Tiểu luận môn kinh tế lượng vấn đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định quay trở lại khám bệnh ở cơ sở y tế công khi đã từng khám bệnh ở đó - Pdf 12

Phần1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đã là con người sinh ra trên cõi đời không ai thoát khỏi bốn chữ “sinh, lão, bệnh,
tử”. Ít nhất một lần trong đời, bất kì ai cũng phải đến “thăm viếng” bác sĩ, để khám bệnh,
để chữa bệnh, mục đích là để khỏi phải gặp chữ “tử” sớm. Việc “giao phó” sức khỏe, tính
mạng của mình vào tay ai đó là việc không thể xem nhẹ, cần phải có sự cân nhắc kĩ càng
và thận trọng trong việc quyết định nơi để “chọn mặt gửi vàng”. Nơi nào vừa có thể tin
tưởng được, lại vừa có giá cả phù hợp với mình khi mà có quá nhiều những phản ánh
không tốt về các cơ sở y tế công, còn các cơ sở y tế tư nhân thì giá cả lại hơi “quá đáng”
một chút. Nhắc đến các cơ sở y tế công, nhiều người nghĩ ngay đến cảnh xếp hàng ngồi
đợi dằng dặc cả buổi trời, cảnh gặp phải khuôn mặt “khó ưa” của nhân viên thu lệ phí, và
còn nhiều cảnh không mấy thoải mái khi được “phục vụ” ở nơi đây. Còn đối với cơ sở y
tế tư nhân, tình hình có khả quan hơn, tuy nhiên, có nhiều lí do mà không phải ai cũng có
thể đến khám bệnh tại cơ sở y tế tư nhân được, do đó các cơ sở y tế công vẫn chiếm vai
trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Do đó, thiết
nghĩ cần phải thay đổi tình trạng của các cơ sở y tế công theo hướng tích cực hơn. Để làm
được điều này, câu hỏi đặt ra là, điều gì quyết định lòng trung thành của một khách hàng
đối với cơ sở y tế công, hay là liệu người ta có quay trở lại khám bệnh ở một cơ sở y tế
công khi đã có kinh nghiệm từng trải việc này? Từ việc xác định các yếu tố đó, có thể
đưa ra các chính sách khuyến khích đối với những yếu tố có tác động tích cực cũng như
cải thiện các yếu tố có tác động tiêu cực.
Vậy làm thế nào để xác định các yếu tố đó và xác định mức ảnh hưởng của nó?
Nên có những chính sách gì để cải thiện tình trạng các cơ sở y tế công? Đề tài “nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định quay trở lại khám bệnh ở cơ sở y tế công khi đã
từng khám bệnh ở đó” mong muốn làm rõ câu hỏi này
Phần 2: Cơ sở lý luận
Lý thuyết cho chúng ta có được một cái nhìn tổng quan về các hiện tượng các quy luật
trong cuộc sống. Vì vậy cơ sở lí luận của một vấn đề nào đó là một phần rất quan trọng
trong quá trình đào sâu tìm hiểu và phân tích nó. Đề tài của chúng tôi cũng không phải là
ngoại lệ và sau đây chúng tôi sẽ đưa ra một số lí thuyết sử dụng khi nghiên cứu việcsử
dụng bảo hiểm y tế đến mong muốn quay lại sử dụng cơ sở y tế công khi họ đã sử dụng ít
nhất trước đó. Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy việc quyết định có đi khám nữa không

