SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO .............
TRƯỜNG THPT………………
-------------o0o------------
CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN MÔN
MÔN: NGỮ VĂN
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
GIẢI QUYẾT MỘT SỐ ĐỀ THI THPTQG
PHẦN THƠ VIỆT NAM 1945-1975
-
Người thực hiện:
Tổ phó chuyên môn Ngữ văn.
Đối tượng bồi dưỡng: học sinh Lớp 12.
Số tiết bồi dưỡng: 30.
Năm học .............
1
MỤC LỤC
Nội dung
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
III. PHẠM VI CHUYÊN ĐỀ
NỘI DUNG
A. HỆ THỐNG CÁC KIẾN THỨC SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ
1. Dạng đề đọc hiểu
2. Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí đặt ra trong tác phẩm
3. Dạng đề nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
4. Dạng đề so sánh văn học
5. Dạng đề nghị luận về một (hoặc hai) ý kiến bàn về văn học
6. Dạng đề liên quan đến đặc trưng của thơ
E. GIỚI THIỆU NHỮNG ĐỀ NÂNG CAO TỰ GIẢI
KẾT LUẬN: KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ TẠI ĐƠN VỊ NHÀ
Trang
1
1
5
5
6
6
6
6
6
6
6
6
6
8
9
9
11
13
chương trình và phương pháp giảng dạy là vấn đề then chốt. Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã từng bước thực hiện lộ trình đổi mới giáo
dục trong đó có đổi mới hình thức thi cử và coi đây như một "cú
hích thay đổi" tác động đến sự đổi mới phương pháp giáo dục của
mỗi giáo viên và mỗi nhà trường. Chỉ có đổi mới cơ bản phương
pháp dạy và học theo hướng phát triển năng lực người học chúng
ta mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có
tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh thế giới đang hướng
tới nền kinh tế tri thức.
Ở bậc học THPT hiện nay, Ngữ văn là một trong ba môn có tính chất công cụ,
bắt buộc trong kì thi trung học phổ thông quốc gia, nhiều nhà trường đã chú trọng
đến đổi mới phương pháp dạy học bộ môn này nhưng vị trí của nó ngày càng
khiêm tốn. Tỉnh Vĩnh Phúc mặc dù đứng trong tốp đầu tính theo trung bình điểm
thi của thí sinh dự thi thế nhưng số lượng học sinh chọn điểm thi môn Ngữ văn
trong kì thi THPT quốc gia để xét Đại học chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Ở các nhà trường
THPT, trung bình cứ 10 lớp thì có tới 7-8 lớp ban A,B lớp ban C,D rất ít (có trường
gộp cả ban C,D lại mới được một lớp) và không phải em nào đăng kí cũng học tốt
môn Ngữ văn.
Qua tìm hiểu thực tế dạy học Ngữ văn, cá nhân tôi tự nhận thấy việc học sinh
trong nhà trường phổ thông dần dần mất đi niềm yêu thích văn chương xuất phát từ
những nguyên nhân sau:
Về phía giáo viên: mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học văn
nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem
lại hiệu quả như mong muốn. Vấn đề quan điểm và lý luận phương pháp dạy học
Ngữ văn mới chỉ đến với người dạy qua một số tài liệu có tầm vĩ mô, thiên về cung
cấp lý thuyết hơn là hướng dẫn thực hành. Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc
tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho người học con
đường tích cực chủ động để thu nhận kiến thức. Giờ học tác phẩm văn chương vì
thế vẫn chưa thu hút được sự chú ý của người học. Một bộ phận không nhỏ học
sinh vẫn tỏ ra bàng quan, thờ ơ với văn chương.
quốc gia phần thơ Việt Nam 1945 – 1975.
Trường THPT Ngô Gia Tự là một trong những trường miền núi xa xôi của tỉnh
Vĩnh Phúc, công tác dạy và học còn gặp nhiều khó khăn nhưng cán bộ quản lý và
giáo viên nhà trường đã nắm bắt được tinh thần đổi mới của Ngành và quyết tâm
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao bằng những việc làm cụ thể trong công
tác chỉ đạo và giảng dạy. Đời sống kinh tế trong vùng còn hạn chế so với nhiều địa
phương khác song kết quả học tập của con em nhân dân tương đối cao. Niềm vinh
dự lớn lao của ngôi trường mang tên người cộng sản kiên trung là nhiều năm nay,
nhà trường liên tục đứng trong tốp 200 trường có điểm trung bình thi đại học cao
nhất cả nước. Có được thành công vẻ vang này là do Ban giám hiệu nhà trường
luôn ủng hộ, tạo điều kiện để các tổ ứng dụng những sáng kiến kinh nghiệm,
chuyên đề chuyên môn, nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Chuyên đề Hướng
dẫn học sinh giải quyết một số đề ôn thi THPT quốc gia phần thơ Việt Nam
1945 – 1975 được thực hiện tại trường chúng tôi suốt từ năm học 2012-2013 cho
đến nay.
