Tiểu luận môn Kinh tế lượng Khảo sát mức tiền lương công việc làm thêm của sinh viên ĐH Ngân hàng TP.HCM - Pdf 27

KHẢO SÁT MỨC TIỀN LƯƠNG TRONG VIỆC
LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN ĐH NGÂN HÀNG
TP.HCM
Nhóm kinh tế lượng T03:
- Võ Bắc Thành
- Bùi Anh Thịnh
- Hồ Minh Quý
GVHD: LÊ HOÀNG OANH
LỜI MỠ ĐẦU
1
1/ Lí do chọn đề tài:
Việc làm thêm là một nhu cầu rất thực tế của những sinh viên ngày nay bởi
nó không chỉ có thể tạo thêm 1 thu nhập đáng kể cho sinh viên trang trải cho việc
học tập mà còn giúp cho sinh viên có thêm được kinh nghiệm cọ xát thực tế, tạo
quan hệ, chứng tỏ được khả năng và bản lĩnh của mình trước doanh nghiệp. Rất
nhiều bạn trẻ ngày này không còn coi việc làm thêm chĩ là một công việc kiếm
thêm thu nhập nữa bởi với suy nghĩ sau khi học bốn năm đại học nhưng đa số
những kiến thức học được trên ghế nhà trường chủ yếu là lí thuyết, khó mà thực
hành được nên 2 từ “kinh nghiệm” là một điều rất quý báu và nó làm nên sự khác
biệt trong môi trường cạnh tranh việc làm gay gắt như bây giờ. Ngoài kinh nghiệm
làm việc, các bạn ấy còn nhận được những kinh nghiệm thực sự đáng giá trong cuộc
sống: kinh nghiệm ứng xử, giao tiếp, quan hệ đồng nghiệp, giữa sếp với nhân viên.
Được va vấp và trưởng thành hơn. Suy nghĩ khác về công việc sau này và những kỹ
năng cần thiết trong cuộc sống đã khiến họ có sự chọn lựa công việc làm thêm kỹ
càng hơn. Tuy nhiên, khi lựa chọn những công việc làm thêm để có kinh nghiệm,
các bạn trẻ cũng thường quan tâm chú ý đến những công việc liên quan đến ngành
học của mình, để mình có nơi thực hành những cái đang học.
Tuy nhiên, công việc làm thêm là có hạn và năng lực tự tìm việc làm của
sinh viên còn hạn chế trong việc sử dụng thông tin qua báo chí, internet. Bên cạnh
đó, việc thiếu hụt sự hỗ trợ từ các Đoàn, Hội cũng như các trung tâm hỗ trợ việc
làm cho sinh viên nên nhu cầu thích đáng này khó được đáp ứng đầy đủ. Vì vậy, với

5/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của để tài:
Vấn đề làm thêm của sinh viên ngày nay vẫn còn nhiều bất cập. Mỗi sinh
viên có điều kiện hoàn cảnh gia đình khác nhau, bên cạnh những mặc tích cực của
việc làm thêm cũng đem lại nhiều tiêu cực không kém mà nhiều bạn sinh viên vẫn
còn chưa nhận thấy. Vì vậy, hi vọng sau bài tiểu luận này sẽ đưa ra một số định
hướng trong việc lựa chọn công việc làm thêm của từng sinh viên và giải pháp thời
gian sao cho phù hợp.
6/Kết cấu của đề tài:
Chương 1: Tổng quan về việc làm thêm và các yếu tố tác động đến mức tiền
lương của công việc làm thêm.
Chương 2: Thực trạng việc làm thêm của sinh viên ĐH Ngân hàng Tp.HCM
Chương 3: Thiết lập mô hình hồi quy
Chương 4: Một số nhận xét rút ra từ mô hình
MỤC LỤC
3
Chương 1: Tổng quan về việc làm thêm và các yếu tố tác động đến mức
lương của việc làm thêm 5
1.1- Khái niệm: 5
1.1.1- Công việc làm thêm ( công việc bán thời gian): 5
1.1.2- Mối quan hệ giữa mức tiền lường của việc làm thêm và các yếu tố tác
động: 5
Chương 2 : Thực trạng làm thêm của sinh viên ĐH Ngân Hàng TP.HCM.6
Chương 3: thiết lập mô hình 9
3.1- Mô hình nghiên cứu 9
3.2- Thống kê mô tả: 10
3.3- Thiết lập mô hình 10
3.3.1- Thiết lập mô hình hồi quy gốc: 10
3.3.2- Kiểm định độ chặt chẽ của mô hình: 12
3.3.3- Kiểm định ý nghĩa thống kê của tham số: 12
3.3.4- Kiểm định đa cộng tuyến : 13

