ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ - LUẬT
Tiểu Luận môn Kinh tế Công cộng
Đề tài:
Y TẾ
GVHD: TS. Nguyễn Văn Ngãi
NHVTH: Trần Hữu Quyết
Dương Thế Duy
Lớp: Kinh tế học – Cao học khóa 10
Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 07 Năm 2011
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống y tế ở nước ta đã nhanh chóng phát triển, phục vụ tốt
hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Trong những năm gần đây các cơ sở y tế,
đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương đã được đầu tư nâng cấp về trang
thiết bị, trình độ chuyên môn và tay nghề của cán bộ y tế được tiếp tục nâng cao, Tuy
nhiên, hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về
chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Phải chăng là có sự bất cập trong đầu tư,
trong phân bổ nguồn lực cũng như trong các lĩnh vực dịch vụ y tế mà nhà nước và tư nhân
đang làm hiện nay? Như vậy thì nhà nước cần phải làm gì để giải quyết những vấn đề
trên, nhà nước có nên ôm đồm tất cả các lĩnh vực trong các dịch vụ y tế hay chỉ nên nắm
một số các dịch vụ y tế mang tính lan tỏa, mang tính cộng đồng xã hội phần còn lại nên
tạo điều kiện cho tư nhân tham gia?
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách nhằm thể hiện sự
quan tâm, khuyến khích đối với sự phát triển của y tế tư nhân. Từ một hệ thống cung ứng
dịch vụ hoàn toàn thuộc sở hữu Nhà nước, chuyển sang hệ thống cung ứng dịch vụ công tư
hỗn hợp, trong đó y tế công giữ vai trò chủ đạo. Vấn đề đặt ra là có nên tạo điều kiện để y
tế tư nhân nên phát triển theo cơ chế thị trưòng hay chỉ giới hạn đến mức nào đó trong hệ
thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh chung?.
Để giải quyết vần đề trên, cần xem xét khả năng thực tế và vai trò của y tế tư nhân đối với
mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển của hệ thống y tế. Theo nhận định của các
II.4. Hàng hóa công cộng, hàng hóa tư nhân:
Hàng hóa công cộng là hàng hóa không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ trong
quá trình sử sụng còn hàng hóa tư nhân thì ngược lại nó mang đầy đủ hai tính chất trên
Ví dụ: Công viên, sóng truyền hình, quốc phòng người này sử dụng không ảnh hưởng và
không loại trừ người khác
Hàng hóa công cộng thuần túy và không thuần túy: Hàng hóa công cộng thuần túy mang
đầy đủ hai tính chất là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ trong quá trình
sử dụng còn hàng hóa công cộng không thuần túy chỉ đạt được một trong hai tính chất trên
Ví dụ: Thỏ trên rừng, cá dưới nước có tính loại trừ nhưng không có tính cạnh tranh
II.5. Những điểm khác nhau giữa thị trường cạnh tranh thuần và thị trường y tế:
Thị trường cạnh tranh thuần Thị trường y tế
Nhiều người bán
Chỉ có một số ít bệnh viện(trừ một số
thành phố lớn)
Các hãng tăng tối đa lợi nhuận Hầu hết các bệnh viện không vì lợi
nhuận
Hàng hóa đồng nhất Hàng hóa không đồng nhất
Người mua được thông tin tốt nhất Người mua được thông tin kém
Người tiêu dùng thanh toán trực tiếp Bệnh nhân chỉ trang trãi được một
phần chi phí
III. SỰ THẤT BẠI CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ
SỰ CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC
Y tế là dịch vụ tư vì chúng có tính loại trừ và tính cạnh tranh, nhưng nó thuộc nhiều sở
hữu khác nhau như: sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và cổ phần. Nó là hàng hóa tư và vì
vậy nó hoạt động theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, do sự thất bại của thị trường đối với
dịch vụ cham sóc sức khỏe này nên nhà nước cần phải can thiệp để giải quyết sự thất bại
3
đó và mang lại sự công bằng, tạo điều kiện cho mọi người đều có thể được khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khỏe của mình.