lệch rất lớn giữa phí khám bệnh của người có sử dụng bảo hiểm y tế và người
không sử dụng bảo hiểm y tế. Thông thường, phí khám bệnh của người sử dụng
bảo hiểm ở các cơ sở y tế công sẽ thấp hơn so với người không sử dụng bảo hiểm.
 Thời gian chờ đợi để được khám: thời gian chờ đợi ở các cơ sở y tế
công cũng là một yếu tố tác động rõ rệt. Thời gian chờ đợi để khám bệnh này bao
gồm thời gian làm thủ tục giấy tờ để đăng kí khám, thời gian xếp hàng hay ngồi
chờ từ lúc “bóc số thứ tự” cho tới khi khám, thời gian chờ đợi càng dài càng làm
nản lòng người đến khám.
 Chất lượng các cơ sở y tế công: bao gồm chất lượng về cơ sở hạ
tầng, trang thiết bị, trình độ chuyên môn của nhân viên y tế… ở các cơ sở y tế
công. Chất lượng càng được đánh giá cao thì người bệnh càng muốn quay lại
khám lần sau.
 Thái độ của nhân viên phục vụ: bao gồm thái độ của nhân viên y tế,
nhân viên giải quyết thủ tục giấy tờ… Đây là một vấn đề thực tế ở các cơ sở y tế
công của Việt Nam. Thái độ phục vụ này càng được đánh giá cao, tức là khách
hàng càng được phục vụ như “thượng đế” thì người ta càng muốn quay lại khám
lần sau.
 Bảo hiểm y tế: việc sử dụng bảo hiểm y tế hay không có thể làm
thay đổi giá cả của việc khám bệnh.
Thật ra, còn nhiều yếu tố khác có thể tác động đến vấn đề khách hàng sẽ đi quay lại khám
ở các cơ sở y tế công, như là việc khuyến khích, ủng hộ của bạn bè người thân, khoảng
cách từ nhà đến cơ sở y tế đó, kết quả chữa trị,…. Trong giới hạn đề tài, nhóm chỉ muốn
nhấn mạnh đến những yếu tố quan trọng nhất và nổi trội, được quan tâm nhiều trong thực
tế đời sống hiện nay.
Mô hình là như sau :
Y= β
0
+ β
1
X

 β
1
mang dấu –
 β
2

mang dấu –
 β
3
mang dấu +
 β
4
mang dấu +
 β
5
mang dấu +
Phần 4: SỐ LIỆU
1. Phạm vi thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp được điều tra từ 59 người ở địa bàn khu vực Linh Trung, Thủ Đức và
thành phố Biên Hòa, tháng 5/2009.
Đây là những người đã từng đến các cơ sở y tế công để khám bệnh.
2. Kí hiệu sử dụng
 Y : opt (option)
 PRICE = X
1
: phí khám bệnh
 TIME=X
2
: thời gian chờ để khám
 QUALITY=X

21 1 40000 15 4 3 0
22 1 30000 60 4 2 1
23 0 60000 75 4 1 0
24 1 50000 45 3 2 0
25 0 25000 20 2 3 1
26 1 20000 30 4 2 0
27 0 50000 90 3 1 0
28 0 60000 30 2 3 0
29 0 30000 15 3 2 0
30 1 20000 30 3 2 1
31 0 50000 45 3 2 0
32 0 35000 180 3 1 0
33 1 40000 120 3 1 0
34 1 130000 480 3 1 0
35 0 25000 480 3 1 1
36 0 50000 75 3 1 0
37 0 20000 60 3 2 0
38 1 50000 30 3 1 0
39 0 20000 15 3 1 1
40 1 30000 60 3 2 1
41 0 40000 60 3 1 0
42 0 50000 60 3 1 0
43 1 35000 120 3 2 1
44 0 40000 180 3 2 0
45 0 30000 240 3 1 0
46 0 55000 180 3 2 0
47 0 45000 360 3 1 0
48 0 50000 240 3 1 0
49 0 45000 360 3 2 0
50 0 20000 300 3 1 1

Mean dependent var 0.372881 S.D. dependent var 0.487722
S.E. of regression 0.408743 Akaike info criterion 1.118414
Sum squared resid 8.854751 Schwarz criterion 1.329689
Log likelihood -26.99322 Hannan-Quinn criter. 1.200887
Restr. log likelihood -38.96781 Avg. log likelihood -0.457512
LR statistic (5 df) 23.94918 McFadden R-squared 0.307294
Probability(LR stat) 0.000222
Obs with Dep=0 37 Total obs 59
Obs with Dep=1 22
Phương trình hồi quy thu được như sau:
OPT = - 4.234360****+ 9.24E-06 PRICE - 0.002404 TIME +0.979564
(1.380661) (8.06E-06) (0.001629) (0.334706)
QUALITY****+0.115186 ATTITUDE + 1.368609 INSUR***
(0.326352) (0.503941)
( Với ****là ở mức ý nghĩa 0.005, *** là mức ý nghĩa 0.01, số trong ngoặc là standard
error).
Để kiểm tra lại, ta đi kiểm định tính có ý nghĩa ở mức 0.1 (hay 10%) của từng biến
sau: PRICE, ATTITUDE và TIME.
Ta có Z
0.05
=1.65.
• Kiểm định biến PRICE:
H
0
: =0 H
1
:
Dựa vào Eviews ta có giá trị kiểm định: Z
1
=