Quá trình thực hiện và cải tiến chuyên đề, tổ chúng tôi nhận thấy: chuyên đề đã
góp phần không nhỏ thay đổi thực trạng dạy học môn Ngữ văn của nhà trường.
Nhiều năm liền, trong đề thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh, đề thi Đại học cả hai ban
C-D đều có câu hỏi vào đúng phần chuyên đề này. Năm 2015, phần đọc hiểu đề thi
Ngữ văn kì thi THPTQG cũng yêu cầu học sinh có hiểu biết về thể thơ, từ ngữ hình
ảnh thơ, các biện pháp tu từ và cách đọc thơ để trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4 sau
khi đọc bài thơ nằm ngoài chương trình sách giáo khoa (Bài thơ Hát về một hòn
đảo của Trần Đăng Khoa). Kì thi HSG môn Ngữ văn cấp tỉnh vừa diễn ra ngày
1/11/2015 vừa qua cũng yêu cầu học sinh nắm được đặc trưng ngôn ngữ của thơ và
4
làm rõ chất nhạc, chất hoạ trong bài thơ Tây Tiến và đoạn trích Việt Bắc. Nhờ được
cung cấp đầy đủ kiến thức về đặc trưng của thơ, các em học sinh làm bài đạt kết
quả cao, xếp số 1 toàn tỉnh về giải đồng đội. Biết rằng kết quả bài thi là tổng hợp
các em giải quyết linh hoạt những đề Ngữ văn yêu cầu cao về kiến thức, kĩ năng.
Để giải quyết một đề Ngữ văn có liên quan đến tác phẩm thơ, ngoài kiến thức về
tác phẩm học sinh cần nắm chắc kiến thức về: tiếp nhận văn học, giai đoạn văn
học, đặc trưng thể loại thơ và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Trong khi đó, các
tài liệu trên chỉ có tính chất giới thiệu tản mạn, chưa tập trung vì thế cũng chưa
giúp học sinh có cái nhìn khái quát nhất để giải quyết tốt các đề văn có liên quan
các vấn đề then chốt trên.
Chuyên đề này, chúng tôi xin được trình bày sự cần thiết của việc tích hợp
các kiến thức về đặc trưng thể loại thơ, cách đọc – hiểu tác phẩm thơ, giai đoạn văn
học và phong cách nghệ thuật của nhà thơ trong việc tìm ra phương pháp phân tích,
cảm thụ, khai thác các góc độ khác nhau trong phần các tác phẩm thơ lớp 12, gợi ý
giải một số đề cụ thể, thường gặp trong các kì thi Đại học – Cao đẳng trước đây và
5
kì thi THPTQG hiện nay đồng thời đề xuất một số dạng bài tập tự giải cho học
sinh.
III. PHẠM VI CHUYÊN ĐỀ
Trong khuôn khổ một chuyên đề nhỏ, chúng tôi chỉ khai thác một số dạng đề
văn có liên quan đến 4 tác phẩm (đoạn trích) thơ tiêu biểu của văn học giai đoạn từ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975 được đưa vào giảng dạy trong chương
trình Ngữ văn 12: Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Sóng (Xuân
Quỳnh), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm).
NỘI DUNG
A. HỆ THỐNG CÁC KIẾN THỨC SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ
I. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LOẠI THỂ VĂN HỌC.
1. Khái niệm loại thể văn học.
Loại thể văn học là: “Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học, vốn đa
dạng đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, về một số dấu hiệu nhất định.
+ Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp. tự do, thơ văn xuôi...
Các bài thơ được tìm hiểu trong chuyên đề thuộc nhóm các thể thơ hiện đại.
b. Đặc trưng của thơ
- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ
tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng
tượng phong phú, yếu tố trữ tình giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm. Thơ là tiếng nói
của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời. Thơ chú
trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách quan. Lê
Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”, hay như nhà thơ Tố
Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã ứ đầy”. Nhà thơ Pháp
Alfret de Mussé chia sẻ: "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc
bàn tay đang viết", "nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung
động". Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có. Nói về điều này, nhà văn
M. Gorki cũng cho rằng: “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm. Tình cảm
trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn
độc, tự nó nảy sinh và phát triển. Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm
xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc
sống, không có thơ”.