khi tìm việc là như thế nào thì nhóm chúng em xin đưa ra một số yếu tố tác động
đến yêu cầu tiền lương như sau:
- Thu nhập (tiền được chu cấp từ gia đình và người thân): theo lý thuyết của Keynes
nói về thu nhập và tiêu dùng thì khi thu nhập càng tăng thì chi tiêu cũng sẽ tăng ( và
ngược lại ). Ta có thể thấy, khi mà chi tiêu tăng thì mong muốn kiếm được một
công việc để có thêm thu nhập của người đó sẽ có xu hướng tăng theo và tất nhiên
tiền lương càng cao sẽ hấp dẫn hơn. Do đó, thu nhập cũng sẽ ảnh hưởng đến mức
tiền lương của công việc làm thêm và nó tác động cùng chiều với nhau.
- Sinh viên năm mấy: đây cũng là 1 yếu tố khá quan trọng, bởi nhìn vào đó mà ta có
thể đánh giá được mức độ yêu cầu của một sinh viên tới công việc tìm kiếm. Có thể
hình dung như thế này, khi mà một sinh viên năm nhất hay năm hai còn chập chững
bước vào cuộc đời sinh viên của mình thì với tâm trạng là khá rụt rè và chưa quen
với được nếp sống tự lập của phần đông các bạn xa nhà thì những chi phí như đi
chơi, đi ăn, đi uống . . . . cũng còn khá ít, bên cạnh đó với áp lực học tập còn nhẹ
nên thời gian rãnh rỗi còn khá nhiều nên mong muốn kiếm một công việc trong lúc
nhàn rỗi là rất cần thiết và các bạn cũng thấy không bỏ phí thời gian, vì như thế nên
yêu cầu về tiền lương cũng sẽ ít chứ không đòi hỏi nhiều. Còn qua đến năm 3, năm
4 thì thời gian đã bị bó hẹp lại rất nhiều với những môn chuyên ngành nặng nề,
những bài tiểu luận, thuyết trình, luận văn đã ảnh hướng đến quỹ thời gian cũng như
sức khỏe của các bạn nên yêu cầu kiếm được 1 công việc cũng ít hơn, bên cạnh đó
những bạn sinh viên này khi kiếm việc cũng đòi hỏi một mức lương cao hơn vì nghĩ
bản thân cũng đã có những khả năng nhất định.
- Công cụ tìm việc: đây là yếu tố sẽ phản ánh đến khả năng tìm việc của sinh viên,
qua đó với một sinh viên năng nỗ, ham tìm hiểu và biết tận dụng những lợi thế qua
những mối quan hệ, thông tin đại chúng sẽ giúp cho bạn đó kiếm được một công
việc tốt hơn với một mức lương cao hơn.
5
- Thời gian làm việc: đây là yếu tố phản ánh đến sự tác động của công việc lên quỹ
thời gian cũng như sức khỏe của một sinh viên. Ta có thể hiểu, nếu thời gian làm
việc quá nhiều sẽ khiến cho sinh viên dễ cảm thấy mệt mõi, stress và sẽ dễ ảnh