Như vậy, nhóm biến PRICE, TIME, ATTITUDE đều không có ý nghĩa và dấu đi
kèm với PRICE, ATTITUDE là không phù với kỳ vọng ban đầu của nhóm.
Mặc dù vậy, nhóm thấy hết sức không thuyết phục và khó chấp nhận trong việc
loại bỏ các biến quan trọng như giá cả, thái độ phục vụ của nhân viên y tế và thời gian
chờ đợi; Bởi vì rõ ràng trong thực tế, chúng sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn bệnh
viện của người dân. Bản thân một số thành viên trong nhóm vẫn thường hay phải ghé
thăm bệnh viện để kiểm tra sức khỏe nên rất có kinh nghiệm trong việc này. Quyết định
quay lại bệnh viện công để khám hay không không thể chỉ phụ thuộc vào chất lượng bệnh
viện đó và việc có bảo hiểm hay không của người dân được. Sau một thời gian cân nhắc
kỹ lưỡng lại tính logic của dạng hàm mới đưa ra này cùng với những đóng góp ý kiến của
tất cả các bạn, nhóm quyết định đi theo hướng suy nghĩ khác. Giá cả để khám ở bệnh
viện công phụ thuộc vào việc có sử dụng bảo hiểm hay không của người tới khám. Giá cả
khám trong bệnh viện công sẽ không đáng kể nếu người khám sử dụng bảo hiểm y tế,
thông thường họ chỉ tốn tiền mua sổ khám bệnh nghĩa là chỉ cỡ khoảng trên dưới 10 ngàn
đã được khám. Giá khám ở bệnh viện công chỉ đáng kể khi người tới khám không sử
dụng bảo hiểm y tế. Do vậy, nhóm quyết định đưa vào biến interaction: (1-
INSUR)*QUALITY.
Kết quả chạy mô hình lúc này như sau:
Dependent Variable: OPT
Method: ML - Binary Probit (Quadratic hill climbing)
Date: 05/29/09 Time: 07:21
Sample: 1 59
Included observations: 59
Convergence achieved after 7 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
C -3.307798 1.231183 -2.686683 0.0072
PRICE*(1-INSUR) -6.39E-06 5.81E-06 -1.099662 0.2715
QUALITY 0.957640 0.310831 3.080906 0.0021
TIME -0.001442 0.001494 -0.965003 0.3345