- Thơ không chỉ là cảm xúc mà cần cả lí trí. Đó là chiều sâu của nhận
thức. Nếu thơ chỉ thiên về cảm xúc, bài thơ sẽ thiếu chất trí tuệ, thiếu sự suy tưởng
triết lí mang tính khái quát về cuộc sống.
- Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người
trực tiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện. Nhân vật trữ
tình là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm của nhà
thơ. Tuy vậy, không thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả.
- Những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tại và
mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối
dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này. Thơ thường
gọi là "phu chữ". Maiacôpxki đã từng viết:
Nhà thơ trả chữ
Với giá cắt cổ
Như khai thác
Chất hiếm “rađiom”
Lấy một gam
Phải mất hàng năm lao lực
Lấy một chữ
Phải mất hàng tấn quặng ngôn từ.
Và thơ ca khi trở lại với con người và cuộc sống sẽ góp phần làm cho tiếng Việt
ngày thêm giàu có, trong sáng. "Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu
hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự
kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con
người" (Hữu Đạt). "Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng quý báu và lâu đời của dân
tộc" (Bác Hồ).
Từ những đặc trưng của thơ, thi sĩ Sóng Hồng có viết: “Thơ là một hình thái
nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện
sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một cách
nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những
hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác
thường".
c.Yêu cầu và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ
Chúng ta biết rằng một tác phẩm thơ là công trình nghệ thuật mà nhà thơ
mất bao công sức, bao trải nghiệm để sáng tạo nên. Nó thật sự có giá trị khi mang
ý nghĩa đời sống, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư tình cảm, nhận thức của con
người. Khi đọc hiểu tác phẩm thơ, chúng ta cần tiến hành theo các bước sau đây:
- Cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là
cơ sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm.
- Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ. Qua việc đọc, phải xác định
được chủ đề, chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện ở hai dạng: cái tôi
nhà thơ không thể không khổ công đi tìm ý, tứ, câu, chữ và bao yếu tố khác trong
thơ và ngoài thơ.
Giá trị và sức sống của tác phẩm thơ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng cảm
thụ của người tiếp nhận. Nhà thơ Môsac từng quan niệm: “Tác phẩm thực ra chỉ
được tạo thành bởi những kí hiệu câm lặng, những ngôn ngữ chết, cho nên bản
thân nó chưa có giá trị gì, nếu có cũng chỉ là đôi chút. Cái quan trọng là vai trò
của người đọc. Chính bạn đọc sẽ tạo nên giá trị cho tác phẩm…”. Ông cũng khẳng
định: “không có bạn đọc thì không chỉ có sách của chúng ta mà cả những tác
phẩm của Hôme, Đăngtơ, Puskin, Đôxtôiepxki… tất cả chỉ là đống giấy chết”. Bởi
vậy nhân tố độc giả có vai trò đặc biệt trong đời sống văn học. Vì thế, mỗi học sinh
phải thấy được vai trò quan trọng của mình – trong tư cách người tiếp nhận tác
phẩm thơ. Trong dạy học tác phẩm văn học nói chung cũng như tác
phẩm thơ trữ tình nói riêng, quá trình tiếp nhận tác phẩm trở
thành quá trình "đồng sáng tạo".
2. Điều kì diệu của thơ và một số nhận định hay về thơ
a. Điều kì diệu của thơ
Thơ ca bắt rễ từ lòng người và nở hoa nơi từ ngữ. Sau câu thơ hồi hộp
những tâm tình (Chế Lan Viên). Thơ là một trong những loại hình kỳ diệu nhất,
“cõi thơ là cõi bồng phiêu” (Bùi Giáng). Đi tìm bản thể của thơ luôn là một hành
trình đầy bí ẩn. Chính vì lẽ đó, ở bất cứ nền văn học nào, việc kiến tạo hệ thống
quan niệm lý luận về thơ là vấn đề lý thuyết vô cùng quan trọng, góp phần định
hướng cho việc nghiên cứu và sáng tác thi ca.
