Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 1 CHƯƠNG I
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Những hoạt động của con người đã làm cho rất nhiều loài bị tuyệt chủng. Kể từ
năm 1600 đến nay khoảng 21% các loài động vật và 1,3% các loài chim trên thế giới đã
bị tuyệt chủng. Tốc độ tuyệt chủng của các loài trở nên ngày càng cao. Những loài còn
sống sót thì cũng có nguy cơ đứng bên bờ của sự tuyệt chủng. Hơn 99% những sự tuyệt
chủng thời cận đại là do con người gây ra .
Sự ô nhiễm môi trường loại bỏ rất nhiều loài ra khỏi quần thể sinh học của chúng kể
cả ở những nơi mà cấu trúc quần xã không bị ảnh hưởng lớn. Sự ô nhiễm môi trường
bao gồm: sử dụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp, phân bón hóa học
và ô nhiễm không khí gây ra mưa axit, nitơ bị lắng đọng quá mức, các khí quang hóa và
khí ôzôn. Như chúng ta đã biết khí hậu địa cầu có thể bị thay đổi trong thế kỷ XXI bởi
vì lượng khí cacbonnic thải vào khí quyên quá lớn do quá trình đốt cháy các nhiên liệu
hóa thạch. Mức độ tăng nhiệt độ dự kiến sẽ nhanh đến mức nhiều loài không thê nào
điều chỉnh được biên độ sống của chúng và sẽ bị tuyệt chủng.
Hiện nay tình trạng nghèo khó vẫn diễn ra ở nông thôn. Việc cải tiến đạt hiệu quả
cao hơn các phương pháp săn bắn và hái lượm, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đã
thúc đẩy sự khai thác quá mức đối với rất nhiều loài, đẩy chúng đến sự tuyệt chủng. Các
nền văn minh của các xã hội trước đây có những truyền thống, thói quen hạn chế khai
thác tài nguyên quá mức, nhưng ngày nay, những truyền thống đó đã bị phá vỡ và con
người vô tình hoặc hữu ý đã chuyển hàng ngàn loài đến những vùng đất mới trên thế
giới. Một số loài nhập cư đã có tác động xấu đối với các loài bản địa dẫn đến dịch bệnh
và động vật sống ký sinh thường gia tăng khi các loài động vật bị nuôi nhốt tại những
khu bảo tồn thiên nhiên và không thể di chuyển đi lại trong một địa bàn rộn lớn. Động
vật bị nuôi nhốt thường có tỷ lệ bị mắc bệnh cao và các bệnh dịch đôi khi lan truyền
CHƯƠNG II
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ NỘI DUNG KHÁI
NIỆM
1.1 Tiền đề lịch sử
Sau thế chiến thế giới II, Chủ nghĩa tư bản tự do phát triển mạnh ở các quốc gia Tây
Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi
trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development -
WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland. Tới nay, ủy ban này đã
được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững.
Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng
bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tựa tiếng Anh: Our
Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường được gọi là
Báo cáo Brundtland). Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát
triển bền vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến
lược phát triển lâu dài. Nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển
Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững
là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn
hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ". Nói cách khác,
phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và
môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế -
xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích
dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.
Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Futur đã được đưa
ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 4
44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp
quốc.
Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về
Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc
(UNCED). Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và
phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình
Nghị sự 21 (Agenda 21). Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng
một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về
môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa
không chỉ ở tầm trung hạn, mà còn là tầm dài hạn.
Trên thực tế, hơn 10 năm qua, các nhà khoa học - trên các lĩnh vực và diễn đàn khác
nhau khắp nơi trên hành tinh này, đều đi đến một sự thống nhất có tính tương đối về bản
chất và khía cạnh hiện thực của phát triển bền vững.
Còn Denis Goulet cho rằng: Sự phát triển thực sự bền vững cần bao hàm 3 khía
cạnh: Kinh tế, chính trị và văn hóa.