III.1. Sự thất bại của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe
hướng gia tăng? Làm thế nào hình thành được một cơ chế tài chính y tế công bằng, hiệu
4
quả và bền vững trong điều kiện đất nước còn nghèo và >60% nguồn tài chính cho các
dịch vụ y tế hiện nay là từ các khoản thanh toán bằng tiền túi của người dân khi họ sử
dụng dịch vụ? Làm thế nào để củng cố và nâng cao hiệu quả của hệ thống cung ứng dịch
vụ y tế nhà nước, đồng thời mở rộng và phát huy khu vực y tế tư nhân? Làm thế nào để
ngành y tế, nền y học phát triển, không bị tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên
thế giới? Làm thế nào để tăng cường tính chiến lược trong công tác chỉ đạo, xây dựng
chính sách, kế hoạch và giám sát hệ thống y tế, cùng với việc giảm sự can thiệp của các cơ
quan quản lý nhà nước vào công việc hàng ngày của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế?
Để khắc phục được những thất bại của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đạt được
những mục tiêu mong muốn của bộ y tế và chính phủ thì cần có sự can thiệp của nhà nước.
Và phần tiếp theo sẽ nói về thực trạng của ngành y tế và một số giải pháp để nói lên mức
độ can thiệp của nhà nước và mức độ phát triển của y tế tư nhân như thế nào.
IV. THỰC TRẠNG NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
IV.1. Tình trạnh quá tải:
Tình trạng quá tải tại TP.HCM
TP.HCM là đô thị đông dân. Kết quả điều tra mới nhất (năm 2009) cho biết, dân số
TP.HCM trên 7,3 triệu người, mật độ 3.419 người/km². Mật độ dân số quá cao ở các quận
trung tâm cộng với sự bùng phát tệ nạn xã hội (mại dâm, ma túy) và ô nhiễm môi trường
đã làm gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Trong khi đó, hệ thống y tế của TP.HCM vốn
quá tải nhiều năm qua. Tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân của TP.HCM hiện là 41, toàn thành
phố có khoảng 60 bệnh viện, 320 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh, nhưng phân bổ không hợp lý,
tập trung chủ yếu ở nội thành. Ngoài hệ thống y tế công, TP.HCM còn có hơn 2.300 cơ sở
y tế tư nhân và gần 1.500 cơ sở dược tư nhân, dù giảm tải được một phần cho các bệnh
viện lớn nhưng chủ yếu là các bệnh viện ở khu vực trung tâm. Vì vậy, ngành y tế chưa
công bằng với mọi đối tượng thụ hưởng, khiến người dân ngoại thành bị thiệt thòi.
TP. HCM đề ra chỉ tiêu đến cuối năm 2015, đạt tỷ lệ 15 bác sĩ/10.000 dân. Tuy nhiên để
đặt được mục tiêu tỷ lệ 15 bác sĩ/10.000 dân vào cuối năm 2015 là khó khả thi. Lý do, vào
năm 2002, tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân của TP.HCM là 7,31; đến năm 2005, tỷ lệ này giảm còn
70-80 trẻ, trong đó khoảng 20-25 trẻ phải nhập viện và số bệnh nhân điều trị tại khoa trung
bình từ 100-110 trẻ. Người đến khám nhiều, người điều trị cũng đông, trong khi cả khoa
mới chỉ có 8 bác sĩ, nên công việc rất vất vả.
Cùng với thiếu hụt đội ngũ bác sĩ thì việc thiếu dược sĩ đại học cũng là một thực trạng diễn
ra tại bệnh viện tỉnh. Mặc dù đã được sự quan tâm của Sở Y tế, nhưng đến nay bệnh viện
cũng chỉ có 4 dược sĩ đại học. Do nhân lực “mỏng” nên chỉ có thể triển khai tốt nhiệm vụ
chính của khoa là quản lý và cung ứng thuốc, còn việc triển khai công tác dược lâm sàng,
thông tin thuốc tuy đã có kết quả bước đầu song vẫn chưa phát huy hiệu quả cao như
mong muốn.