không.
- Mục đích kiếm việc: nếu bạn chỉ làm việc để kiếm tiền thì tất nhiên tiêu chí hàng
đầu là mức lương phải cao, tuy nhiên nếu bạn còn đòi hỏi nó phải mang lợi sự hiểu
biết về giao tiếp ứng xữ, kinh nghiệm đi làm, những kiến thức xã hội hay đơn giản
chĩ là theo ý thích thì mức lương cũng sẽ ít được quan tâm hơn
- Tiền lương có đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu: việc kiếm được một công việc phù hợp
với mức lương xứng đáng mà bạn đã bỏ ra sẽ được bạn quan tâm cao.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN ĐH
NGÂN HÀNG TP.HCM
Hiện nay có rất nhiều sinh viên đến các trung tâm môi giới tìm cho mình một
công việc bán thời gian với rất nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu là kiếm thêm
6
ít tiền gánh vác các khoản chi tiêu. Có thể coi đó là nhu cầu cần thiết của các bạn
sinh viên vốn được coi là những người bị mắc căn bệnh "viêm màng túi".
Về mặt tích cực, có thể coi công việc ngoài giờ của sinh viên là một môi
trường học tập mà nhà trường không thể dạy được.Sinh viên được giao tiếp rộng
hơn bên ngoài xã hội, điều này giúp cho họ có được thêm sự tự tin và mạnh mẽ, rất
có ích cho cuộc sống sau khi tốt nghiệp.Bên cạnh đó họ có thể rèn luyện thêm
những kỹ năng mà họ đã được học trên giảng đường nhưng chưa có dịp đem nó ra
thực hành.
Ví dụ như sinh viên nghành ngoại ngữ làm nhân viên trong một số nhà hàng,
quán ăn được giao tiếp với người nước ngoài. Trong quá trình làm việc, họ có thể
thực hành luôn khả năng nghe nói và giao tiếp. Hay như sinh viên trong các ngành
kinh tế chẳng hạn, họ sẽ hiểu biết hơn về tâm lý khách hàng, cách điều hành của các
ông chủ sao cho đem lại hiệu quả nhất… Và một điều nữa là hầu hết sinh viên đều
rảnh rỗi sau nửa ngày học ở trường.Vì thế nhiều sinh viên tìm cho mình một công
việc bán thời gian, không chỉ giúp cho họ có thêm một khoản chi tiêu mà còn hữu
ích hóa thời gian rảnh rỗi, tránh "nhàn cư vi bất thiện".
Nhưng như đã nói, cái gì cũng có 2 mặt.Mặt tiêu cực không phải là ít.Chưa
nói đến việc nhiều trung tâm tư vấn có nhiều mánh khóe lắm khi làm những sinh

Mô hình tổng quát:
Y= C
1
+ C
2
X
2
+ C
3
X
3
+ C
4
X
4
+ C
5
D
1
+ C
6
D
2
+ C
7
D
3
+ C
8
D

3
: sinh viên năm thứ mấy
X
3
=1 : năm nhất
X
3
=2 : năm 2
X
3
=3 : năm 3
X
4
=4 : năm 4
 X
4
: Công cụ tìm việc của sinh viên
X
4
=1 : bạn bè, người thân
X
4
=2 : trung tâm hỗ trợ việc làm có tính phí
X
4
=3 : các thông tin đại chúng, internet
X
4
=4 : các công cụ khác.
 X

2
=0 : ngoài kí túc xá
 D
3
: phương tiện di chuyển:
D
3
=1 : đi bộ
D
3
=0 : phương tiện khác.
 D
4
: công việc có liên quan đến ngành học của bạn không
D
4
=1 : Có
D
4
=0: Không
9
 D
5
: bạn đã từng đi làm chưa
D
5
=1: Có
D
5
=0: Không

tiền lương trong việc làm thêm của sinh viên ĐH Ngân hàng Tp.HCM.
Trong đó:
• Biến Y: nhiều nhất là Y=2 với 110 mẫu, ít nhất là Y=4 với 9 mẫu, trong đó Y=1 là
46 mẫu, Y=3 là 45 mẫu.
• Biến X
2
: X
2
=1 có 42 mẫu, X
2
=2 có 97 mẫu, X
2
=3 có 88 mẫu, X
2
=4 có 15 mẫu
• Biến X
3
: X
3
=1 có 40 mẫu, X
3
=2 có 86 mẫu, X
3
=3 588 mẫu, X
3
=4 có 16 mẫu
• Biến X
4
: X
4

2
=0 có 118 mẫu.
• Biến D
3
: D
3
=1 có 92mẫu, D
3
=0 có 108 mẫu.
• Biến D
4
: D
4
=1 có 20 mẫu, D
4
=0 có 180 mẫu.
• Biến D
5
: D
5
=1 67 có mẫu, D
5
=0 có 133 mẫu.
• Biến D
6
: D
6
=1 có 129 mẫu, D
6
=0 có 71 mẫu.

