ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ
BẮT NẠT TRỰC TUYẾN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN VĂN CÔNG
HÀ NỘI – 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ
trợ nhiệt tình, quý báu từ các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Trần Văn Công
là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Nhờ
những định hướng, chỉ dẫn sát sao, tỉ mỉ của Thầy mà tôi đã có thể hoàn thành
được luận văn này. Qua quá trình làm việc cùng Thầy, tôi cũng đã thu được
nhiều bài học kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, giáo viên và học sinh
trường THPT Nguyễn Trãi và THPT Herman Gmeiner, thành phố Đà Nẵng
đã hợp tác, hỗ trợ, tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu cho luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô, anh chị và các bạn học viên trong
chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên đã đồng hành, hỗ
TP
Thủ phạm
VTN
Vị thành niên
ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt.............................................................. ii
Danh mục các bảng ........................................................................................... v
Danh mục các biểu đồ ..................................................................................... vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN
ĐỀ SKTT VÀ BNTT ....................................................................................... 6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về BNTT ............................................ 6
1.1.1. Các nghiên cứu về BNTT trên thế giới ................................................... 6
1.1.2. Các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam ................................................. 16
1.2. Các khái niệm liên quan ........................................................................ 20
1.2.1. Bắt nạt trực tuyến .................................................................................. 20
1.2.2. Vấn đề sức khỏe tâm thần ..................................................................... 25
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT............................................ 35
1.3.1. Đặc điểm sinh lý.................................................................................... 35
1.3.2. Đặc điểm đời sống tình cảm.................................................................. 36
1.3.3. Đặc điểm nhận thức .............................................................................. 36
CHƢƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............. 37
3.3.2. Mối liên hệ giữa bị bắt nạt trực tuyến và sức khỏe tâm thần ................ 64
3.3.3. Mối liên hệ giữa mức độ biểu hiện SKTT và mức độ tham gia vào
BNTT ở học sinh THPT .................................................................................. 67
3.3.4.Các yếu tố dự đoán cho mức độ tham gia bắt nạt trực tuyến ở học sinh
THPT ............................................................................................................... 69
3.3.5. Các yếu tố dự báo cho các vấn đề SKTT ở học sinh THPT ................. 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 78
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 87
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thực trạng BNTT trên thế giới ............................................... 9
Bảng 2.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu ............................................ 38
Bảng 3.1. Các hành vi bắt nạt bằng lời trên mạng................................. 43
Bảng 3.2. Các hành vi ngụy tạo trên mạng............................................ 44
Bảng 3.3. Các hình thức bị bắt nạt bằng lời trên mạng ......................... 46
Bảng 3.4. Các hành vi ngụy tạo trên mạng............................................ 46
Bảng 3.5: Các biểu hiện của căng thẳng về mặt xã hội (1) ................... 48
Bảng 3.6: Các biểu hiện của căng thẳng về mặt xã hội (2) ................... 49
Bảng 3.7: Các biểu hiện của lo âu (1)................................................... 50
Bảng 3.8: Các biểu hiện của lo âu (2)................................................... 50
Bảng 3.9 : Các biểu hiện của trầm cảm (1) ........................................... 52
Bảng 3.10 : Các biểu hiện của trầm cảm (2) ......................................... 52
Bảng 3.11: Mức độ các biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể (1) .............. 53
Bảng 3.12: Mức độ các biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể (2) .............. 53
Bảng 3.13: Mức độ các biểu hiện của vấn đề tăng động ....................... 54
Bảng 3.14: Các biểu hiện về khả năng tự kiểm soát (1) ........................ 55
Biểu đồ 3.1. Tỉ lệ học sinh THPT tham gia vào BNTT .................................. 42
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công nghệ đã thay đổi cách con người sống, làm việc, giao tiếp và
thậm chí là cách thức mà chúng ta bắt nạt người khác [81]. Hiện nay, cùng
với sự bùng nổ của mạng internet và các thiết bị điện tử, một hình thức bắt nạt
mới đã xuất hiện đó là bắt nạt trực tuyến, hành vi bắt nạt được thực hiện
thông qua máy tính hoặc điện thoại.