±0. Nhận thấy |z-stat| của TIME < 1,65 nên DNRH
0
nên β
1
không có y nghĩa. Tương tự, các β còn lại cũng không có ý nghĩa.
Như vậy, cả mô hình thứ hai này cũng chưa chính xác với mẫu dữ liệu. Nhìn vào
bảng kết suất trên ta thấy mặc dù các biến PRICE, ATTITUDE và TIME có các hệ số
đúng với kỳ vọng. Tuy nhiên, chúng lại không có ý nghĩa nổi trội bằng biến QUALITY,
do đó phải loại các biến kia ra. Nên lưu ý rằng 59 quan sát chỉ là một con số nhỏ bé,
không thể phản ánh hoàn toàn thực tế. Có nghĩa rằng, những biến còn lại cũng có tác
động nhưng chưa đủ mạnh để đưa vào mô hình. Có thể lý giải như sau:
Trước hết, chúng ta đã có nhận định đúng đắn về việc đưa biến QUALITY vào mô
hình. Cho dù khách hàng có đi đến đâu để khám bệnh thì điều mà người ta mong mỏi
nhất vẫn là phát hiện ra bệnh và hiệu quả chữa trị với những trang thiết bị hiện đại nhất,
mà điều đó lại bắt nguồn từ chất lượng của cơ sở khám chữa bệnh đó. Do đó, yếu tố chất
lượng sẽ là yếu tố đầu tiên dẫn đến quyết định có quay lại khám ở cơ sở chữa bệnh đó
nữa hay không.
Mặt khác, thời gian chờ đợi (TIME) có thể làm nản lòng người đến khám, tuy
nhiên, nếu như người ta đã biết được cơ sở y tế đó khám tốt và nhanh lành bệnh thì thời
gian cũng không làm giảm lượng khách hàng đến với cơ sở đó, còn hơn là người bệnh
đến với một cơ sở y tế khám chữa qua loa cho xong việc. Đôi khi, việc chờ quá lâu ở
một cơ sở y tế cũng có thể vì cơ sở y tế đó có hiệu quả làm việc tốt nên có nhiều người
đến đó khám.
Tương tự như vậy, thái độ phục vụ của nhân viên y tế (ATTITUDE) có thể ảnh
hưởng đến tâm lý của người khám bệnh. Thái độ nhiệt tình của bác sĩ có thể làm cho
người khám bệnh thích quay lại bệnh viện đó hơn. Tuy nhiên, nếu chất lượng bệnh viện
đó không tốt thì thái độ nhiệt tình, đúng mực của nhân viên y tế cũng khó có thể đủ
thuyết phục để người khám quay lại bệnh viện công. Người ta đến bệnh viện mục đích
đầu tiên là để khám bệnh, chất lượng bệnh viện tốt thì dù thái độ phục vụ có tệ thì người
bệnh vẫn sẳn sàng quay lại khám.

5 0 0.058065
6 0 0.657711
7 0 0.280115
8 1 0.657711
9 0 0.280115
10 0 0.058065
11 0 0.058065
12 0 0.058065
13 1 0.657711
14 1 0.280115
15 1 0.657711
16 1 0.918485
17 0 0.280115
18 0 0.058065
19 0 0.280115
20 1 0.918485
21 1 0.657711
22 1 0.657711
23 0 0.657711
24 1 0.280115
25 0 0.058065
26 1 0.657711
27 0 0.280115
28 0 0.058065
29 0 0.280115
30 1 0.280115
31 0 0.280115
32 0 0.280115
33 1 0.280115
34 1 0.280115

của một nguời, ta có thể đưa ra những biện pháp khuyến khích quyết định này hơn nữa
dành cho các cơ sở y tế công:
• QUALITY là yếu tố duy nhất và nổi trội nhất được đưa ra trong mô hình. Vì vậy,
các cơ sở y tế công nên quan tâm và tập trung đẩy mạnh yếu tố này trong quá trình
hoạt động của mình. Nâng cao rèn luyện, trau dồi trình độ chuyên môn của các
nhân viên y tế, thuê những bác sĩ, những nhân viên có trình độ chuyên cao và có y
đức; đổi mới, cập nhật các trang thiết bị tiên tiến đáp ứng nhu cầu đa dạng của
khách hàng; tu sửa, nâng cấp cơ sở vật chất tạo một môi truờng y tế phù hợp, đúng
chuẩn.
• Như đã trình bày trong quá trình đề xuất và phát triển các mô hình ước lượng thử
nghiệm việc các biến PRICE, TIME, ATTITUDE, INSURANCE bị loại ra không
có nghĩa là các yếu tố này không tác động đến quyết định của người bệnh quay lại
khám ở cơ sở y tế công mà thậm chí còn có những tác động đáng kể. Đây cũng là
vấn đề mà các cơ sở y tế công nên lưu ý. Để rút ngắn thời gian chờ đợi bệnh viên
có thể tiến hảnh sắp xép lịch khám 1 cách khoa học: Đăng kí khám bệnh qua điện
thoại qua mạng,… Để gây ấn tượng cho người khám về thái độ phục vụ của nhân
viên y tế, các nhân viên này cần đối xử công bằng với tất cả các bệnh nhân, với
những người có bảo hiểm và không có bảo hiểm. Về phần gía cả, phải phù hợp với
chất lượng chứ không có nghĩa là ohải giảm giá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status