TRƯỜNG ĐẠI HỌC _______
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY DỊCH VỤ Y TẾ
CHO NGƯỜI NGHÈO Ở NƯỚC TA
Môn: Kinh tế phát triển
Giáo viên hướng dẫn: _________
Nhóm thực hiện: ____
Tp. Hồ Chí Minh, ngày _ tháng __ năm ____
0
DANH SÁCH NHÓM:
STT
HỌ VÀ TÊN
MSSV
1
2
3
4
5
6
7
8
nghèo chưa được đầu tư đạt chuẩn..........................................21
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH NÂNG CAO DỊCH VỤ Y TẾ
NƯỚC TA..................................................................................21
4.1 Giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện BHYT cho người nghèo trong
thời gian tới......................................................................................21
3
Giám sát chặt chẽ hơn việc thực hiện các chính sách bảo
hiểm y tế.....................................................................................22
Nâng cao năng lực hoạt động của các tuyến y tế xã, phường
22
Cần thông tin đến người dân một cách thiết thực hơn........22
Đơn giản hóa các thủ tục rườm rà........................................23
Nâng cao nguồn quỹ hỗ trợ cho người nghèo về y tế..........23
Chủ động hơn trong việc chăm lo sức khỏe người nghèo....24
Nâng cao cơ sở vật chất đạt chuẩn tại các địa phương........24
4
BẢNG BIỂU VIẾT TẮT
KTNN
Kiểm toán nhà nước
NSNH
Ngân sách nhà nước
định là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên,
cho đến nay, dù chúng ta đã có nhiều chuyển biến tích cực về đời
sống vật chất, nhưng kết quả đạt được trong đảm bảo an sinh xã hội
còn hạn chế và chưa vững chắc, đời sống của một bộ phận nhân dân
nhìn chung còn khó khăn, một bộ phận không nhỏ nhân dân ta còn
sống dưới nhu cầu tối thiểu, bởi vậy, việc thực hiện chính sách trợ
giúp xã hội cho người nghèo có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo
ra tiền đề cho sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; góp phần củng cố
những thành quả trong đổi mới kinh tế, chính trị, đáp ứng nhu cầu,
nguyện vọng chính đáng, thường xuyên của nhân dân, tạo lòng tin của
nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới, tạo sự cân đối giữa tăng trưởng
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội.
Đến nay, người ta đã ý thức được rằng, sự phát triển của xã
hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội
thường xuyên tác động lẫn nhau. Sự phát triển của thế giới trong
những năm gần đây đặt ra mục tiêu là bảo đảm phân phối công bằng
hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được hiệu
quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về hệ thống
giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường…Trong đó,
chăm sóc sức khỏe cho người nghèo là một trong những định hướng
ưu tiên của Đảng, Nhà nước và là chủ trương nhất quán của ngành.
Nhiều năm qua, Chính phủ dành sự quan tâm cho việc chăm sóc sức
khỏe người nghèo và người dân tộc thiểu số. Điều này được cụ thể
6
hóa thông qua việc Chính phủ ban hành một số chính sách nhằm tăng
cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho người nghèo như
Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ khám chữa
bệnh cho người nghèo và gần đây là Luật bảo hiểm y tế được Quốc
Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh qua nguồn thu thập
trên để phân tích thực trạng chính sách về dịch vụ y tế dành cho người
nghèo.
Phương pháp suy luận, quy nạp để đề xuất những giải pháp.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: các chính sách về dịch vụ y tế dành
cho người nghèo của nước ta.