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 5
Riêng Goulet có ý kiến tách khía cạnh chính trị và văn hóa ra khỏi phạm trù xã hội -
thêm vào đó là “mâu thuẫn về một cuộc sống đầy đủ”. Ông tự đặt ra câu hỏi: “Lịch sử
phát triển đích thực như vậy có tương thích với nền kinh tế được toàn cầu hóa hay lại
làm tăng thêm những khác biệt về kinh tế”. Điều đó, đã đưa ra nhận định: “Phát triển
bền vững là một nhiệm vụ khó khăn vô cùng”. Khó khăn là ở chỗ: đây không chỉ đơn
thuần là xác định chuẩn của sự phát triển, mà là phải bảo đảm tính khái quát và hệ thống
khá đầy đủ các khía cạnh: kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường, sinh thái , đặc biệt, nếu
còn chưa xác định rõ phạm trù văn hóa làm cơ sở lâu bền cho sự phát triển của mỗi dân
tộc thì khó khăn gặp phải sẽ tăng lên bội phần.
Nói thêm khởi nguồn của khái niệm (thuật ngữ) “Tính bền vững” và “Phát triển bền
vững” được Charles V. Kidd (1992) nêu ra. Khái niệm “Phát triển bền vững” được sử
dụng như một công cụ hoạt động trong các cộng đồng bảo tồn và phát triển quốc tế nhờ
việc công bố “Chiến lược bảo tồn thế giới” năm 1980 của IUCN - Liên minh bảo tồn thế
giới.
(1)
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi
mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái
niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ
dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến
lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Theo báo cáo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu
chính trị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung
của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận tuyên bố chung về quan điểm phát
triển bền vững gồm 27 nguyên tắc cơ bản dưới đây:
1. Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con
người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên
nhiên.
2. Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của Luật pháp
Quốc tế. Các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những
chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo rằng
những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì
đến môi trường của các quốc gia khác hoặc những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn
quốc gia.
3. Cần phải thực hiện phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về
phát triển và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai.
4. Để thực hiện được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết phải là
bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó
5. Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là
xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững để
giảm những chênh lệch về mức sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số nhân
dân trên thế giới.
6. Cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho các nhu cầu của các nước đang phát triển, nhất
là các nước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường; những hoạt
động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến quyền lợi và
yêu cầu của tất cả các nước.
7. Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần "chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn
giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của Trái đất Vì sự
đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những
trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau. Các nước phát triển công nhận trách nhiệm
của họ trong các nỗ lực quốc tế về phát triển bền vững do những áp lực mà xã hội của
họ gây ra cho môi trường toàn cầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính
những nước nhập cảng. Những biện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề
môi trường ngoài biên giới hay toàn cầu dựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt
được.
14. Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho
những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác. Các quốc gia cũng cần hợp
tác một cách khẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách
nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong
phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền
hạn của họ.
15. Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự thay thế và
chuyển giao các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây nên sự
thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người.
16. Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận
ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia. Ở chỗ nào có nguy cơ gây tác hại nghiêm
trọng hay không sửa chữa được thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học
hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn sự thoái hoá môi
trường.
17. Các nhà chức trách của mỗi quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá
những chi phí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế căn cứ vào quan điểm cho
rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng
mức tới quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế
18. Đối với những hoạt động có thể gây những tác động xấu tới môi trường cần có
sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động môi trường và tuân theo quyết định
của một cơ quan quốc gia có thẩm quyền.
19. Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai
nào hay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường
của nước đó. Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này.
20. Các quốc gia cần phải thông báo trước, kịp thời và cung cấp thông tin có liên
quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
sức đa dạng và phong phú.
Trên thực tế, chúng ta cần có nhiều công trình nghiên cứu khoa học “đắc dụng” và hệ
thống tri thức để đáp ứng yêu cầu thực tế của sự phát triển bền vững, nhưng đó phải là
một nền khoa học mới với một nền kinh tế tri thức mới có thể giúp ta định hướng
đúng, kịp thời vào các vấn đề đặt ra. Phải là một hệ thống trí thức khoa học không thoát
ly các giá trị chính trị, kinh tế, xã hội và đạo lý, bảo đảm tính quy luật và khách quan,
không thiên lệch trong cách tiếp cận, có các bước thử nghiệm những giả thiết khoa học
một cách bài bản và chính xác.
