm dưới biển mà chi phí lại thấp.
5.
Những điểm yếu của tài nguyên khoáng sản nước ta.
(Trích dẫn bài viết “Nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú” by Trần Thị
Thanh Huyền - nguồn http://moitruongviet.edu.vn/nuoc-ta-co-nguon-tai-nguyen-khoang-sanrat-phong-phu/)
+Tuy là nước có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng khoáng sản của ta đều là nhỏ (nhỏ
hơn 5% so với thế giới) cho nên khai thác khoáng sản ở nước ta chỉ hợp với quy mô vừa và
nhỏ.
+Điều kiện khai thác dầu mỏ ở biển Đông là rất khó khăn vì mỏ dầu khí nằm sâu dưới tận đáy
biển đòi hỏi phải nhờ đến kĩ thuật nước ngoài, như thế thì rất tốn kém. Không những thế còn
có nhiều mỏ khoáng lại phân bố gần biên giới sẽ dẫn đến việc khó khai thác mà khi khai thác
nhiều thì sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên khác.
vùng cát đỏ Bình Thuận thì cũng chỉ thu về được vài chục tỉ USD, bằng thu nhập của ngành
Dầu khí trong vài năm. Trong khi đó, nếu chế biến sâu thì nguồn tài nguyên này có giá trị gấp
từ 10-80 lần.
→ Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ có khoảng 0,01% tổng doanh thu
của các doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản dành cho đầu tư đổi mới công nghệ.
Mặc dù đã có khuyến cáo về ưu tiên nhập các thiết bị công nghệ từ các nước G7, song do
nguồn đầu tư hạn hẹp, nhiều doanh nghiệp không đủ năng lực cả về tài chính, thiết bị, công
nghệ lẫn kinh nghiệm nhưng vẫn được cấp mỏ, khai thác và chế biến bằng công nghệ lạc
hậu. Dẫn tới việc chế biến thô sơ không phù hợp với đặc điểm và thành phần khoáng vật của
quặng nên mức độ thu hồi thấp và không thu hồi được khoáng vật đi kèm. Nhiều đơn vị không
đầu tư tuyển tinh, xuất khẩu thô làm tổn thất một số quặng khác.
+Lãng phí, tổn thất tài nguyên: Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có khoảng trên 1.000
điểm khai thác - chế biến khoáng sản có đăng ký hợp pháp, bên cạnh hàng trăm nghìn cơ sở
khai thác bất hợp pháp khác cùng cạnh tranh với nhau. PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh - Chủ tịch
Tổng hội Địa chất Việt Nam cho biết, tổng kết 13 năm thực hiện Luật Khoáng sản (19962009) và trên thực tế đã thấy rất rõ, tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản tràn lan,
nhiều nơi vô tổ chức đã không những làm thất thoát lớn nguồn tài nguyên mà còn ảnh
hưởng xấu đến cơ sở hạ tầng, làm xuống cấp rất nhanh hệ thống đường xá, cầu cống,
phá hủy môi trường sống, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội cho địa phương nơi có mỏ.Trong
13 năm, cấp Trung ương đã cấp 353 giấy phép khai thác mỏ, cấp địa phương cấp tới 3.822
giấy phép khai thác mỏ. Các tỉnh cấp giấy phép khai thác mỏ nhiều nhất là Bình Thuận (200),
Vĩnh Long (155), Yên Bái (152), Cao Bằng (142), Lâm Đồng (136), Nghệ An (126), Lai
Châu (124), Lào Cai (121)... Nhiều loại khoáng sản như đồng, chì, kẽm, antimon, than… xuất
thô tiểu ngạch sang nước ngoài làm thất thoát đáng kể và cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của
đất nước.
Kết quả nghiên cứu gần đây của các chuyên gia Viện Tư vấn phát triển (CODE) cũng chứng
minh rằng, mặc dù Luật Khoáng sản quy định hạn chế khai thác xuất khẩu sản phẩm thô, song
hầu hết các doanh nghiệp khai thác của Việt Nam hiện nay muốn thu lợi nhuận nhanh nên chỉ
chú trọng khai thác xuất khẩu dừng lại ở mức quặng và tinh quặng. Vì vậy, giá trị và
hiệu quả sử dụng thấp, chưa tương xứng với giá trị tài nguyên khoáng sản, đồng thời gây lãng
phí rất lớn tài nguyên do không tận dụng được đáng kể sản phẩm khoáng sản khác đi
thu thuế tài nguyên ngoài dầu khí chỉ đạt từ 0,9 - 1,1% tổng thu ngân sách nhà nước trong giai
đoạn 2011 – 2013.(Trích dẫn: ”Chính sách thuế tài nguyên còn kẽ hở để doanh nghiệp trốn
thuế” - nguồn https://bnews.vn/chinh-sach-thue-tai-nguyen-con-ke-ho-de-doanh-nghiep-tronthue-/15532.html).