Phạm vi nghiên cứu: lãnh thổ Việt Nam
5. Bố cục trình bày tiểu luận
Ngoài phần mở đầu giới thiệu đề tài và phần kết luận ra, tiểu
luận được thực hiện gồm chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 2: Thực trạng các chính sách hỗ trợ y tế cho người
nghèo của nước ta hiện nay
Chương 3: Đánh giá các chính sách hỗ trợ y tế cho người
nghèo của nươc ta hiện nay
Chương 4: Đề xuất chính sách nâng cao dịch vụ y tế nước ta
8
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY
1.1 Khái niệm
1.1.1. Người nghèo và người cận nghèo
Người nghèo và cận nghèo là những người cần được Nhà
nước quan tâm đặc biệt, Nhà nước luôn có những chính sách hỗ trợ để
đảm bảo đời sống cũng như tạo điều kiện để người nghèo có thể phát
triển vươn lên thoát nghèo.Vậy, như thế nào gọi là nghèo? Căn cứ vào
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở
lên.
Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
− Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000
đồng trở xuống;
− Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng
đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở
lên.
Hộ cận nghèo
Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới
03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản.
Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới
03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản.
1.1.2. Dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù,
các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ
thể, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao
10
gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ
khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn
có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch
vụ y tế công cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng
hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm.
− Khi thực sự có nhu cầu phải sử dụng dịch vụ y tế (bị
ốm/bệnh trong vòng 4 tuần),người bệnh không chỉ đi KCB
ngoại trú (45,7%)/nội trú (5,2%) mà còn tự điều trị với tỷ
lệ khá cao (41,1%). Qua phân tích thấy rõ sự khác biệt về
tỷ lệ sử dụng dịch vụ giữa các tỉnh; tỷ lệ lựa chọn cơ sở y
tế giữa thành thị/nông thôn và giữa các tỉnh nghiên cứu.
− Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt trong sử dụng
dịch vụ KCB của người dân ở các tỉnh: mức sống, trình độ
học vấn, yếu tố vùng miền…
Tác giả đã đưa ra một số kiến nghị:
Cần thiết có các giải pháp chính sách như tăng mức hỗ trợ
mệnh giá BHYT, tăng tỷ lệ giảm mức phí cho thành viên thứ hai trở đi
khi tham gia mua BHYT theo hộ gia đình,… nhằm tăng tỷ lệ bao phủ
BHYT.
Cần có giải pháp tuyên truyền tới người dân đi khám bác sĩ
khi có vấn đề về sức khỏe nhằm xác định đúng bệnh, được tư vấn và
sử dụng thuốc an toàn hợp lý, góp phần làm giảm kháng thuốc trong
cộng đồng đặc biệt là kháng kháng sinh. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh
công tác kiểm tra, giám sát nhằm thực hiện nghiêm các qui định của
Luật KCB về qui chế kê đơn và bán thuốc theo đơn tại các hiệu thuốc
tư góp phần giảm tỷ lệ tự điều trị của người bệnh.
Cần phát huy vai trò của y tế tư nhân trong việc cung cấp dịch
vụ y tế có chất lượng cho người bệnh, giảm tải mạng lưới y tế công.
Để làm được điều này cần thiết mở rộng KCB BHYT tại các CSYT tư
nhân kết hợp thắt chặt công tác kiểm tra, giám sát đảm bảo người
bệnh nhận được các dịch vụ KCB có chất lượng.
1.2.2. Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hà,
Nguyễn Việt Nga, Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Văn Thục “
tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam”
12
Theo Doane và CS (2006), mặt tích cực của UHS là mang lại
sự hài lòng vì không phải chi trả cho dịch vụ y tế cho nhiều người dân
có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt khi mắc bệnh nặng chi phí cao nhưng
lại không phải trả tiền túi. Tuy nhiên cơ chế này cũng còn một hạn chế
quan trọng, đó là việc sử dụng dịch vụ còn ít. Nguyên nhân của tình
trạng này được cho là do những rào cản: phân biệt trong cung cấp
dich vụ, chi phí đi lại, bao cấp của bệnh viện, thiếu tin tưởng vào dịch
vụ y tế công, thiếu thông tin chính xác, bất cập về mặt thời gian,
14
...Trong những bất cập nêu trên, có những vấn đề có thể giải quyết
được mà không đòi hỏi nỗ lực quá lớn nhưng rất tiếc đã chưa được
thực hiện, thí dụ như vấn đề thông tin, hỗ trợ hoàn thành thủ tục.