Các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ sự phát triển bền vững phải được đặt
trong khuôn mẫu mới, biết chấp nhận sự phát triển mang tính quy luật của xã hội và tự
nhiên, để từ đó mới có thể điều khiển nó thoát ra khỏi những nhu cầu nghiên cứu phiến
diện, nhằm góp phần không chỉ nâng cao giá trị phục vụ lợi ích cho toàn xã hội, mà còn
là việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi con người, đây chính là mục tiêu trọng
tâm trong thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa hiện nay.
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 9
Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch, Công
nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế –
xã hội.
Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất –nhu cầu-tài nguyên thiên
nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất. Các nước
trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế –xã
hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát
triển và nước nông nghiệp. Do đó cần xem xét bốn vấn đề: con người, kinh tế, môi
trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát
triển bền vững.
Tóm lại: Phát triển bền vững liên quan đến 3 giác độ là kinh tế – xã hội – môi trường
được mô phỏng như hình dưới đây:
GNP = GDP - (Thu nhập của người nước ngoài chuyển ra khỏi lãnh thổ quốc gia )
+ (Thu nhập của cư dân trong nước từ nước ngoài chuyển về
Giá cả sử dụng để tính toán GNP và GDP
- GNP, GDP tính theo giá hiện hành:
(GNP,GDP
hh
) – GNP,GDP danh nghĩa
- GNP, GDP tính theo giá cố định:
(GNP, GDP
cđ
) - GNP, GDP thực tế
Giá cố định: là giá tại năm có nền kinh tế tương đối ổn định.
- GNP, GDP thực tế được tính từ GNP, GDP danh nghĩa điều chỉnh theo tỷ lệ lạm
phát.
(GNP, GDP
cđ
= GNP, GDP
hh
/ Tỷ lệ giảm phát)
GNP, GDP tính theo sức mua tương đương: (PPP – Purchasing Power Parity).
- GNP, GDP (PPP-US$) được tính theo phương pháp mà Ngân hàng thế giới đề
xuất.
GDP, GNI của một số nước, năm 2000 (Đơn vị: tỷ US$)
2100,0
Singapore 92,3 99,4
Canada 687,9 649,8
Hi Lạp 112,6 126,3
Mexico 574,5 497,0
Malayxia 89,7 78,7
Thái Lan 122,2 121,6
LB Nga 251,1 241,0
Trung Quốc
1100,0
1100,0
Việt Nam 31,3 30,4
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 11
- Tốc độ tăng trưởng (g) của nền kinh tế được tính bằng tốc độ tăng trưởng GDP của
nền kinh tế.
GDP
GDPGDP
g
0
01
x 100 %
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000
GNI, Dân số và GNI bình quân đầu người của một số nước, năm 2000
Bảng 3
Nước GNI
(tỷ USD)
Dân số
(triệu người)
GNI/người
(USD/người)
OECD 24100,0 851,1 28.310,0
Thuỵ Sĩ 273,8 7,2 38140,0
Nhật 4500,0 126,9 35620,0
Mỹ 9600,0 281,6 31100,0
Đức 2100,0 82,2 25120,0
Singapore 99,4 4,0 24740,0
Canada 649,8 30,8 21130,0
Malayxia 78,7 23,3 3380,0
Thái Lan 121,6 60,7 2000,0
LB Nga 241,0 145,6 1660,0
Mơn kinh tế phát triển - Đề tài: Mơi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 12
Trung Quốc
1100,0 1300,0 840,0
Việt Nam 30,4 78,5 390,0
LDCs 183,2 660,0 280,0
Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002
(nghìn
người)
Tốc
độ
tăng
(%)
Nam Nữ Thành thị
Nơng thơn
1990
66.016,7 1,92 48,78 51,22 19,51 80,49
1995
71.995,5 1,65 48,94 51,06 20,75 79,25
2000
77.635,4 1,36 49,17 50,84 24,22 75,78
2001
78.685,8 1,35 47,16 50,84 24,76 75,24
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, 2002
- Tỷ lệ thất nghiệp
ĐỘNG
LAO
NGUỒN
- Đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và phần
trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân. Đường cong Lorenz
được xây đựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô.
