BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ BAO BÌ THÂN THIỆN VỚI
MÔI TRƯỜNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
Ở VIỆT NAM
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9340101
TRẦN MINH THU
Hà Nội – 2020
Luận án được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngoại Thương, số 91
Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS. Phạm Thu Hương
Phản biện 1:................................................................................
..................................................................................
Phản biện 2:................................................................................
..................................................................................
Phản biện 3:................................................................................
..................................................................................
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng nhanh, lượng rác thải sau khi sử
dụng sản phẩm (SP) ngày càng nhiều và gây ô nhiễm môi trường (Sayed
Ahmed, 2018). Khi NTD (NTD) ý thức được các vấn đề ô nhiễm môi trường
là bởi những quyết định tiêu dùng của mình, họ sẽ thay đổi theo hướng quyết
định tiêu dùng thân thiện với môi trường (TTVMT). Số lượng người sẵn sàng
trả nhiều tiền hơn cho các SP sinh thái thân thiện gần đây cho thấy thị trường
của các SP thân thiện môi trường đang mở rộng (Laroche, 2001).
Tuy nhiên quá trình chuyển từ nhận thức về môi trường đến quyết định
mua các SP có bao bì TTVMT của NTD phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả khách
quan và chủ quan. Các nghiên cứu về tác động của tiêu dùng tới môi trường
được thực hiện tại nhiều quốc gia đang phát triển, tuy nhiên còn khá hạn chế ở
Việt Nam (VN). Môi trường sống đang bị ô nhiễm trầm trọng. Hơn nữa, đứng
dưới góc độ doanh nghiệp, việc thay đổi SP để hướng tới tiêu dùng thân thiện
môi trường là khá phức tạp nhưng việc thay đổi bao bì SP là một phương án dễ
dàng hơn để hướng tới tiêu dùng thân thiện môi trường và xúc tiến bán hàng.
Xuất phát từ sự cấp thiết của xu hướng tiêu dùng TTVMT, sự cần
thiết, khuyến khích phát triển các quyết định mua TTVMT của khách hàng
(KH) tại VN và khoảng trống lý thuyết về vấn đề này tại VN, tác giả đã thực
hiện đề tài nghiên cứu cho luận án “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới
quyết định mua sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường của khách hàng
cá nhân ở Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Có thể nói số lượng nghiên cứu đặc thù liên quan tới SP có bao bì
TTVMT tại Việt Nam là không nhiều. Các nghiên cứu chưa tập trung cụ thể về
SP có bao bì TTVMT. Một vài nghiên cứu có đề cập đến ý định tiêu dùng.
Nhìn chung, các nghiên cứu vẫn chưa chú trọng đến quá trình tiêu dùng thân
Về thời gian, dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để thực hiện luận án được thu thập
thông qua khảo sát KHCN trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm 2018 đến
năm 2019. Việc thu thập dữ liệu trên sẽ là điều kiện thuận lợi để đưa ra giải
pháp tốt nhất cho giai đoạn 2020 – 2025.
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu này khảo sát những yếu tố ảnh hưởng tới
quyết định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN, thông qua khảo sát
KHCN tại một số tỉnh/thành phố ngẫu nhiên ở VN v.. v.. đồng thời đưa ra bình
luận và kiến nghị giải pháp thúc đẩy mua SP có bao bì TTVMT của KHCN tại
VN.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện bằng nghiên cứu định tính và định lượng
sử dụng dữ liệu thứ cấp và nghiên cứu sơ cấp. Nghiên cứu thứ cấp định tính và
định lượng được thực hiện tại bàn và sử dụng phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp khung lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua TTVMT, hành
vi mua TTVMT và quyết định mua SP có bao bì TTVMT; cũng như nghiên
cứu đặc điểm KHCN ở VN và tình hình tiêu dùng TTVMT ở VN từ những
3
nghiên cứu đi trước. Sau đó tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ liệu
sơ cấp định tính và định lượng, dùng phần mềm SPSS 20 để xử lý dữ liệu và
đưa ra mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh.