Trong suốt quá trình phát triển, dịch vụ y tế công của Thái Lan
đã không ngừng đổi mới và ngày càng tiến bộ, song việc hưởng lợi từ
những thành tựu đó của những người nghèo nhất vẫn luôn cần được
quan tâm. Mặc dù về một vài khía cạnh, chính sách hỗ trợ người
nghèo của nước ta đã có những điểm tiến xa hơn của Thái Lan, nhưng
nhiều bất cập trong thực hiện chính sách cũng có thể đã và đang tồn
tại ở nước ta như đã xảy ra tại Thái Lan.
Vì vậy Việt Nam rất nên tìm hiểu sâu hơn về thực tiễn thực
hiện UHS tại Thái lan để rút ra những bài học, đồng thời cần có
những nghiên cứu sâu để tìm hiểu những rào cản trong tiếp cận dịch
vụ y tế của người nghèo nói riêng và người có thẻ BHYT nói chung,
đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang tập trung cao độ vào mở rộng
phạm vi bao phủ của BHYT để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ Y
TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo nước ta hiện
tượng hộ nghèo, dân tộc thiểu số trên cả nước cũng tăng từ 5 nghìn tỷ
đồng năm 2010 lên hơn 7 nghìn tỷ năm 2012; tổng số chi KCB cho
người nghèo, dân tộc thiểu số từ Quỹ BHYT của cả nước trong 3 năm
là trên 12 nghìn tỷ đồng, với gần 64 triệu lượt người nghèo, dân tộc
thiểu số của cả nước đi KCB (bình quân một người tham gia BHYT đi
KCB khoảng trên 4 lần/năm). Số tiền bình quân cho một lần KCB của
cả giai đoạn là 191,5 nghìn đồng.
Theo nhận định của KTNN, chính sách BHYT cho người
nghèo và cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó
khăn về cơ bản đã được triển khai thực hiện có hiệu quả và đạt được
một số mục tiêu; tạo điều kiện cho hộ nghèo, cận nghèo, người dân
tộc thiểu số được KCB, chăm sóc sức khỏe tốt hơn, ổn định cuộc sống
hơn, góp phần vào thành công của chương trình giảm nghèo chung tại
nhiều địa phương. Hàng năm, các cơ sở y tế trên địa bàn các tỉnh đã
tiếp nhận hàng trăm nghìn lượt người nghèo đến khám và điều trị.
2.1.2. Chính sách hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh cho người
nghèo
16
Những đối tượng nào được hưởng chế độ hỗ trợ?
Theo dự thảo những đối tượng được hưởng chế độ hỗ trợ
gồm: Người thuộc hộ nghèo theo quy định tại Quyết định số
59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc
ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 20162020.
Đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở các xã, phường,
thị trấn thuộc vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định số
1049/QĐ-TTg ngày 26/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành
Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn; Quyết định số
539/QĐ-TTg ngày 1/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
nhà và chuyển tuyến cho các đối tượng này khi điều trị nội trú tại các
cơ sở điều trị trên và các trường hợp cấp cứu, tử vong hoặc bệnh quá
nặng và người nhà có nguyện vọng đưa người bệnh về nhà nhưng
không được bảo hiểm y tế hỗ trợ.
Trường hợp sử dụng phương tiện vận chuyển của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh: Thanh toán chi phí vận chuyển cả chiều đi và về cho
cơ sở y tế chuyển người bệnh theo mức bằng 0,2 lít xăng/km tính theo
khoảng cách vận chuyển và giá xăng tại thời điểm sử dụng và các chi
phí cầu, phà, phí đường bộ khác (nếu có). Nếu có nhiều hơn một
người bệnh cùng được vận chuyển trên một phương tiện thì mức
thanh toán chỉ được tính như đối với vận chuyển một người bệnh ở
khoảng cách xa nhất.