Từ các số liệu ví dụ ở Bảng 5 chúng ta có được những thông tin sau
Dân số cộng dồn – Xi(%) Thu nhập cộng dồn - Yi(%)
20 5
40 14
60 27
80 49
100 100 Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 14
Đường cong Lorenz - Hệ số Gini
Tỷ lệ đỉnh/đáy: Tỷ lệ thu nhập của 20% dân số giầu nhất với thu nhập của 20% dân
số nghèo nhất
Tỷ lệ nghèo đói Mô tả cách tính hệ số Gini
B)ADieäntích(
A)
Dieäntích(
đẳng
Đường cong
Lorenz
% Thu nhập
100
10
O
O’
E
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 15
Thể hiện bằng công thức đại số, ta có công thức tính hệ số Gini như sau
Công thức 1
10000
1
1
YXY
X
III
I
G
- Chỉ số Phát triển con người (HDI)
Chỉ số HDI một chỉ tiêu tổng hợp, thường được dùng để xếp loại mức độ phát triển
con người của một đất nước.
Chỉ số HDI được tính tổng hợp từ các chỉ tiêu cơ bản:
+ Tuổi thọ kỳ vọng
+ GDP bình quân đầu người
+ Trình độ học vấn:
+ Tỷ lệ biết chữ của cư dân
+ Tỷ lệ trẻ em nhập học
3
HDI
I
I
I
INEA
Trong đó: I
A
: Chỉ số đo tuổi thọ
I
E
: Chỉ số tri thức, giáo dục
I
IN
: Chỉ số mức sống
0.709
Thứ tự HDI
120 121 122 101 109 109 112 108 109
Việt Nam thuộc nhóm 78 nước có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình (0.5-
0.8).
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 16
Phạm vi phân bổ của chỉ số HDI của một quốc gia theo lý thuyết có khoảng phân bổ là
0 : HDI : 1. Chỉ số HDI của một quốc gia càng lớn thì mýc độ phát triển của quốc gia
càng được đánh giá cao.
3. Nhóm chỉ tiêu môi trường
Ve môi trường: phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng,
nguon nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để
nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng
nhanh. Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp
đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông
nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực
- Tỷ lệ che phủ rừng: tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tính theo phần trăm
(%)
- Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải
- Tỷ lệ các khu công nghiệp có hoặc sử dụng chung hệ thống xử lý rác thải rắn
- Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001
- Phát thải các khí nhà kính, tính theo tấn/năm
- Tỷ lệ các vùng đô thị có mức ô nhiễm không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép
- Hệ sinh thái đang bị đe doạ và các loài có nguy cơ diệt chủng, tính bằng số lượng
- Tổn thất về kinh tế do thiên tai hàng năm, phải được qui đổi ra tiền
phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 17
CHƯƠNG III
THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1. Khái niệm về nước đang phát triển
- Nước đang phát triển là quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công
nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao. Ở các
Vòng luẩn quẩn của các nước ĐPT
- Vấn đề đặt ra là các nước đang phát triển phải tìm ra con đường phát triển của
mình để phá vỡ vòng luẩn quẩn trên vươn lên thành các nước phát triển. Mô hình
phát triển kinh tế nào là phù hợp để đẩy nhanh quá trình phát triển của các nước
đang phát triển
Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
(MDGMillennium Development Goals) bao gồm từ mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ nghèo
cùng cực tới chặn đứng sự lây lan của HIV/AIDS và đạt phổ cập giáo dục tiểu học, tất
cả đều phải hoàn thành vào năm 2015.
Các MDG đã được tất cả các nước cũng như tất cả các cơ quan/tổ chức phát triển
hàng đầu trên thế giới nhất trí. Các mục tiêu này đã thúc đẩy những nỗ lực to lớn chưa
từng có nhằm đáp ứng nhu cầu của những người nghèo nhất trên thế giới.Các MDG là
nhằm phục vụ con người và đảm bảo rằng:
Năng suất thấp
Tích lu
ỹ
th
ấ
pCông ngh
ệ
bình đẳng.