Theo các nghiên cứu về BNTT, tại Đức, từ 3 đến 43% trẻ vị thành niên
là nạn nhân của BNTT, từ 8 đến 33% trẻ vị thành niên cho biết đã có hành vi
BNTT. Tỉ lệ này ở Mỹ lần lượt là 72% và 4% trẻ vị thành niên [44]. Tại Việt
Nam, trong một nghiên cứu trên 736 học sinh thì có 183 học sinh (chiếm
24%) từng là nạt nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trực tuyến. Bên cạnh
đó, học sinh cấp THPT là nạn nhân nhiều hơn học sinh cấp THCS [2]. Các
con số này cho thấy, BNTT đang ngày càng phổ biến và ảnh hưởng đến học
sinh ở các cấp học khác nhau.
Cũng giống như bắt nạt truyền thống về thể chất và tinh thần, BNTT
cũng gây ra những ảnh hưởng về tâm lý cho nạn nhân. Tuy nhiên, trong khi
mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần với các hình thức bắt nạt
truyền thống đã được biết rõ, độ mạnh của mối liên hệ này trong bắt nạt trực
tuyến vẫn còn ít được biết đến. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có sự khác
biệt mang ý nghĩa thống kê trong các vấn đề sức khỏe tâm thần giữa bắt nạt
truyền thống và bắt nạt trực tuyến ở cả nạn nhân và thủ phạm [27].
Bên cạnh đó, một phát hiện quan trọng khác là cả thủ phạm và nạn
nhân của bắt nạt trực tuyến đều có nguy cơ như nhau trong việc mắc phải các
đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông
tại thành phố Đà Nẵng”. Nghiên cứu nhằm góp phần tìm hiểu các vấn đề sức
khỏe tâm thần ở học sinh và mối liên hệ của các vấn đề này với hình thức bắt
nạt trực tuyến ở cả nạn nhân và thủ phạm.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này tìm hiểu các vấn đề về sức khỏe tâm thần của học sinh
và mối liên hệ của các vấn đề này với hiện tượng BNTT nhằm hỗ trợ xây
dựng các chương trình phòng ngừa và can thiệp BNTT.
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về mối liên hệ giữa các vấn đề
SKTT và BNTT
- Làm rõ khái niệm công cụ như bắt nạt trực tuyến; sức khỏe tâm thần;
vấn đề sức khỏe tâm thần
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Xây dựng công cụ nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát thực trạng trên nhóm khách thể
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở
học sinh THPT
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Học sinh tại 2 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng về BNTT ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
hiện nay như thế nào?
Thực trạng về các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT hiện nay
hợp, mã hóa , xử lý số liệu, và phân tích kết quả thông qua phần mềm SPSS
nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu.
8. Phạm vi nghiên cứu
8.1. Về thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 12/2016 đến tháng
10/2017
Địa điểm: 2 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
8.2. Về mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu là 500 học sinh được chọn ngẫu nhiên từ 2 trường THPT
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị , danh mục tài liệu tham
khảo và các phụ lục khác, nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày
trong 3 chương :
4
Chương 1 : Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về BNTT
1.1.1. Các nghiên cứu về BNTT trên thế giới
1.1.1.1. Thực trạng bắt nạt trực tuyến
Sygkollitou, Psalti và Kapatzia (2010) trên 450 học sinh để khảo sát về những
trải nghiệm bị bắt nạt trực tuyến. Kết quả cho thấy 54% người tham gia cho
biết đã từng bị bắt nạt, trong khi đó 50% người tham gia đã từng bắt nạt người
khác. Điều quan trọng là hơn 40% người tham gia không biết rằng họ là thủ
phạm gây ra việc bắt nạt. Nghiên cứu của Kapatzia và Sygkollitou (2008) trên
544 học sinh cấp 3 từ 16 đến 19 tuổi cho thấy việc học sinh bị BNTT nhiều
hơn so với bắt nạt truyền thống với 20.5% trẻ tham gia cho biết từng bị bắt
nạt trên mạng. Trong khi trẻ trai thường liên quan vào việc bắt nạt thông qua
điện thoại thì với trẻ gái lại là khi dùng internet. Và tương tự với các nghiên
cứu trước, khi được hỏi về đặc điểm của thủ phạm thì đa số trẻ tham gia đều
trả lời “Không biết”. Tần suất xảy ra BNTT được đánh giá là tương đối thấp
theo như kết quả nghiên cứu của Tripodaki và cs. (2008) khi chỉ có 4.2%
trong tổng số 900 trẻ vị thành niên tham gia đã từng bị bắt nạt và nhận những
tin nhắn đe dọa, làm phiền [26].
Tương tự như các quốc gia khác, BNTT cũng là một vấn nạn ở Đức.
