ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG ĐÌNH THANH
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI .7
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm của Đảng ta về
công bằng xã hội. 7
1.1.1. Những quan điểm trƣớc Mác về công bằng xã hội. 7
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin về cụng bằng xã hội. 10
1.1.3. Quan điểm của Đảng ta về công bằng xã hội. 17
1.2. Vai trũ của cụng bằng xó hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng
định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 23
1.2.1. Khái niệm cụng bằng xã hội. 23
1.2.2. Vai trũ của cụng bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng
định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam .26
1.3. Kinh nghiệm thực hiện cụng bằng xã hội ở một số nƣớc trên thế giới 28
1.3.1. Kinh nghiệm của Liên Xô và các nƣớc Đông Âu. 28
1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc. 29
1.3.3. Kinh nghiệm của các nƣớc Đông Nam Á 33
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
VIỆT NAM 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp thì công bằng xã hội
luôn là khát vọng và mục tiêu đấu tranh của con người. Ngày nay, giá trị thời đại
của vấn đề này càng gia tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự phát triển
của khoa học - công nghệ. Nhu cầu về quyền con người… đã trở thành vấn đề có
tính toàn cầu.
Không phải ngẫu nhiên mà trong những thập kỷ gần đây, công bằng xã hội
trở thành một tiêu chí, điều kiện khi tiếp cận các khái niệm “phát triển bền vững”
và “tiến bộ xã hội”. Với ý nghĩa đó, công bằng xã hội đang và sẽ là những thách
thức lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia trong thời đại ngày nay.
Ở Việt Nam hiện nay, với khát vọng: “dân giàu, nước mạnh, xã hội, công
bằng, dân chủ, văn minh” là mục tiêu hàng đầu mà nhân dân ta mong muốn đạt
tới trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng làm thế nào để thực hiện
mục tiêu đó trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường - nền kinh tế dẫn đến
sự tăng trưởng kinh tế cao, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh sự bất công xã
hội, sự phân hoá giàu - nghèo ngày càng gia tăng?
Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, vấn đề công bằng xã hội đã
được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam chú ý tới và có thể coi nó như “một điểm
nóng” của các vấn đề xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: Trong bối cảnh hiện nay, ở nước ta khi mà xã
hội chưa giàu có, của cải vật chất còn hạn chế, liệu chúng ta có thực hiện được
công bằng xã hội hay không hay phải chờ khi kinh tế phát triển mới có điều kiện
thực hiện công bằng xã hội?
Về vấn đề này, một số quan điểm cho rằng, không thể thực hiện công bằng
xã hội trong lúc này. Một số quan điểm khác lại cho rằng, thực hiện được nhưng
2
biên
+ “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời
kỳ đổi mới - Vấn đề và giải pháp” do TS. Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm đề tài,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006.
+ “Vai trò của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội” của Nguyễn Minh
Hoàn, Tạp chí Triết học, số 11 /2004.
+ “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay” của Lương Việt Hải, Tạp chí Triết học, số 4 /2004.
+ “Công bằng xã hội ở nước ta hiện nay- Một số thành tựu và vấn đề đặt
ra” của TS. Nguyễn Thị Nga, Tạp chí Lý luận chính trị, tháng 10 /2005.
+ “Công bằng xã hội - mục tiêu cốt lõi trong chính sách xã hội của Đảng
ta” của Bùi Văn Nhơn, Tạp chí Cộng sản, số 9 /2007.
+ “Những vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội” của Nguyễn Tấn Hùng.
Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 7/ 1996.
+ “Đảm bảo quyền con người trong thực hiện chính sách xã hội ở Việt
Nam” của Nguyễn Thị Báo, Tạp chí Cộng sản, số 10 /2007.
+ “Công bằng xã hội trong chính sách bảo trợ xã hội với tăng trưởng kinh
tế” của Nguyễn Hữu Hải, Tạp chí Cộng sản số 10/2007.
+ “Về phân tầng xã hội và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” của Trịnh
Duy Luân và Bùi Thế Cường, Tạp chí Xã hội học, số 2/2001.