3. Thực trạngcủa các nước đang phát triển
Hình ảnh một thế giới phát triển “không bền vững”, hoàn toàn đi ngược với tinh
thần của Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992. Khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc
gia càng lớn dần so với các nước Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Đối với các quốc gia
đang phát triển, giai cấp giàu chiếm thiểu số, giai cấp nghèo chiếm tuyệt đại đa số và
giai cấp trung lưu chiếm tỷ lệ rất khiêm nhường. Trên thế giới vẫn còn có hàng tỷ
người không có điều kiện tiếp cận và xử dụng nguồn nước sạch, hệ thống vệ sinh
thường thức hàng ngày, có mức dinh dưởng tối thiểu, có nơi cư trú an toàn, và được
chăm sóc sức khỏe. Tệ hại nhất, môi sinh tòan cầu đang phải gánh chịu hậu quả do sự
phát triển “không bền vững” gây ra.
Trước hết, về khía cạnh tăng trưởng, (theo lý thuyết, để nhân đôi GDP trong 10 năm,
một quốc gia cần đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 7%/năm).Bảng 7 dưới đây viện dẫn
so sánh của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
Bảng 7
Quốc gia 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Châu Á 4,0 6,1 6,8 5,7 6,5 6,3
Ấn Độ 5,8 6,7 5,4 4,2 4,9 5,1
Trung Quốc 7,8 7,1 8,0 7,3 8,0 7,5
Thái Lan -10,5 4,4 4,6 1,9 5,2 4,2
Việt Nam 5,8 5,2 6,8 6,9 7,0 7,2
Tuy nhiên, gia tăng bất bình đẳng thu nhập lại là một thách thức lớn. Theo các
nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
(UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)…, không chỉ có sự chênh lệch ngày càng
tăng về thu nhập giữa các nhóm dân cư mà hiện tượng này còn xảy ra giữa thành thị với
nông thôn, giữa các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Báo cáo thường niên
năm 2003 của GSO chỉ rõ, trung bình nhóm 20% số người thuộc nhóm thu nhập cao
Mơn kinh tế phát triển - Đề tài: Mơi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 20
10.000.000,00
12.000.000,00
14.000.000,00
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
NĂM
Triệu USD
Nam Phi
Nigienia
Canada
Mỹ
Trung Hoa
Nhật Bản
Cam Pu Chia
In đô nê xia
Lào
Việt Nam
Mơn kinh tế phát triển - Đề tài: Mơi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 21
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước của một số nước và vùng lãnh thổ (%)
Bảng 9
Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nam Phi
4,15 2,74 3,67 3,12 4,84 5,10 4,99
Ni-giê-ri-a
4,20 3,10 1,55 10,69 6,00 7,20 5,20
Ca-na-đa
5,29 1,78 2,94 1,82 3,30 2,94 2,80
Mỹ
3.69 0.76 1.61 2.52 3.92 3.23 2.90
Trung Hoa
In-đô-nê-xi-a
Lào
Việt Nam
Mơn kinh tế phát triển - Đề tài: Mơi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 22
Tổng sản phẩm trong nước bình qn đầu người theo giá thực tế của một số nước
và vùng lãnh thổ
Bảng 10 USD
Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nam Phi
3019.9 2643.9 2450.5 3628.6 4670.0 5162.0 5384.0
Ni-giê-ri-a
331.6 398.8 355.7 432.9 522.1 697.3 797.0
Ca-na-đa
23198.0 22686.8 23425.2 27380.3 31015.4 35024.9 38947.4
Mỹ
34599.5 35314.6 36156.4 37510.8 39699.6 41813.2 43968.8
Trung Hoa
855.9 1041.6 1135.5 1273.6 1490.3 1720.1 2016.1
Nhật Bản
37408.9 32738,4 30745,3 33112,8 36051,2 35603.0 34193.6
Cam-pu-chia
283,1 291,1 322,6 344,8 387,1 449,4 511,3
In-đơ-nê-xi-a
800.0 785.3 923.7 1093.6 1180.4 1301.1 1635.5
Lào
326.2 326.0 338.7 389.7 450.0 509.7 569.8
Việt Nam
402.0 412.9 439.9 491.9 552.9 639.1 723.0
Mơn kinh tế phát triển - Đề tài: Mơi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 23
Tổng sản phẩm trong nước bình qn đầu người tính theo sức mua tương đương của
một số nước và vùng lãnh thổ
Bảng 11 USD
Quốc gia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nam Phi
8908 9401 11290 10070 10346 11192
11110
Ni-giê-ri-a 853 896 850 860 1050 1154 1128
Ca-na-đa 26251 27840 27130 29480 30677 31263
33375
Mỹ 31872 34142 34320 35750 37562 39676
41890
Trung Hoa 3617 3976 4020 4580 5003 5896 6757
Nhật Bản 24898 26755 25130 26940 27967 29251
31267
Môn kinh tế phát triển - Đề tài: Môi trường và sự phát triển bền vững
Nhóm 1 – lớp cao học QTKD – Đại học Hồng Bàng Trang 24
Qua các bảng số liệu và biểu đồ trên ( từ bảng 2 – bảng 5)cho thấy sự tăng trưởng kinh
tế của các nước có sự phân biệt giàu nghèo rất rõ ràng.