Riebel, Jäger và Fischer (2009) đã tiến hành nghiên cứu trên 1987 học sinh ở
Đức [66]. Kết quả cho thấy ở Đức đã xuất hiện hình thức bắt nạt này tuy
nhiên chỉ với một số lượng nhỏ: 5.4% học sinh bị bắt nạt một lần một tuần
hoặc thậm chí nhiều hơn; 14.1% học sinh trải nghiệm những tình huống gần
giống với việc BNTT. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những học
sinh bắt nạt người khác trên mạng thì cũng hành xử giống như những học sinh
bắt nạt người khác trong đời thực. Điều này cũng tương tự đối với nạn nhân.
Các nghiên cứu về bắt nạt tại Thái Lan chủ yếu tập trung vào bắt nạt
truyền thống về thể chất. Tuy nhiên một vài nghiên cứu gần đây cũng đã đưa
ra được các bằng chứng liên quan đến hiện trạng BNTT tại đất nước này. Báo
7
cáo về BNTT của Boonoon (2009) [33] thực hiện trên 2500 học sinh từ 12 đến
19 tuổi trên cả nước cho thấy rằng 43% học sinh bị làm phiền, đe dọa trên mạng
tự trọng thấp, trầm cảm nặng…) đặc biệt được phát hiện ở những người bị
khuyết tật.
Bảng 1.1. Thực trạng BNTT trên thế giới
Tác giả
Quốc
gia
nghiên
cứu
Hoa Kỳ
Tổng số
khách thể
Kowalski và 2016
cộng sự
Hoa Kỳ
205 sinh
viên
Yavuz
2010
Akbulut và
cộng sự
Julia Riebel 2009
và cộng sự
Thổ
Đức
Lứa
tuổi
10-19
450
sinh
học
Hy Lạp
544 học 16-19
sinh
Thái
2500 học 12-19
Lan
sinh
Thái
2100
Lan và người
Nhật
tham gia
Bản
9
Tỉ lệ học sinh bị bắt nạt
Từ thực trạng này có thể thấy các các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Đức có tỉ lệ người tham gia bị bắt nạt ít hơn so với các nước còn lại
như Thái Lan, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ.
1.1.1.2. Đặc điểm của nạn nhân và thủ phạm
Các nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành để tìm hiểu những đặc
điểm ở nạn nhân và thủ phạm của BNTT như độ tuổi, cấp học, giới tính, đặc
điểm tâm lý v.v.
Một nghiên cứu cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa tuổi và giới
tính với hành vi BNTT là nghiên cứu của Cole, Krohn, Jewell và Hupp (2011)
[40]. Nghiên cứu được tiến hành trên 483 học sinh ở các trường THCS, THPT
và cao đẳng nhằm kiểm chứng yếu tố giới tính, độ tuổi, tần suất sử dụng tin
nhắn qua mạng, tần suất sử dụng tin nhắn văn bản và thời gian sử dụng mạng
như yếu tố dự báo của việc thực hiện BNTT, bắt nạt bằng hình ảnh, trở thành
nạn nhân của BNTT, hay bị bắt nạt bằng hình ảnh. Kết quả nghiên cứu cho
thấy tuổi, giới tính, tần suất sử dụng tin nhắn văn bản và thời gian sử dụng
mạng là yếu tố dự báo của việc thực hiện BNTT. Tuổi, giới tính và tần suất sử
dụng tin nhắn văn bản dự báo việc bắt nạt bằng hình ảnh. Về việc trở thành
nạn nhân của BNTT, tuổi, tần suất sử dụng tin nhắn điện tử và tần suất sử
dụng tin nhắn văn bản là yếu tố dự báo có ý nghĩa. Thời gian sử dụng mạng là
yếu tố dự báo của việc bị bắt nạt bằng hình ảnh.
Về độ tuổi, Williams và Guerra (2007) tiến hành nghiên cứu về thực
trạng BNTT ở 1519 học sinh lớp 5 (từ 10 đến 11 tuổi), lớp 8 (từ 13 đến 14
tuổi) và lớp 11 (từ 16 đến 17 tuổi) – những năm học chuyển cấp trong hệ
thống giáo dục của Mỹ [82]. Kết quả cho thấy BNTT diễn ra nhiều nhất ở các
học sinh lớp 8 và giảm dần đến lớp 11. Điều này có thể được giải thích bởi sự
thay đổi về tâm sinh lý trong giai đoạn dậy thì ở độ tuổi 13-14 là yếu tố nguy
cơ làm gia tăng các hành vi BNTT. Trong khi đó, học sinh lớp 11 đã bước vào
giai đoạn phát triển ổn định và cũng đã có nhiều kĩ năng xã hội hơn để ứng
phó với các thay đổi trong cuộc sống.