Ở tuyến huyện, sự thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ cao cũng gây nên nhiều hệ lụy.
Bệnh viện đa khoa huyện Yên Lập hiện có 6 khoa phòng, với chỉ tiêu 100 giường bệnh
như hiện nay thì cần phải có tới 30 bác sĩ, nhưng thực tế chỉ có 8 bác sĩ . Trung bình một
bác sĩ phải khám cho 80 lượt bệnh nhân/ngày. Như vậy, sức ép công việc khám, chữa bệnh
và trực chuyên môn là rất lớn. Một nan giải nữa là hiện nay bệnh viện vẫn chưa có dược sĩ
đại học.
Lâu nay trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, người ta hay nhắc tới việc “thừa thầy thiếu
thợ”, nhưng riêng trong ngành Y tế, tình trạng “thiếu thầy” lại đang khá phổ biến, trong
khi đó rất nhiều sinh viên các trường cao đẳng y tế, cao đẳng dược ra trường vẫn “nằm
dài” vì chưa tìm được việc.
Qua hai ví dụ về tình trạng quá tải trong việc chăm sóc sức khỏe ở TP.HCM và Phú Thọ
đã cho thấy tình trạng quá tải không chỉ tập trung ở các thành phố lớn mà nó còn xảy ra ở
khắp các tỉnh và thành phố trong cả nước.
6
IV.2. Nguồn vốn hạn hẹp:
Theo Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế, nhu cầu đầu tư cho 225 bệnh viện tuyến tỉnh ước
khoảng 45.000 tỉ đồng. Còn để phát triển y tế chuyên sâu cần khoảng 10.000 tỉ đồng; nâng
cấp các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh khoảng 100.000 tỉ đồng; phát triển đội y bác sỹ
cần 5.000-10.000 tỉ đồng Trong khi đó, vốn đầu tư phát triển được chính phủ cân đối
hằng năm cho toàn ngành y tế chỉ chiếm khoảng 5-6% GDP. Con số này không thể đủ cho
việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất. Thực tế
tế cơ sở, trong khi đó người không nghèo chủ yếu khám bệnh ở tuyến trên. Cụ thể, tỷ lệ
người nghèo khi bị ốm đến khám bệnh tại tuyến xã chiếm tới 70%, cao gấp đôi tỷ lệ này ở
nhóm người có kinh tế khá. Người dân hiện được hưởng phí dịch vụ viện phí tại các bệnh
viện công thấp hơn với bệnh viện tư và quốc tế (Bởi vì 15 năm qua, giá viện phí ở các
bệnh viện công lập không thay đổi)
Việc bệnh viện tư tham gia khám chữa bệnh bằng BHYT sẽ góp phần giảm tải cho các
bệnh viện công lập và giúp người dân có thêm nhiều lựa chọn. Tại TP. Hồ Chí Minh, có
khoảng 70-80% bệnh nhân tham gia khám chữa bệnh theo diện BHYT. Trên thực tế, nhiều
bệnh nhân phải ngán ngẩm chen chân chờ đợi khám chữa bệnh tại các bệnh viện công lập,
bất bình trước tinh thần phục vụ của nhân viên y tế đối với bệnh nhân tham gia khám chữa
7
bệnh BHYT. Trước tình hình trên cùng với Luật Bảo hiểm y tế mới được áp dụng và nhằm
hướng tới BHYT toàn dân thì các bệnh viện tư nhân tham gia BHYT lại đang thu hút một
số lượng lớn bệnh nhân có thẻ BHYT tới khám chữa bệnh.