4
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các nhà khoa học đăng trên các báo và
tạp chí bàn về vấn đề công bằng xã hội ở Việt Nam và trên thế giới trong thời
gian gần đây. Tuy nhiên, vẫn chưa có tác giả nào đề cập một cách trực tiếp dưới
góc độ kinh tế - chính trị như tên đề tài đã nêu ra. Những tài liệu nêu trên chứa
đựng những giá trị khoa học rất quý giá, được tác giả tiếp thu, kế thừa và phát
triển trong luận văn này
3. Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng của thực hiện công
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị trong các công trình khoa học
đã nghiên cứu để phục vụ cho mục đích của luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã dùng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp,
trừu tượng và cụ thể… nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra.
6. Đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần làm sáng tỏ vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong
quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp thích hợp nhằm giải quyết tốt
6
vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn có
thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng vào
thực tiễn sau này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về công bằng xã hội
Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện công bằng xã hội trong quá trình phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Chƣơng 3: Một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LÝ VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
hiện từ sự đa dạng của nhu cầu của con người và từ đó xuất hiện các dạng phân
công lao động để thoả mãn nhu cầu ấy.
Vì vậy, trong xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau và do đó
không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người được. Công lý là ở chỗ mỗi
hạng người làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình
và biết phận mình
Arixtốt (384-322 Tr.CN) cho rằng: Việc phân chia giai cấp và địa vị giai
cấp là một trật tự tự nhiên. Công bằng là sự đối xử ngang nhau, bình đẳng chỉ đối
với những người trong cùng một giai cấp, còn những người ở giai cấp khác nhau
thì công bằng và bình đẳng giai cấp khác nhau.
Tômat Hôpxơ (1858-1679) nhà triết học nổi tiếng đại biểu cho chủ nghĩa
duy vật Anh thế kỷ XVII cho rằng: Con người là giống nhau mà tạo hoá đã ban
cho nên con người phải được công bằng và bình đẳng, nhưng con người thì lại có
tính tham lam và ích kỷ nên không thể có sự bình đẳng và công bằng
Từ sự phân tích đó, ông đã chỉ ra rằng: Để đi đến sự hoà hợp, công bằng
giữa con người với con người thì phải có một lực lượng đứng trên để dàn xếp các
lợi ích cá nhân, đó là Nhà nước
Như vậy, Hốpxơ đã có tư tưởng duy vật về các hiện tượng xã hội. Tuy
nhiên, ông không thấy được Nhà nước cũng mang bản chất giai cấp của nó, trong
9
xã hội có đối kháng giai cấp, Nhà nước không thể nào thiết lập được sự công
bằng chung cho toàn xã hội
Imanuen Cantơ (1724-1804) đại biểu của nền triết học cổ điển Đức, ông
có những đóng góp hết sức to lớn vào tư tưởng công bằng xã hội. Theo ông,
công bằng xã hội bao gồm công bằng và bảo hộ, công bằng trong trao đổi và
công bằng trong phân phối. Trong đó công bằng trong phân phối là quan trọng
nhất. Đây là tư tưởng tiến bộ của ông mà sau này được nhiều người thừa kế
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng: Xanhximông (người Pháp), Phuriê
(người Pháp) và Ô- Oen (người Anh) đã phê phán xã hội đương thời được xây
dựng trên nền tảng tư hữu- nguyên nhân của mọi bất công xã hội. Đồng thời các
xã hội với bình đẳng xã hội.
Các Mác chỉ rõ rằng, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội sự phân phối
công bằng đó chẳng những chưa loại trừ được mà còn hàm chứa trong nó sự
chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã
hội vì: “với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau
vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh hơn người kia,
người này vẫn giàu hơn người kia” [30, tr.479] thành thử “muốn tránh tất cả
những thiếu sót ấy thì quyền nói cho đúng ra là phải không ngang nhau, chứ
không phải là ngang nhau” [30, tr.479-480]. Đó vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót
của nguyên tắc phân phối theo lao động- một thiếu sót “không thể tránh khỏi
trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản” [30, tr.480].