Các nước phát triển có thu nhập GDP cao, GDP bình qn đầu người cao, nhưng sự
tăng trưởng hàng năm thấp. Còn các nước đang phát triển có thể do mục tiêu tăng
trưởng kinh tế hàng năm là vơ cùng quan trọng, nó được đặt lên hàng đầu trong sách
lược kinh tế. Nhung GDP và Thu nhập bình qn lại q thấp so với các nước phát
triển. Chính vì thế nó có ảnh hưởng rất sấu đến tiêu chí cho phát triển bền vững. Đặc
biệt là Trung Quốc.
này đã được các quốc gia hậu kỹ nghệ nghiên cứu kỹ lưỡng, tuy nhiên hầu như họ chỉ
nhắm vào mục đích là làm tăng lợi nhuận trong sản xuất qua sự giảm thiểu ngun liệu,
hóa chất và chất phế thải. Qua chương trình Hóa học Xanh cho Dược phẩm (Green
Chemistry for Pharma) với mục đích khuyến khích nghiên cứu các quy trình sạch trên,
cơng ty dược phẩm Pfizer đã thành cơng trong việc cải thiện quy trình sản xuất của một
loại thuốc an thần nổi tiếng Sertraline, có tên thương mãi là Zoloft. Quy trình mới là
giảm thiểu các cơng đoạn hòa tan và kết tinh, cộng thêm sự oxit hóa do đó làm giảm
lượng dung mơi xử dụng cho một tấn thuốc sản xuất là 55.000 gallons. Mức sản xuất
hàng năm ngồi dung mơi ra ước tính giảm thiểu được 440 tấn titanium dioxide, 150 tấn
acid clorhydric 35%, và 100 tấn sút 50%, và quan trọng nhất là hạn chế một số lượng
phế thải lớn trong sản xuất. Tuy việc làm trên đã tiết giảm một chi phí lớn lao nhưng giá
bán ra thị trường của Zeloft càng tăng thêm: US$ 65.00 trong năm 2002 cho một hộp
30 viên 50mg so với $50.00 cách đó hai năm khi chưa áp dụng quy trình sạch! Vơ
hình chung những việc tương tự chỉ làm tăng khoảng cách giàu nghèo ngay cả chính
trong các nước phát triển và hồn tồn đi ngược lại với ngun tắc của “phát triển bền
vững”
Từ những nhận định trên, dù có suy nghĩ tích cực đến đâu đi nữa, chúng ta khó nhìn
thấy được những đóng góp hữu hiệu cho việc phát triển bền vững để bảo vệ mơi trường
tồn cầu trong tương lai, vì:
Các nhà sản xuất ở từng quốc gia sẽ cũng chỉ chạy theo lợi nhuận và giảm thiểu mức
chi thấp nhất trong phát triển;
Tinh thần quốc gia cực đoan, và sự e dè trong việc can thiệp vào nội bộ các quốc gia
khác
Hệ thống tham nhũng từ cao xuống thấp ở những quốc gia đang phát triển hầu như vơ
phương cứu chữa. Dù luật lệ mơi trường có khắc khe đến đâu, thì việc xử lý phế thải
độc hại trong đất, khơng khí và nguồn nước do sản xuất và phát triển cũng sẽ bị ém
nhẹm hay lãng qn
Các chính phủ của những quốc gia đang phát triển vì nhu cầu cấp bách của cán cân
mậu dịch mà phải tăng gia phát triển kinh tế và lãng qn yếu tố bảo vệ mơi trường, dù
họ biết rất rõ hệ luỵ nầy sẽ đưa đến những xáo trộn trong việc phát triển xã hội sau đó