Trường hợp không sử dụng phương tiện vận chuyển của cơ sở
y tế Nhà nước và tư nhân: Thanh toán chi phí vận chuyển một chiều
đi cho người bệnh theo mức bằng 0,2 lít xăng/km cho một chiều đi
tính theo khoảng cách vận chuyển và giá xăng tại thời điểm sử dụng.
Cơ sở y tế chỉ định chuyển bệnh nhân thanh toán chi phí vận chuyển
18
cho người bệnh, sau đó thanh toán với Quỹ khám, chữa bệnh cho
người nghèo của tỉnh có bệnh nhân đó.
Trường hợp các đối tượng Người thuộc hộ nghèo và Đồng bào
dân tộc thiểu số đang sinh sống ở các xã, phường, thị trấn thuộc vùng
khó khăn; Người thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng
theo quy định của pháp luật và người đang được nuôi dưỡng tại các
cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước có chi phí khám bệnh, chữa bệnh
không thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế từ 100.000
đồng trở lên cho 1 đợt điều trị thì người bệnh chỉ phải thanh toán tối
đa là 100.000 đồng, phần còn lại được Quỹ hỗ trợ để người bệnh
Chú trọng tổ chức hoạt động truyền thông kết hợp với thực
hành dinh dưỡng, bổ sung viên vi đa chất cho phụ nữ có thai và phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở những vùng khó khăn, duy trì mô hình
quản lý và điều trị trẻ em suy dinh dưỡng cấp tính ở một số cơ sở y tế
trên địa bàn tỉnh.
Chỉ số phụ nữ đẻ được khám thai ít nhất ba lần tăng dần qua
các năm từ năm 2010 (49,5%), đến năm 2011 (65,8%) và 2012
(68,3%). Việc hỗ trợ hoạt động khám thai giúp trạm y tế xã quản lý tốt
hơn các trường hợp thai nghén, tư vấn tốt hơn cho người phụ nữ mang
thai về chế độ ăn, nghỉ ngơi, làm việc và lựa chọn nơi sinh hợp lý, vận
động phụ nữ đến cơ sở y tế để đẻ. Ðồng thời giúp quản lý được đối
tượng và cung cấp viên đa vi chất cho phụ nữ có thai. Ðáng chú ý, số
phụ nữ đẻ được cán bộ y tế đỡ đẻ đạt tỷ lệ rất cao. Ðây là một trong
những thành công lớn của dự án do hoạt động này rất khó can thiệp,
nhất là ở các huyện, xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Nơi có phong tục tập quán riêng; địa hình hiểm trở, giao thông đi lại
không thuận lợi, nhất là mùa mưa, gây khó khăn không nhỏ để phụ nữ
có thai đến các cơ sở y tế đẻ. Chỉ số này tăng qua các năm ở cả năm
tỉnh và tăng cao ở ba tỉnh Ðiện Biên, Sơn La và Kon Tum. Bác sĩ
Nguyễn Ðức Vinh, Phó Vụ trưởng Vụ Sức khỏe bà mẹ - trẻ em (Bộ Y
tế) cho rằng: Dự án xây dựng gói can thiệp theo đúng ưu tiên của lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (chăm sóc trước, trong và sau
sinh). Các tiếp cận giải quyết ba chậm trong làm mẹ an toàn (chậm trễ
trong việc phát hiện nguy cơ và tai biến là do chậm trong việc quyết
định sử dụng dịch vụ chăm sóc và chậm đến cơ sở y tế) của Tổ chức
Y tế thế giới là rất phù hợp.
Hoạt động hỗ trợ phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em
cũng rất được quan tâm qua các hoạt động hỗ trợ và can thiệp. Nhiều
20
Thời gian qua, ngành Y tế đã đẩy mạnh các giải pháp tuyên
truyền nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về các biện pháp chăm
sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình . Nhiều phụ nữ được tiếp
cận các dịch vụ chăm sóc, nâng cao kiến thức cho bản thân,tư vấn sức
21
khỏe và hỗ trợ cung cấp các dịch vụ khám, cấp thuốc một số bệnh
thông thường của phụ nữ; cung cấp các dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ
như siêu âm, xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung, ung thư vú,
dịch vụ KHHGĐ tại các xã theo nội dung, yêu cầu chiến dịch. Qua
đây nhiều phụ nữ được các bác sĩ thăm khám, chẩn đoán và hướng
dẫn điều trị do mắc một số bệnh thường gặp.