9
Thơ ca hai chữ kì diệu mà muôn đời vẫn chưa tìm ra một định nghĩa vẹn
tròn, hoàn chỉnh: Thơ là gì? Thơ bắt nguồn từ đâu? Thơ có mãnh lực gì khiến hàng
ngàn tâm hồn rung động, hàng triệu trái tim thuần khiết thổn thức?
“Thơ ca là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim, thiêng
liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh
chỉ là những bông hoa làm bằng vỏ bào” (Pauxtôpxki). Nếu thơ là cánh diều, cuộc
đời làm nên hình hài cho thơ thì nghệ thuật lại là cơn gió nâng cánh diều tung bay.
Nếu thơ là đoá hướng dương, những gì tinh tuý của đất làm nên sức sống cho bông
hoa thì ánh sáng mặt trời nghệ thuật làm nên điều kì diệu của bông hoa đó. Thơ
đơn thuần không chỉ có cuộc đời, nếu thiếu nghệ thuật thì thơ trở thành một hòn
ngọc thô ráp chưa được mài giũa: “Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài. Cũng thành
vô dụng cũng hoài ngọc đi” (tục ngữ). Thơ ca cất cánh từ biển cuộc đời và bay cao
từ nguồn gió nghệ thuật. Nghệ thuật làm cho thơ trở nên đẹp đẽ, gieo vào lòng
người đọc những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời. Chính nghệ thuật là phương tiện biểu
hiện của thơ ca, giúp hoàn chỉnh thêm ý niệm về nghệ thuật, về đặc trưng của thơ
10
ca. Jacques Roubaud, một nhà thơ đương đại hàng đầu của Pháp đã nói: “Thơ là ký
ức bằng con số và nhịp điệu của ngôn ngữ”. Khác với văn xuôi, thơ là sự đồng
điệu giữa những nhịp đập của ngôn từ và sự dao động của tâm hồn. “Thơ là tiếng
nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi động chạm tới cuộc sống. Văn
xuôi lôi cuốn người như dòng nước, đưa ta đi từ điểm này qua điểm khác. Thơ chỉ
chọn ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo. Thơ là tổng
hợp, kết tinh. Văn xuôi cho phép không mười phần hoàn hảo, nhưng thơ thì luôn
luôn đòi hỏi sự toàn bích” (Nguyễn Đình Thi). Thơ có vần, có điệu. Thơ ẩn chứa
những cảm xúc tiềm tàng của thi sĩ mà văn xuôi không thể có. Nghệ thuật chính là
cái khám phá ra những cảm xúc đó, là cái đẹp của thi ca được nuôi dưỡng trên
mảnh đất hiện thực. Mỗi bài thơ, mỗi thi sĩ lại có bút pháp nghệ thuật riêng tô đậm
lên vẻ đẹp của thơ ca.
Thơ ca khơi dậy trong con người những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt đẹp, thanh
lọc tâm hồn con người, chắp cánh cho họ bay tới những ước mơ, khát vọng. Với
hệ thống nhịp điệu, cách gieo vần, ngôn từ trong thơ ca hàm súc, cô đọng, yếu tố
nhạc hoạ sử dụng đan xen, thơ là cuộc đời, là tình cảm nhưng không tách rời nghệ
thuật. Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật được tạo nên từ sự thống nhất của
Tử
6 "Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Không phải bất cứ điều Lê Hữu
11
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
gì cũng phải nói ra bằng thơ. Như thế mới là thơ có giá trị”.
“Làm thơ có ba điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự.
Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời. Thực tế bên
ngoài gây thành ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay,
chép việc xưa hay thuật chuyện hiện tại, đều tự nhiên có tinh
thần".
c. Một số nhận định hay về tác giả, tác phẩm thơ giai đoạn 1945 – 1975
Tác giả/
tác phẩm
Quang
Dũng
và bài thơ
Tây Tiến
Nội dung nhận định
" Thiên nhiên Tây bắc qua ngòi bút Quâng Dũng
được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng, vừa độc
đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm
áp".
Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng nhất của Quang Dũng.
Anh bước vào làng thơ cách mạng với bài thơ ấy.
Như có mối duyên ràng buộc, bài thơ gắn bó với
người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng
là người ta nhắc ngay đến bài Tây Tiến và ngược
lại.
Tây Tiến là một bài thơ có giá trị về tư tưởng, về
nghệ thuật. Bài thơ được viết ra với những màu sắc
thẩm mĩ phong phú.