6. Đóng góp của luận án
Về mặt học thuật: mô hình nghiên cứu được sử dụng trong luận án là sự tổng
hợp giữa lý thuyết phân rã hành vi DTPB và mô hình NTD quan tâm tới môi
trường của Rylander và Allen. Về mặt thực tiễn: Thứ nhất, luận án tập trung
duy nhất vào một khách thể nghiên cứu là khách hàng cá nhân (KHCN) ở VN
có nhu cầu mua SP có bao bì TTVMT. Thứ hai, luận án nghiên cứu độc lập các
nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN
đồng thời nghiên cứu các nhân tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và quyết
hành vi mua SP xanh của NTD. Nhìn chung, nghiên cứu này đã xác định rõ
ràng mối quan hệ dương giữa các biến số và hành vi tiêu dùng SP xanh.
Nghiên cứu của Sung Ho Choi (2015) được thực hiện nhằm khám phá những
nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng sinh thái của người dân Hàn Quốc.
“Nghiên cứu những nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi
tiêu dùng xanh của NTD VN” của Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) cho thấy NTD
VN khá quan tâm tới các vấn đề về môi trường. Trong đó SP nghiên cứu hành
vi mua SP xanh là (1) thực phẩm, (2) SP tiết kiệm điện (tủ lạnh/điều hòa/bóng
đèn), SP nghiên cứu hành vi sử dụng xanh là (3) túi nilon. Tác giả đã chỉ ra các
nhân tố có thể thúc đẩy hoặc cản trở mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu
dùng xanh của NTD VN. Kết quả cho thấy nhận thức về tính hiệu quả của SP
có một tác động đến mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh.
Nghiên cứu của G.Madushanka và V.R.Ragel (2016) đi sâu vào thái độ của
NTD đối với việc sử dụng bao bì xanh tại quận Trincomalee tại Sri
LankaĐiểm sáng của mô hình chính là ở chỗ đã đưa được biến vai trò của
chính phủ trong việc thuyết phục người dân hướng tới việc sử dụng bao bì
xanh. Kết quả của nghiên cứu thực nghiệm về hành vi mua sắm SP sử dụng
bao bì xanh tại Phần Lan của Nguyen Thi Hoai Anh (2017) cho thấy tại Phần
Lan, NTD phản ứng tích cực đối với những chức năng của bao bì xanh. Bài
nghiên cứu “Hành vi mua hàng và chấp nhận các SP xanh tại các siêu thị lớn ở
Nairobi, thành phố Kenya” của Olinjo Samuel Imbambi (2017) hướng tới phân
tích hành vi mua sắm và sự chấp nhận sử dụng các SP xanh của NTD, và mối
quan hệ giữa chúng.
Có thể nói số lượng nghiên cứu đặc thù liên quan tới SP có bao bì
TTVMT tại VN là không nhiều.
1.2.
Tổng quan lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua
sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường
1.2.1. Lý thuyết về quyết định mua
Theo Philip Kotler, quá trình đưa ra quyết định mua hàng của NTD trải qua 5
Tiêu dùng TTVMT hay cũng còn được biết tới với tên gọi là tiêu dùng xanh
lần đầu tiên được nhắc tới vào những năm 1970 (Peattie,1992) Trong nghiên
cứu về chủ nghĩa tiêu dùng TTVMT năm 2011, Mansvelt và Robbins đưa ra
định nghĩa khá đầy đủ về thái độ mua TTVMT là việc ưu tiên các hành vi mua
chế phẩm sinh học, tái chế và tái sử dụng SP, hạn chế dùng thừa và sử dụng
các phương tiện giao thông TTVMT.
1.2.2.1.