+ 0,163671*D
3
+ 0,022350*D
4
- 8,82E-17*D
5
+
0,328571*D
6
- 0,257422*D
7
+ 0,350368*D
8
+ U
i
10
Nhận xét:
Mức độ phù hợp của mô hình so với thực tế là R
2
90,4637%, dựa vào bảng
hồi quy gốc ta thấy các biến X
2
,X
3
, X
5
, D
3
, D
6

=0)
H1 : Tồn tại mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập (R
2
#0)
Theo kết quả báo cáo 1, ta có P-value (Fs) = 0,00000<0,05 => bác bỏ H0,
chấp nhận H1. Vậy mô hình có ý nghĩa.
3.3.3- Kiểm định ý nghĩa thống kê của tham số:
 Kiểm định C
2
:
H0: không có mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến X
2
(C
2
=0)
H1: biến X
2
có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc
Theo kết quả hồi quy ta có P-value= 0,0002<0,05 => bác bỏ H0,. Vậy biến
X
2
có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc.
Tương tự ta có biến X
3
và X
5
, D
3
, D
6,

Theo kết quả hồi quy, ta thấy có: P-value=0.0000 < 0.05 => Bác bỏ H
0
Do đó, mô hình bị phương sai thay đổi.
3.3.6- Kiểm định tự tương quan:
 Tự tương quan: là các hiện tượng các sai số ngẫu nhiên của mô hình có tương
quan với nhau về mặt thống kê.
Với mức ý nghĩa 5%
H
0
: Mô hình không có sự tự tương quan
H
1
: Mô hình có sự tự tương quan
Theo kết quả hồi quy, ta có: P-value=0.000 < 0.05 => bác bỏ H0
13
Do đó, mô hình có sự tự tương quan.
3.3.7- Kiểm định việc chon mô hình có bị bỏ sót biến không:
Với mức ý nghĩa 5%
H0: Biến không bị bỏ sót.
H1: Biến bị bỏ sót.
Theo kết quả hồi quy, ta có: P-value=0.0280 < 0.05 => Bác bỏ H0
Do đó, mô hình có bỏ sót biến.
14
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐƯỢC RÚT RA TỪ MÔ
HÌNH
Đi làm thêm là cách giúp nhiều sinh viên trang trải cuộc sống, phụ giúp gia
đình.Song, không phải ai cũng biết tìm một công việc làm thêm hài hòa với bản
thân và không bị ảnh hướng đến việc học.
Hiện nay, nhiều sinh viên vẫn thường tìm kiếm những công việc làm thêm
với mục đích do khác nhau: thêm tiền đóng học phí, có tiền tiêu vặt cho sinh họat

những điều kiện của mình là một xu hướng tất yếu để lấy ngắn nuôi dài, đã là xu
hướng tất yếu thì chúng ta không thể nào kiểm soát được. Tuy nhiên, để kiếm được
một công việc phù hợp với từng cá nhân sinh viên thì không phải chuyện dễ dàng,
mỗi người phải tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản để có thể đưa ra một
sự lựa chọn công việc ưng ý cho bản thân, vừa có thể đem lại những lợi ích mà còn
giúp cho bản thân được có thêm niềm vui trong cuộc sống hàng ngày, nhất là những
bạn sinh viên vốn ỡ xa thường thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình nên tập cho
bản thân tính tự lập để có thể đối mặt với những khó khăn sắp tới trên con đường
đời.
Với bài khảo sát còn mang nhiều thiếu sót vì những lí do khách quan như
chưa có đủ thời gian để hiểu rõ một vấn đề mới và đầy bỡ ngỡ, mong Cô thông cảm
và có những góp ý đến chúng em để chúng em có thể cải thiện bài làm được tốt hơn
cũng như có những kiến thức vững vàng hơn. Xin cám ơn Cô đã theo dõi bài khảo
sát ạ.
16
Phụ lục
Bảng khảo sat về số tiền lương mong muốn cho
công việc làm thêm của sinh viên đại học Ngan hàng
TP.HCM
1.Thu nhập của bạn theo từng tháng
O Dưới 1000000 đồng
O Từ 1000000 đến 2000000
O Từ 2000000 đến 3000000
O Trên 3000000
2.Bạ là sinh viên năm mấy
O Năm 1
O Năm 2
O Năm 3
O Năm4
3.Công cụ tìm việc của bạn

O Không
12.Công việc có liên quan đến ngành học của bạn không?
O Có
O Không
13. mức tiền lương bạn mong muốn
O Dưới 1 triệu
O 1 triệu đến 1,5 triệu
O 1,5 triệu đến 2 triệu
O trên 2 triệu
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status