10
sự quấy rối trên mạng nhiều hơn [84]. Tương tự, Mesch (2009) sau khi phân tích
11
số liệu thu được trên 935 trẻ cũng nhận thấy 61% trẻ gái đã bị bắt nạt ít nhất một
lần, trong khi chỉ có 39% trẻ trai bị bắt nạt [57]. Ngoài ra, trong một nghiên cứu ở
1671 học sinh Bồ Đào Nha, nhiều nữ sinh cho biết đã đã bị bắt nạt thông qua cả
điện thoại và internet hơn nam sinh. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy qua
nghiên cứu của Dehue, Bolman, và Vollink (2008).
Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của Daniela (2014) trên hai nhóm
mẫu khác nhau đã cho thấy nam sinh có khuynh hướng có hành vi BNTT
nhiều hơn nữ sinh [70]. Hai nhóm mẫu, nhóm 1 gồm 249 học sinh cấp hai và
nhóm 2 gồm 339 học sinh cấp 2 đã được thực hiện thang đo “Cyber Victim
and Bullying Scale”. Ở nhóm 1, có 24.9% học sinh cho biết đã từng bị BNTT
và 27.7% có hành vi bắt nạt đối với người khác. Trong đó học sinh nam là
nạn nhân và thủ phạm của BNTT nhiều hơn học sinh nữ. Ở nhóm 2, 17.7%
học sinh từng bị BNTT và 16.5% học sinh có hành vi BNTT. Trong đó học
sinh nam có hành vi bắt nạt nhiều hơn học sinh nữ.
Về mặt tâm lý, một đặc điểm được nhận thấy ở các thủ phạm của BNTT
là sự thiếu lòng thấu cảm – khả năng hiểu và chia sẻ cảm xúc với người khác.
Steffgen, Konig, Pfetsch, và Melzer(2011) đã tiến hành nghiên cứu trên 2070
học sinh THCS bằng một bảng phỏng vấn trên mạng với giả thuyết rằng thiếu
sự thấu cảm có thể là đặc điểm của học sinh có hành vi BNTT [79]. Đúng như
giả thuyết đặt ra, kết quả phân tích cho thấy những học sinh có hành vi BNTT
thể hiện ít khả năng thấu cảm hơn những học sinh không có hành vi này. Theo
kết quả nghiên cứu này thì việc rèn luyện kĩ năng thấu cảm cho học sinh có thể
là một phương cách quan trọng để giảm thiểu BNTT.
Bên cạnh đó, đặc điểm ở những học sinh bị BNTT là việc luôn cảm
thấy cô đơn và có sự giao tiếp không tốt với bố mẹ. Đây là kết quả được tìm
thấy khi Larra~naga, Yubero, Ovejero và Navarro (2016) tiến hành nghiên
sống xã hội của sinh viên: 29 % sinh viên cảm thấy căng thẳng, 30% sinh viên đối
mặt với trầm cảm và 40% cảm thấy lo âu. Bên cạnh đó còn có các vấn đề về hành
vi, sức khỏe và lạm dụng chất.
Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng BNTT gây ra những
nguy cơ đối với sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của trẻ vị thành niên
13
[62]. Những trẻ vị thành niên là mục tiêu của BNTT có các biểu hiện trầm
cảm, lo âu, cảm giác cô đơn, hành vi tự sát và các triệu chứng về mặt cơ thể.
Thủ phạm của BNTT có xu hướng gia tăng trong việc sử dụng chất, gây hấn
và hành vi phạm pháp.
Một nghiên cứu trên 165 học sinh cấp 2 (từ 10-14 tuổi) ở Thổ Nhĩ Kỳ
đã được tiến hành bởi Baker (2010) để tìm hiểu mối liên hệ giữa các trải
nghiệm liên quan đến BNTT (cả nạn nhân và thủ phạm) và các triệu chứng
trầm cảm [28]. Nghiên cứu được thực hiện trên 94 trẻ trai và 71 trẻ gái, sử
dụng thang đo mức độ trầm cảm ở trẻ em CBI. Kết quả nghiên cứu cho thấy
những học sinh bị BNTT có mức độ của các triệu chứng trầm cảm cao hơn
những học sinh không liên quan đến BNTT và cả những học sinh gây ra
BNTT. Điều này cho thấy việc bị bắt nạt làm tăng nguy cơ gặp các vấn đề về
tâm lý ở học sinh cấp 2.