Tây Tiến là đoá hoa thơ vào loại đẹp nhất của thơ
ca những năm kháng chiến chống thực dân Pháp/
Tây Tiến là thứ quả lạ trái mùa, một "lệch chuẩn"
tài hoa.
Đọc Tây Tiến như ngậm âm nhạc trong miệng.
Tây Tiến biên cương mờ lửa khói
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Hồi
Kim
Xuân Diệu
Giang Nam
Nguyễn
Đình Thi
Vũ Quần
Phương
SGV
văn
nâng
tập 1
Ngữ
12
cao
13
Thái độ toàn tâm, toàn ý với cách mạng là nguyên Hoài
nhân chính làm nên thành công của thơ anh.
Thanh
Tố Hữu
và đoạn
Dù viết về tình yêu đôi lứa hay tình yêu Tổ quốc, về
thế giới trẻ thơ hồn nhiên, trong trắng hay những
quan hệ nhân sinh muôn vẻ, thơ Xuân Quỳnh vẫn
nổi bật ở vẻ đẹp nữ tính.
Xuân Quỳnh đã triệt để tận dụng lối tổ chức theo
nguyên tắc tương xứng, hô ứng, trùng điệp. Nhất là
việc tạo ra các cặp từ, các vế câu, các cặp câu,
thậm chí ngay cả các khổ thơ cũng hình thành các
cặp đi liền kề, kế tiếp luân phiên đắp đổi nhau về
bằng - trắc nữa.
“Thơ Nguyễn Khoa Điềm… có sức liên tưởng
mạnh. Anh thường dẫn người đọc đi từ quá khứ đến
tương lai, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ sách vở đến
đời sống”
“Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất
liệu văn học và văn hoá dân gian. Câu
thơ dù ở thể thơ truyền thống hay thơ tự do bao
giờ cũng phảng phất phong vị của ca dao, tục ngữ.
Chất hiền minh của trí tuệ dân gian thấm đẫm trong
từng từ”
Chế
Viên
Lan
Báo
văn
nghệ số 50
ngày
“Vì khi làm nông nghiệp, số phận nhân dân đã gắn Tâm sự của
chặt với số phận dòng sông. Vậy thì văn hoá ắt phải Nguyễn
mang gương mặt dòng sông”
Khoa Điềm
“Ý tưởng xuyên suốt của tôi trong chương này Tâm sự của
là thể hiện một Đất nước của nhân dân, do đó, Nguyễn
từ ngữ, hình ảnh, chất liệu thơ được sử dụng đều Khoa Điềm
nhằm làm rõ ý tưởng này”
Chính chiều sâu của những giá trị văn hóa đã tạo Nguyễn
nên nét phong cách riêng làm nên gương mặt thơ Xuân Nam
Nguyễn Khoa Điềm.
3. Cần nhìn nhận các tác phẩm thơ được tìm hiểu trong chuyên đề trong sự
gắn bó với các đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 đến 1975
- Nền văn học vận động chủ yếu theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc
với vận mệnh chung của đất nước.
- Nền văn học hướng về đại chúng.
- Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
4. Phong cách nghệ thuật của nhà thơ
Phong cách nghệ thuật của nhà thơ thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn
từ trong việc đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ chưa từng có về cuộc
sống, con người thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo và những phương
thức, phương tiện thể hiện đặc thù mang đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo.
Biểu hiện phong cách nghệ thuật của nhà thơ:
+ Cách nhìn, cách cảm thụ giàu khám phá nghệ thuật.
+ Nét riêng trong lựa chọn, xử lí đề tài, xác định chủ đề.
+ Giọng điệu riêng biệt của tác phẩm.
+ Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật mang đậm dấu ấn riêng (thống nhất, ổn
định trong sử dụng các phương thức và phương tiện nghệ thuật).
3
Sóng
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn
phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa
chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát
vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.
4
Đất
Nước
(Trích)
Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc
nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về
đất nước, con người Việt Nam.
5/ Cách làm kiểu đề so sánh văn học (các khía cạnh của tác phẩm thơ)
Đây là một kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng
trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó đã ảnh hưởng ít nhiều
đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tập cho học
sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, chúng tôi xin đưa ra
một số gợi ý để cùng các em ôn tập, phục vụ cho bài thi Ngữ văn kì thi THPT quốc
gia:
Kiểu bài so sánh văn học về các khía cạnh của tác phẩm thơ thường yêu cầu
học sinh so sánh trên nhiều bình diện: đoạn thơ, hình tượng thơ, phong cách nhà
thơ thể hiện trong tác phẩm, nghệ thuật thể hiện, nội dung tư tưởng, cảm hứng…
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh.