+Vận chuyển, buôn bán lậu... đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương, dẫn tới
thất thu ngân sách. VD: Ông Đỗ Ngọc Toàn, Phó cục trưởng Cục phòng chống buôn lậu
và tội phạm, Bộ đội biên phòng nhận diện: Than được các đối tượng gom mua trôi nổi từ
trên bờ, không có nguồn gốc. Hàng hóa này được các đối tượng hợp thức hóa bằng
những hóa đơn đã sử dụng rồi sửa ngày, tháng, sau đó ghi nguồn gốc cũng như giá trị của
lô hàng.( Trích dẫn: “Buôn lậu khoáng sản: Nhận diện hành vi và biện pháp ngăn chặn” nguồn http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/phap-luat-kinh-doanh/buon-laukhoang-san-nhan-dien-hanh-vi-va-bien-phap-ngan-chan-105303.html)
+Những tác động đến môi trường: (Nguồn:nvcuong1992.violet.vn/present/khoang-san-vietnam-6617493.html)
+ Ô nhiễm không khí, nguồn nước: Phương pháp khai thác tại các mỏ hiện nay chủ yếu
là khai thác lộ thiên bằng cơ giới hoặc thủ công. Yếu tố chính gây tác động đến môi trường là
ở các khai trường mỏ và trên đường vận chuyển nguyên liệu, bãi thải làm phát sinh các khí
độc hại, bụi và nước thải. Nồng độ khí độc hại và bụi ở nhiều khu vực vượt quá tiêu chuẩn
cho phép nhất là những nơi tập trung nhiều mỏ đang khai thác. Tại một số mỏ trong quá trình
sản xuất không được xử lý đã làm chết hoa màu của nhân dân.
VD: Để sản xuất 1 tấn than, doanh nghiệp cần bóc đi từ 8 đến 10 m³ đất phủ và thải từ 1
đến 3 m³ nước thải mỏ. Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp
Than và Khoáng sản Việt Nam đã thải ra môi trường 182,6 triệu m³ đất đá, khoảng 70 triệu
m³ nước thải mỏ dẫn đến một số vùng thuộc tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động
như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm phả…(Trích dẫn:”Khai thác khoáng sản đang gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng”- http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc-phap-luat-bao-ve-moitruong.aspx?ItemID=23)
+ Ảnh hưởng đến các nguồn tài nguyên khác:
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ che phủ do
lớp phủ thực vật bị suy giảm, đất đai bị thoái hoá, dẫn đến tiềm ẩn nhiều tai biến địa chất như
việc khai thác đất đồi. Trong mùa mưa, đất đá thải thường trôi lấp đất nông nghiệp. Quá trình
rửa trôi làm thay đổi dòng chảy gây ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường nước (gồm nước
ngầm, nước mặt); bề mặt đất đai, thổ nhưỡng bị biến dạng;lớp đất phủ bị phá huỷ, diện tích
đất canh tác bị thu hẹp.Nhiều khu vực mỏ đã kết thúc khai thác, nhưng việc hoàn thổ chưa
được thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy trình. Việc dự trữ lớp đất mặt (lớp đất phủ là
lượng, khai thác và chế biến khoáng sản. Hợp tác để chuyển giao công nghệ là vấn đề quan
trọng hàng đầu, là giải pháp cần thiết nhất cho vấn đề khoáng sản của nước ta hiện nay.
+Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ vật chất hạ tầng: Trang bị kỹ thuật hạ tầng tốt là điều
kiện đảm bảo cho các quy trình sản xuất được tiến hành thường xuyên liên tục và mang lại
hiệu quả. Vì thế, chính sách đầu tư vào để xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở xý nghiệp
khai thác và chế biến là hết sức cần thiết. Cơ sở vật chất hạ tầng là xương sống của ngành
công nghiệp nói chung và của ngành khai thác chế biến khoáng sản nói riêng. Chúng ta cần
tập trung và xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở chế biến khoáng sản. Xây dựng đường giao
thông hệ thống các điều kiện về vật chất và kỹ thuật khác phục vụ cho việc thăm dò, khai thác
và chế biến khoáng sản.
+Đẩy mạnh việc xuất khẩu các mặt hàng khoáng sản đã qua chế biến: Tất cả các loại sản
phẩm khi đã qua chế biến đều cho giá trị lớn hơn rất nhiều lần so với sản phẩm thô ban đầu.