11
* Quan điểm của V.I.Lênin
Trong một số tác phẩm của mình, khi đề cập đến vấn đề công bằng xã hội
trong chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin cho rằng: “như thế là trong giai đoạn đầu của
xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội),
“pháp quyền tư sản” chưa bị xoá bỏ hoàn toàn mà chỉ bị xoá bỏ một phần, chỉ bị
xoá bỏ với mức độ phù hợp với cuộc cách mạng kinh tế đã được hoàn thành,
nghĩa là chỉ trong phạm vi tư liệu sản xuất thôi. “Pháp quyền tư sản” thừa nhận
tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân. Chủ nghĩa xã hội biến tư liệu sản
xuất thành tài sản chung” [29, tr.116].
Đặc biệt, V.I.Lênin cũng rất chú ý đến công bằng trong phân phối lao
động. Ông cho rằng; “người nào không làm thì không có ăn”. Nguyên tắc này đã
được thực hiện “số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số lượng sản phẩm
ngang nhau” [29, tr.116].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì phải thiết lập những tiền đề
kinh tế ngày càng cao cho việc thực hiện công bằng xã hội, không thể có công
bằng xã hội đích thực trong một xã hội nghèo khổ, kém phát triển. Đồng thời,
chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đề cập đến một xã hội giàu có, của cải dư thừa nhưng
lại thiếu công bằng trong phân phối, tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng
động không còn là phương tiện để sinh sống nữa mà là một nhu cầu hoạt động và
phát triển. Khi đó, cá nhân được phát triển một cách toàn diện, sức sản xuất xã
hội sẽ có sự tiến bộ vượt bậc chưa từng có trong lịch sử, của cải trở nên dư thừa
“chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp
13
quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình: Làm theo năng lực,
hưởng theo nhu cầu!” [31, tr.36].
Tóm lại: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong giai đoạn thấp
của chủ nghĩa cộng sản, mặc dù chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã được
thiết lập song phương thức phân phối tương ứng đó vẫn chưa đạt tới sự công
bằng thật sự. Đó mới chỉ là một bước tiến bộ nhất định bước đầu về công bằng
xã hội. Điều quan trọng là cùng với chế độ công hữu thì sản xuất càng phải phát
triển, mọi cá nhân phải có cơ hội phát huy mọi tiềm năng để vươn tới sự ngang
nhau về năng lực, điều kiện, khi đó mới có thể đạt được sự công bằng tuyệt đối
Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Người luôn coi công
bằng xã hội gắn với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản là phương thức duy nhất đúng hợp lòng người để thực hiện công bằng xã
hội: “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không
phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên
quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình và hạnh
phúc” [22, tr.115].
Người viết: “Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản
và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân
dân, trước hết là nhân dân lao động “chủ nghĩa xã hội là gì? Là mọi người ăn
no, mặc ấm, tự do” [33, tr.22].
Người nói: “có khi vật tư hàng hoá không thiếu mà phân phối không đúng
thì gây ra căng thẳng không cần thiết. Trong công tác lưu thông phân phối có 2
điều quan trọng luôn phải nhớ:
Do đó, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ
và quyền lợi mà cụ thể là sự ngang nhau về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư
liệu sản xuất, bảo đảm cho mỗi người đều có thể phát huy mọi khả năng của
mình để vươn tới một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng xã hội không những chỉ là mục
tiêu mà còn là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước, là một yêu cầu
bức thiết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất là trong điều kiện nền
kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Theo Người, không nhất thiết là kinh tế phải
phát triển ở trình độ cao thì mới thực hiện được công bằng xã hội “không sợ
thiếu, chỉ sợ không công bằng”.
Người nhấn mạnh: “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng
v.v làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm
thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em. Thế ta đã
đến đấy chưa? Chưa đến. Công bằng xã hội không thể làm mau được mà phải
làm dần dần” [35, tr.219]
Người kiên quyết chống lại chủ nghĩa bình quân, “đồng cam cộng khổ là
một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng.
Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết. Bình quân chủ nghĩa là
trái với chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” [35, tr.386].
Như vậy, trong quan điểm Hồ Chí Minh, công bằng và bình đẳng là một
mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới, nó không phải là chủ nghĩa
bình quân cào bằng trong sự nghèo khổ. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không
ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, là phấn đấu:
Làm cho người nghèo thì đủ ăn
16
Người đủ ăn thì khá giả
Người khá giàu thì giàu thêm [33, tr.65]
Bên cạnh đó, Người rất quan tâm đến lợi ích cá nhân nhằm động viên mỗi
người không ngừng phấn đấu, cống hiến nhiều nhất cho xã hội, đồng thời đấu
tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân. Chính chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên gây ra
Công bằng xã hội phải được thể hiện đầy đủ trong việc giải quyết quan hệ
giữa phát triển kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, giải quyết hài hoà giữa
quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người. Công bằng xã hội là trách nhiệm chung
của Nhà nước, của toàn xã hội trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi của nhân dân
và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân hoàn thành nghĩa vụ, quyền lợi của mình
đối với Nhà nước và xã hội.
1.1.3. Quan điểm của Đảng ta về công bằng xã hội
Ở Việt Nam, lich sử dân tộc cho thấy công bằng xã hội luôn là vấn đề có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước. Trải qua gần
1000 năm Bắc thuộc và với những đặc điểm riêng trong quá trình hình thành
quốc gia, quan niệm công bằng xã hội của người Việt Nam không thể không chịu
ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy nhiên, nó không phải là bản sao của hệ tư tưởng
đó trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Cũng là cách nhìn về vị thế bất công của con người trong xã hội phong
kiến, song cha ông ta lại có cái nhìn hết sức công bằng và lạc quan như:
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa đi quét lá đa
18
Bao giờ dân nổi quan qua
Con vua thất thế lại ra ở chùa
(ca dao)
Hoặc khôi hài như:
Miệng nhà quan có gang có thép
Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm
(tục ngữ)
Không chỉ như vậy, quan niệm công bằng xã hội của Người Việt trong
lịch sử còn được thể hiện qua cách nhân dân ghi nhớ, tôn vinh các anh hùng và
những người có công với nước (truyền thuyết, đền thờ, lễ hội…); qua quy chế
tuyển dụng nhân tài (thi cử và tiến cử); qua chế độ đãi ngộ quan lại; qua chế độ
thưởng, phạt nghiêm minh và trong những quy định khác của pháp luật.
cấp, thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp,
chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh,
thừa nhận sản xuất hàng hoá và quy luật sản xuất hàng hoá .
Tháng 8/1986, trong quá trình chuyển bị dự thảo Báo cáo chính trị trình
Đại hội VI, Bộ chính trị đã xem xét kỹ các vấn đề lớn trên lĩnh vực kinh tế và
đưa ra kết luận: Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công
nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc; đồng thời xác định cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
20
Trong cơ chế quản lý kinh tế lấy hạch toán làm trung tâm, đồng thời sử
dụng đúng quan hệ hàng hoá - tiền tệ, chính sách giá phải vận dụng quy luật giá
trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá. Đây là bước đột phá thứ ba có ý nghĩa lớn
trong quá trình đổi mới tư duy.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra
đường lối đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Đại
hội khẳng định dứt khoát chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội VI là bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình,
đưa nước ta tiến lên. Đại hội xác định: đảm bảo công bằng xã hội là một trong
năm mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Giải quyết việc
làm và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động là những vấn đề trọng tâm
của chính sách công bằng xã hội. Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều
kiện cụ thể của từng nước, chống thu nhập bất hợp pháp và đặc quyền, đặc lợi.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) với cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì vấn đề công
bằng xã hội được Đảng ta xác định đây là một nội dung của chính sách xã hội và
là điều kiện, động lực của tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội trong thời kỳ đổi
mới.
[15, tr.26].