THÂN BÀI:
1. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích).
2. Làm rõ đối tượng thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng
chủ yếu là thao tác lập luận phân tích).
3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện
nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh).
4. Lý giải sự khác biệt: thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối
cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng
thi pháp của thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ
yếu là thao tác lập luận phân tích).
KẾT BÀI:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
Lưu ý:
- Trên đây là dàn ý khái quát nhất về kiểu đề so sánh hai đối tượng. Trong
thực tế, đối tượng so sánh có thể nhiều hơn và trong một số trường hợp cụ thể,
cách trình bày có thể sắp xếp các luận điểm khác đôi chút so với lí thuyết để đáp
ứng tốt nhất yêu cầu của đề (yêu cầu người viết phải sáng tạo, không vận dụng
máy móc).
- Việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu, đến cách thức
làm kiểu bài này cho học sinh là thực sự rất cần thiết.
B. HỆ THỐNG (PHÂN LOẠI, DẤU HIỆU NHẬN BIẾT ĐẶC TRƯNG) CÁC
DẠNG BÀI TẬP ĐẶC TRƯNG CỦA CHUYÊN ĐỀ
Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấu trúc một đề Ngữ văn gồm
có 2 phần: Phần I Đọc hiểu (3 điểm); Phần II Làm văn có 2 câu hỏi (câu 1- nghị
luận xã hội chiếm 3 điểm, câu 2 - nghị luận văn học chiếm 4 điểm). Qua nghiên
cứu nội dung bài học, chuyên đề của chúng tôi tập trung vào 6 dạng đề sau (các
thời những học sinh có biểu hiện tiến bộ từ đó thổi bùng lên ở mỗi em ngọn lửa
đam mê, tình yêu văn chương.
- Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu để đánh giá mức độ nhận thức của
học sinh từ đó điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với tình
hình thực tế.
D. HỆ THỐNG CÁC VÍ DỤ, CÁC BÀI TẬP CỤ THỂ CÙNG LỜI GIẢI
MINH HOẠ CHO CHUYÊN ĐỀ
Yêu cầu chung :
- Hình thành các dạng câu hỏi cần cả 4 mức độ (nhận biết, thông hiểu,
vận dụng thấp, vận dụng cao) để kiểm tra được hiểu biết của học sinh ở các góc
độ sâu của tác phẩm, phong cách tác giả.
- Đánh giá được năng lực cảm thụ tác phẩm của học sinh.
- Phát hiện được khả năng tạo lập văn bản, xây dựng bài văn nghị luận.
- Giúp học sinh có cái nhìn nhiều chiều về tác giả - tác phẩm thơ, những
vấn đề lí luận về thơ đồng thời phân loại được học sinh theo năng lực.
I. VÍ DỤ LỜI GIẢI MINH HOẠ CHO MỘT ĐỀ VĂN CỤ THỂ TRONG
CHUYÊN ĐỀ
1. Mục tiêu đề thi
– Kiến thức: Phân tích thi phẩm Tây Tiến của Quang Dũng để làm sáng tỏ
một vấn đề lí luận văn học về mối quan hệ giữa đặc trưng của thơ và các loại hình
nghệ thuật gần gũi với nó. Đặc trưng của ngôn ngữ thơ (tính chính xác, tính hình
tượng, tính nhạc) khiến nó mang trong mình đặc điểm của các loại hình nghệ thuật
khác.
18
– Kĩ năng: Biết làm kiểu bài nghị luận văn học có vận dụng kết hợp các thao
tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận. Lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng,
diễn đạt lưu loát có cảm xúc, ngôn ngữ chọn lọc, không mắc chính tả, dùng từ, ngữ
pháp.
Tiến.
- Đánh giá
còn có màu sắc, Dũng và Hồng:
– Phân
vấn đề.
đường nét của bài
thơ - Thơ là
tích,
hội hoạ, thanh âm Tây Tiến. thơ?
chứng
của âm nhạc và
- Thơ là
minh
hình khối của
hoạ?
khẳng
chạm khắc (điêu
- Thơ là
định Tây
khắc). Tất cả
nhạc?
Tiến cũng
những biểu hiện
- Thơ là
là bài thơ
ấy phải được thể
chạm
giàu chất
hiện theo “một
khắc theo hoạ, chất
25
50
18,75
100 %
4. Biên soạn đề thi
19
Đề bài:
Thơ là thơ đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng.