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ Y TẾ
CHO NGƯỜI NGHÈO CỦA NƯƠC TA HIỆN NAY
3.1 Thành tựu
Chính sách BHYTcủa nước ta được quốc tê đánh giá cao:
Xét trên phương diện điều tiết vĩ mô thì BHYT là công cụ thứ
hai trong quá trình phân phối lại tài chính góp phần đảm bảo sự bình
đẳng và công bằng xã hội. Việc thực hiện chế độ BHYT cho người
nghèo là thể hiện, giữ gìn, phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc
ta qua hàng nghìn năm dựng và giữ nước. Trong những năm gần đây,
vấn đề BHYT cho người nghèo đã thu được nhiều kết quả đáng khích
lệ, như:
Đảng, Nhà nước ngày càng có nhiều chủ trương, chính sách
thiết thực chăm lo đến sức khỏe của người nghèo. Ngày 15 tháng 10
năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 139/2002/ QĐTTg về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo. Ngày 01 tháng 03
năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 14/2012/QĐTTg sửa đổi, bổ sung Quyết định 139 về việc mở rộng đối tượng
hưởng chế độ khám, chữa bệnh; nguồn quỹ tài chính khám, chữa bệnh
cho người nghèo. Ngày 26 tháng 06 năm 2012, Thủ tưởng Chính phủ
tâm (chiếm 33,62%) thực hiện hai chức năng y tế dự phòng và khám,
chữa bệnh (không thành lập bệnh viện đa khoa huyện riêng); 460 số
huyện còn lại (66,38%) thực hiện một chức năng y tế dự phòng (có
thành lập bệnh viện đa khoa huyện riêng); có 55 tỉnh, thành phố
(chiếm 87,30%) giao trung tâm y tế huyện quản lý trạm y tế xã. Trong
tổng số 693 đơn vị cấp huyện có 453 huyện (65,37%) có bệnh viện đa
khoa huyện riêng; 62 tỉnh, thành phố (chiếm 98,41%) thành lập Trung
tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở cấp huyện; có ba tỉnh đã thành
lập Trung tâm An toàn vệ sinh thực phẩm ở cấp huyện, trong đó có
hai địa phương thành lập ở tất cả cấp huyện và một địa phương thành
lập thí điểm. Việc phát triển mạng lưới y tế xã, phường đã phần nào
đáp ứng được nhu cầu, về chăm sóc sức khỏe của người dân ở các
23
vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là người nghèo do điều
kiện kinh tế khó khăn ít có cơ hội khám chữa bệnh tại các cơ sở tuyến
trên; đồng thời đã khắc phục được tình trạng quá tải của các bệnh viện
tuyến trung ương; thực hiện phân bổ lại nguồn quỹ BHYT giữa các
vùng thành thị và nông thôn.
Chính sách hỗ trợ chi phí chữa bệnh cho người nghèo
được chú trọng
Chính sách hỗ trợ chi phí chữa bệnh đã góp phần bỗ sung
thêm cho chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo khi một số người
nghèo và cận nghèo, các đồng bảo dân tộc thiểu số, đồng bào vùng xa
chưa thể thực hiện chính sách bảo hiểm ý tế vẫn được hỗ trợ về chi
phí khi đi khám chữa bệnh, giúp cho người nghèo có phần đỡ vất vả
hơn trong đi lại, chưa bệnh, ăn uống khi chữa bệnh và chi phí ở lại
khám chữa bệnh tại các bệnh viện của nhà nước.
Sức khỏe sinh sản, sức khỏe trẻ nhỏ được chú trọng chăm