Cùng tìm hiểu về ảnh hưởng của BNTT đến trẻ vị thành niên là
nghiên cứu của Gámez-Guadix, Orue, Smith và Calvete (2013) [45]. Nghiên
cứu được tiến hành trên 845 trẻ vị thành niên tại hai thời điểm cách nhau 6
tháng nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa BNTT và ba vấn đề thường gặp ở độ
tuổi vị thành niên là trầm cảm, sử dụng chất và các vấn đề về sử dụng
internet. Kết quả cho thấy trẻ vị thành niên bị BNTT có nhiều khả năng phát
triển các triệu chứng trầm cảm và vấn đề về sử dụng internet. Bên cạnh đó,
những trẻ có dấu hiệu trầm cảm và sử dụng chất nhiều hơn những trẻ khác
thường dễ trở thành mục tiêu của việc BNTT.
Nhằm tìm hiểu các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh có hành vi
BNTT, Campbell, Slee, Spears và Kift (2013) cũng đã tiến hành nghiên cứu
trên các học sinh ở Úc trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi [39]. Theo đó, các học
sinh tham gia vào BNTT có nhiều khó khăn xã hội hơn và có điểm trên thang
đo stress, lo âu, trầm cảm cao hơn những học sinh không tham gia vào việc
bắt nạt.
Trong khi đó, cảm giác cô đơn, sự thấu cảm và lòng tự trọng là yếu tố
dự báo cho cả mức độ bị BNTT và mức độ gây ra BNTT. Lòng tự trọng là
15
một yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với việc bị bắt nạt và bắt nạt khi các học sinh
có lòng tự trọng thấp có xu hướng trải nghiệm về BNTT nhiều hơn. Sự thấu cảm
cũng là một yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với việc thực hiện hành vi BNTT khi
sự thấu cảm càng thấp thì khả năng gây ra bắt nạt trên mạng càng tăng. Những
phát hiện này chỉ ra rằng những can thiệp theo định hướng gia tăng lòng tự trọng
và sự thấu cảm có thể thành công trong việc giảm hành vi BNTT. Đây là những
kết quả mà Brewer và Kerslake đã tìm được khi tiến hành nghiên cứu trên 90
học sinh (từ 16-18 tuổi) tại một trường học ở Anh [35].
Một nghiên cứu về mối liên hệ của chất lượng cuộc sống, cảm giác cô
đơn và các triệu chứng trầm cảm với các hình thức bắt nạt trên 484 trẻ vị
thành niên (từ 11 đến 17 tuổi) ở Tây Ban Nha đã cho thấy có tương quan
nghịch giữa chất lượng cuộc sống và BNTT. Đồng thời cũng có mối tương
quan thuận giữa BNTT với cảm giác cô đơn và các triệu chứng trầm cảm.
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy cả nạn nhân và thủ phạm của BNTT
đều có những vấn đề về cảm xúc và hành vi như tăng động giảm chú ý, cảm
giác cô đơn, stress, lo âu, các khó khăn xã hội và đặc biệt là trầm cảm và nguy
cơ tự sát.
1.1.2. Các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện tượng bắt nạt nói chung và bắt nạt trực tuyến nói
nhãng, tập trung làm những việc thư giãn, giải trí để quên đi vấn đề đã xảy ra.
Học sinh ít có xu hướng tìm kiếm sự hỗ trợ hãy trả thù khi bị bắt nạt. Đồng
thời, có sự khác biệt có ý nghĩa trong việc sử dụng các chiến lược ứng phó ở
học sinh về giới tính và học lực.
Tìm hiểu về bắt nạt từ góc độ phụ huynh có nghiên cứu của nhóm tác
giả Trần Văn Công, Lương Thị Ngọc Lan (2016) về “Thái độ của phụ huynh
có con bị bắt nạt” [6]. Nghiên cứu này tiến hành khảo sát trên 49 phụ huynh
có con học THCS và51 phụ huynh có con học THPT trên địa bàn Hà Nội. Kết
quả nghiên cứu cho thấy gần một phần tư phụ huynh (17%) không biết, không
quan tâm đến việc học sinh bắt nạt nhau trong trường học. Bên cạnh đó, nhận
thức của phụ huynh về các hình thức bắt nạt học đường còn chưa thật đầy đủ.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn cho thấy khi biết con mình bị bắt nạt, phụ
17