(Sóng Hồng).
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua việc phân tích bài thơ Tây
Tiến của Quang Dũng hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
5. Minh hoạ phần hướng dẫn học sinh giải đề thi
Nội
dung
các
hoạt
động
Hoạt
động 1:
Nhận
thức đề
Hoạt động của giáo
viên và học sinh
GV: Chép đề. Hỏi:
Đề đặt ra vấn đề gì
cần giải quyết (luận
- Vùng tư liệu: Đặc trưng ngôn ngữ thơ, bài
thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
- Kiểu bài: kiểu bài nghị luận văn học có vận
dụng kết hợp các thao tác giải thích, phân tích,
chứng minh, bình luận.
- Yêu cầu về kỹ năng: Lập luận chặt chẽ, bố
cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát có cảm xúc, ngôn
ngữ chọn lọc, không mắc chính tả, dùng từ, ngữ
pháp (trong đó đề cao sáng tạo với những kiến
giải riêng hợp lí).
– Thái độ: Bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu
tiếng Việt. Từ đó học sinh có lòng say mê với
văn học Việt Nam và có lí tưởng sống đúng
đắn.
Phát triển năng lực sử dụng kiến thức, xử lí
thông tin, năng lực giải quyết vấn đề của học
sinh.
Hoạt
GV: Những chất liệu Các chất liệu cần huy động:
động 2: em sẽ chuẩn bị để - Hệ thống các luận điểm lớn, nhỏ (ý lớn, ý
Huy
giải quyết đề văn này nhỏ).
20
động
kíên
thức
(Chuẩn
và để lại ấn tượng sâu sắc.
Phát triển năng lực sử dụng kiến thức, năng
lực về phương pháp, năng lực cá nhân của
học sinh.
1/ Giới thiệu vấn đề nghị luận.
Hoàn thành một mở bài theo yêu cầu, sáng tạo,
có sức lôi cuốn.
Xin giới thiệu với các thầy cô mở bài của 1
em học sinh được tập thể lớp lựa chọn:
GV: Em hãy chọn
một nhận định trong
số các nhận định
chúng ta đã có từ đó
viết một mở bài gián
tiếp cho đề văn.
HS: Làm việc cá
“Phải phí tổn nghìn cân quặng chữ
nhân. Đọc mở bài
Mới thu về một chữ mà thôi,
mình
vừa
hoàn
Một chữ ấy làm cho rung động
thành. Các em còn
Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.”
lại nghe và nhận xét,
(Maiacôpxki)
góp ý.
Hoạt
động 4:
Giải
thích ý
kiến
của
Sóng
Hồng
GV:Thơ là thơ?
Thơ là nhạc?
Thơ là hoạ?
Thơ là chạm khắc?
Theo một cách riêng
cần hiểu như thế
nào? (chú ý chất liệu
ngôn ngữ và đặc
trưng của ngôn ngữ
thơ).
HS: thảo luận nhóm
bằng kĩ thuật mảnh
ghép.
Phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giao
tiếp Tiếng Việt, năng lực cá nhân, năng lực
giải quyết tình huống của học sinh.
2/ Giải thích ý kiến:
2.1 Thơ là thơ : Thơ trước hết phải là chính nó,
nghĩa là phải mang đầy đủ những đặc trưng
riêng khác với bất kì loại hình nghệ thuật nào:
khắc. Cũng vì tính tạo hình, ngôn ngữ thơ ca có
khả năng tạo dựng hình khối, đường nét sống
động, chân thực.
+ Một cách riêng: Phong cách nghệ thuật của
mỗi nhà thơ.
2.3 Tóm lại: Sóng Hồng đã khẳng định tính
chất kì diệu của thơ ca: thơ là thơ nhưng thơ
còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ, thanh
âm của âm nhạc và hình khối của chạm khắc
(điêu khắc). Thơ cất tiếng nhờ nhạc, đẹp lên
nhờ hoạ và kiêu hãnh vì được thể hiện bằng nét
chạm khắc. Tuy nhiên, tất cả những biểu hiện
ấy phải được thể hiện theo “một cách riêng”
nghĩa là nhà thơ phải có phong cách nghệ thuật
độc đáo.
(Cũng như nhận xét của Biêlinxki "Bản thân
văn học là toàn bộ nghệ thuật" hay "Thơ là kết
tinh của cái đẹp trong mọi hình thức nghệ
thuật").