Mô hình các bệnh viện tư nhân tham gia khám chữa bệnh BHYT đã được triển khai từ
năm 2006 nhưng ban đầu các bệnh viện tư vẫn chưa mặn mà với mô hình này. Theo thống
kê của Bảo hiểm y tế TP. Hồ Chí Minh, hiện TP. Hồ Chí Minh có gần 77 cơ sở y tế tư
nhân tham gia nhận khám chữa bệnh BHYT. Trong tổng số hơn 4 triệu người tham gia
BHYT tại TP. Hồ Chí Minh thì số bệnh nhân tham gia BHYT tới khám tại các bệnh viện y
tế tư nhân chiếm khoảng 10% và con số này sẽ không chỉ dừng tại đây.
- Mặt trái của BHYT
Giá
A B
P
BH 80%
C
D
BN20%
O
cho như hiện nay là hoàn toàn không ổn.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống y tế tư nhân ở Việt Nam vẫn còn tồn tại
nhiều hạn chế, đặc biệt vấn đề đạo đức nghề nghiệp chưa được chú trọng đúng mức.
Chẳng hạn như: yêu cầu bệnh nhân tiến hành những bước xét nghiệm không cần thiết,
móc ngoặc với các nhà thuốc tư nhân bán thuốc đắt tiền cho bệnh nhân…Bên cạnh đó, vấn
đề đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho các bác sĩ hoạt động trong ngành y tế tư nhân cũng
chưa được quan tâm, chú ý tới.
V. KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
- Thực tế, nhu cầu đầu tư trong ngành y tế hiện nay là rất lớn và không thể mãi trông chờ
vào nguồn ngân sách nhà nước, nhà nước không thể cung cấp toàn bộ các dịch vụ công do
hạn chế về nguồn lực và ngành y tế cần phải huy động mọi nguồn vốn đầu tư để nâng cao
chất lượng phục vụ. Trong những năm qua, y tế tư nhân chia lửa cho các bệnh viện công,
bệnh viện công vẫn đang quá tải, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân quá nhiều nên
hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân giúp giảm tải cho bệnh viện công. Bởi vì, trong hợp
tác công - tư, tư nhân có vai trò và ý nghĩa quan trọng để chia sẻ gánh nặng tài chính và
tăng cường sự sẵn có của dịch vụ y tế góp phần triển chất lượng dịch vụ y tế.
- Trong những năm qua, nhờ chủ trương xã hội hóa mà hệ thống y tế tư nhân phát triển.
Điều này thúc đẩy các bệnh viện công xuất hiện đa dạng các mô hình xã hội hóa: khám
chữa bệnh ngoài giờ, giường dịch vụ, phẫu thuật theo yêu cầu, huy động từ cán bộ nhân
viên để mua sắm máy móc, liên doanh, liên kết với các công ty để cạnh tranh với các bệnh
viện tư nhân.
V.1. Tạo điều kiện tư nhân tham gia khám chữ bệnh BHYT
Tăng quyền lựa chọn cho người tham gia BHYT. Bệnh viện tư nhân tham gia khám chữa
bệnh BHYT là hình thức cạnh tranh lành mạnh giữa bệnh viện công lập và tư nhân nói
chung cũng như các bệnh viện tư nhân nói riêng. Việc bệnh viện tư nhân tham gia khám
chữ bệnh BHYT góp phần tăng quyền lựa chọn cho người tham gia BHYT, vì hiện nay
9
các cơ sở tư nhân khi tham gia đăng ký BHYT phải chấp nhận mặt bằng về giá thanh toán
theo quy định không khác gì so với bệnh viện công. Ngoài viện phí thì giá thuốc được
thanh toán cũng phải theo giá gốc mua vào có hóa đơn nhưng không được cao hơn giá
chính sách, cơ chế quản lý và tài chính. "Trong số các lựa chọn đổi mới, cổ phần hóa bệnh
viện chưa phải là một lựa chọn tốt nhất, càng không phải là duy nhất nhưng hoàn toàn có
thể được coi là một thử nghiệm trong điều kiện thực tế Việt Nam"
Tài liệu tham khảo
1. Kinh tế công cộng, Joseph E. Stiglitz
2. Tổng cục thống kê
10
3. Các trang web
11