Khoáng sản cũng là một loại mặt hàng như thế. Do từ nhiều năm trở lại nay, chúng ta thường
xuất khẩu chủ yếu là các loại khoáng sản thô chưa qua chế biến. Đó là một thiệt thòi và lãng
phí to lớn cho nước ta. Từ khi xuất hiện các ngành luyện kim, hóa dầu, chúng ta đã phần nào
khắc phục được những hạn chế đó. Vậy giải pháp vo cùng quan trọng đối với việc nâng cao
hiệu quẩ kinh tế cho khoáng sản nước ta là phải tăng cường hơn nữa việc xuất khẩu khoáng
sản đã tinh chế, mà tốt hơn là đã chế biến thành sản phẩm. Muốn vậy công nghiệp chế biến
khoáng sản phải được đầu tư và phát triển hơn nữa.
+Bên cạnh đó, nước ta cần đẩy mạnh hợp tác kinh tế với các nước phát triển, đặc biệt là các
nước có công nghệ cao trong khai thác và chế biến khoáng sản để có thể nâng cao hơn nữa
trình độ khai thác và chế biến khoáng sản ở nước ta. Đó cũng là một trong những yếu tố tạo
cơ sở cho các sản phẩm khoáng sản đã qua chế biến ngày càng phong phú hơn , phục vụ cho
xuất khẩu.
+ Chính sách thu hút đầu tư:
Đầu tư ở đây không chỉ là đầu tư về mặt nguồn vốn mà còn là sự đầu tư về mặt khoa học và
công nghệ. Chính sách thu hút đầu tư nếu được thực hiện tốt thì sẽ là một động lực to lớn cho
việc khai thác và chế biến khoáng sản của nước ta ngày càng phát triển.
Những chính sách về thu hút đầu tư có thể kể đến:
-Có chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các nhà đầu tư khi họ tham gia đầu tư cho
Đó là xử lý mức độ nặng đối với những trường hợp vi phạm quy định của luật pháp về khai
thác khoáng sản trái phép. Tăng cường khoanh vùng bảo vệ các mỏ và điểm khoáng sản có
giá trị kinh tế, như than đá, các mỏ kim loại, cát thủy tinh. Các loại khoáng sản quý và
hiếm… Tạo thêm ngành nghề khuyến khích người dân tham gia, cải thiện đời sống kinh tế
cho họ.
Cần phải có chính sách quản lý khoáng sản xuất khẩu, nhằm tránh tình trạng thất thoát nguồn
khoáng sản của quốc gia.
+ Giải pháp giáo dục ý thức của người dân về vấn đề khoáng sản:
+Cần có các chương trình tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao ý thức
bảo vệ nguồn khoáng sản của quốc gia. Làm rõ vai trò to lớn của tài nguyên khoáng sản đối
với các hoạt động sản xuất kinh tế và cuộc sống của con người, giúp họ hiểu và có thái độ
đúng đắn đối với vấn đề bảo vệ tài nguyên khoáng sản nói riêng, các loại tài nguyên nói
chung.
+ Đưa vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên vào chương trình giáo dục phổ thông, và tổ
chức các chương trình tuyên truyền là những biện pháp có thể nói là mang lại hiệu quả cao
nhất trong vấn đề bảo vệ tài nguyên.
Cần cung cấp những hiểu biêt cơ bản về hậu quả của việc khai thác khoáng sản không quan
tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường đến với các nhà đầu tư, và phải lấy đó làm tiêu chí để lựa
chọn nhà đầu tư cho việc thăm dò,khai thác khoáng sản.
Phần III. Kết luận.
Tài nguyên khoáng sản là một nguồn của cải quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con
người, là một nguồn lực to lớn để phát triển kinh tế xã hội. Đối với một nước có nền kinh tế
chưa phát triển mạnh như nước ta hiện nay thì tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên
khoáng sản nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng. Chúng ta nhận thức được điều đó,
nhưng chúng ta làm gì để phát huy được tiềm năng kháng sản của đất nước là một vấn đề
không dễ dàng.Đã có những thành công, những hiệu quả kinh tế nhất định nhưng cũng vấp
phải nhiều vấn đề khó giải quyết.Việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên khoáng sản
đang đặt ra nhiều thách thức cho chúng ta. Nhất là trong quản lý việc khai thác, chế biến
khoáng sản. Tuy nhiên, trong điều kiện mới của nền kinh tế đang có nhiều khởi sắc, chúng ta
sẽ tận dụng những tiềm năng của quốc gia để cải thiện hơn nữa vần đề khai thác sử dụng tài