Hoạt
động 5:
Phân
tích bài
thơ
Tây
Tiến để
chứng
minh
cho ý
phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Bài thơ
đươc in trong tập Mây đầu ô. Xuyên suốt bài
thơ là nỗi nhớ: nỗi nhớ da diết về những người
động đội và những ngày tháng, những kỉ niệm
không thể nào quên của chính tác giả trong
đoàn quân Tây Tiến, gắn với vùng đất miền Tây
hùng vĩ, hiểm trở và thơ mộng. Nỗi nhớ ấy đã
đánh thức mọi ấn tượng, kí ức để kết tinh thành
những hình ảnh sống động.
23
Nhóm 2: Chất hoạ
trong Tây Tiến.
Nhóm 3: Chất nhạc
trong Tây Tiến.
Nhóm 4: Phong cách
riêng của Quang
Dũng qua Tây Tiến.
Sau khi xong nhiệm
vụ, các nhóm cử đại
diện đi tham khảo
các nhóm còn lại để
nhận thức đầy đủ cả
4 yêu cầu.
GV: Nhận xét, kết
luận.
Hoạt
động 6:
về con đường hành quân gập ghềnh, trắc trở;
giọng điệu êm đềm man mác khi nói về thiên
nhiên thơ mộng trữ tình; giọng thơ vui tươi,
khoẻ khoắn khi tái hiện kỉ niệm về tình quân
dân thắm thiết trong đêm liên hoan (dẫn
chứng).
+ Đường nét của điêu khắc: chạm khắc bức
tượng đài về người lính Tây Tiến sống động,
chân thực, mang vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng, hào
hoa, lãng mạn mà bi tráng (dẫn chứng).
3.4 Bài thơ Tây Tiến thể hiện phong cách
riêng, độc đáo của Quang Dũng: bút pháp
lãng mạn và tinh thần bi tráng, hồn thơ bay
bổng và ngôn ngữ sáng tạo, tinh tế, tài hoa.
Phát triển năng lực thưởng thức tác phẩm
thơ/cảm thu thẩm mĩ (năng lực đặc thù của
môn Ngữ văn), năng lực trao đổi, năng lực
xử lí thông tin của học sinh.
4/ Đánh giá chung
4.1 Ý kiến đúng đắn, có giá trị của Sóng Hồng
đã khẳng định sức sống và vẻ đẹp kì diệu của
thơ ca: đặc trưng của ngôn ngữ thơ (tính chính
xác, tính hình tượng, tính nhạc) khiến nó mang
trong mình đặc điểm của các loại hình nghệ
24
tổng
kết,
cho phong cách nghệ thuật Quang Dũng, xứng
đáng là một trong những thi phẩm xuất sắc của
nền thi ca cách mạng Việt Nam.
4.3 Để sáng tác được những bài thơ hay, nhà
thơ không chỉ cần cảm xúc mãnh liệt, chân
thành mà còn cần có tài năng trong việc sử
dụng từ ngữ, hình ảnh, thanh điệu, nhịp điệu
thật độc đáo để tạo được phong cách riêng của
mình. Mỗi độc giả cần phải là người đọc “đồng
sáng tạo” với nhà thơ.
Học sinh hoàn thành một kết bài sáng tạo và để
lại ấn tượng với người đọc.
Xin giới thiệu với các thầy cô kết bài của 1
em học sinh được tập thể lớp lựa chọn:
Tóm tại, thơ là kết quả của sự thăng hoa
cảm xúc, là sản phẩm tinh thần của nhà thơ.
Mỗi bài thơ là sự kết tinh vốn văn hoá, thể hiện
cái nhìn về cuộc đời và biểu hiện những trạng
thái xúc cảm của người sáng tác. Ngôn ngữ là
yếu tố đầu tiên của tác phẩm văn học. Trong sự
lao động của nhà thơ có sự lao động về ngôn
ngữ, trong sự giày vò của sáng tạo nghệ thuật
có sự giày vò về ngôn từ. Thành công của tác
phẩm một phần lớn là nhờ khả năng ngôn ngữ
của tác giả. Với các đặc trưng: tính chính xác,
tính hình tượng, tính tinh luyện, hàm súc kết
hợp với tính nhạc phong phú của tiếng Việt, thơ
là thơ đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc
theo một cách riêng. Tuân thủ nghiêm ngặt
điều đó, với Tây Tiến, Quang Dũng trở thành