Thái độ thân thiện với môi trường
Harrison Newhol & Shaw trong nghiên cứu của mình năm 2005 thì cho rằng
thái độ mua TTVMT không những là việc ưu tiên tiêu dùng ít đi mà còn là tiêu
dùng hiệu quả hơn, thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường thông
6
qua việc lựa chọn các SP thân thiện môi trường, có cách tiêu dùng và xử lý rác
thải hợp lý.
1.2.2.2.
Sản phẩm thân thiện với môi trường
Shamdasani & cộng sự (1993) định nghĩa sản phẩm TTVMT là SP không gây
ô nhiễm cho trái đất hoặc tổn hại tài nguyên thiên nhiên và có thể tái chế, bảo
tồn.
1.2.2.3.
Bao bì thân thiện với môi trường
Liên minh bao bì bền vững trong Forest Stewardship Council - Hội đồng Quản
lý Rừng (FSC) năm 2011 đã đưa ra định nghĩa cụ thể cho bao bì TTVMT là
một thiết kế vật lý tối ưu hóa năng lượng và vật liệu, làm từ vật liệu an toàn
trong suốt vòng đời và được phục hồi và sử dụng hiệu quả trong công nghiệp
và chu trình khép kín sinh học. Bao bì TTVMT là bao bì được làm hoàn toàn
từ nguyên liệu tự nhiên, có thể tái sử dụng nhiều lần và dễ dàng phân hủy mà
không làm hại đến môi trường sinh thái, có thể tái chế hoặc phân hủy mà
Ý định tiêu dùng TTVMT, được tham khảo và mở rộng từ Ajzen (1991), tác
giả đưa ra định nghĩa: ý định mua TTVMT là thể hiện sự mong muốn và nỗ
lực của KH để mua các SP xanh, thân thiện và bảo vệ môi trường.
1.2.3.2. Hành vi mua sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường
Nghiên cứu định nghĩa hành vi tiêu dùng TTVMT là một chuỗi các hành vi,
bao gồm: mua SP TTVMT, sử dụng hiệu quả (chẳng hạn như tiết kiệm, tái sử
dụng, tái chế, sử dụng bao bì TTVMT và xử lý rác thải).
1.2.3.3.
Quyết định mua sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường
Luận án đưa ra quá trình hình thành quyết định mua TTVMT và các nhân tố
ảnh hưởng tới quyết định mua TTVMT.
1.3. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua sản phẩm có bao bì
thân thiện với môi trường
1.3.1. Một số mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới ý định mua sản phẩm có
bao bì thân thiện với môi trường
Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA): TRA là
một trong những lý thuyết cơ sở quan trọng trong phân tích hành vi của NTD,
là một bước trung gian hình thành và điều khiển hành vi từ các yếu tố ảnh
hưởng bao gồm thái độ và chuẩn mực chủ quan.
Lý thuyết hành vi dự tính (Theory of Planned Behaviour – TPB): Việc mô
hình TPB sử dụng thêm nhân tố mới kiểm soát hành vi nhận thức bên cạnh hai
nhân tố cũ trong mô hình TRA là thái độ và chuẩn mực chủ quan đã đem lại
những hiệu quả trong các nghiên cứu về tâm lý liên quan đến hành vi tiêu dùng
(Ajzen, 1991; Robert,1996).
Lý thuyết phân rã hành vi có hoạch định (DTPB): DTPB được Taylor và
Todd (1995) phát triển dựa trên TPB của Ajzen (1985) bằng cách phân tách ba
nhân tố: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi trong
TPB thành các biến số cụ thể hơn.
Mô hình RACE: Mô hình gần đây được sử dụng để nghiên cứu quy trình mua
hàng của KH là mô hình RACE (Reach – Act – Convert – Engage). Mô hình
9
Nguồn: Tác giả tự đề xuất
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Quy trình nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thông qua 3 bước sau:
Bước 1: Tổng hợp lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất, bước 2:
Nghiên cứu sơ bộ và bước 3: Nghiên cứu định lượng chính thức. Đầu tiên, tác
giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thứ cấp tại bàn. Sau đó, tác giả sử dụng
phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) để so sánh các doanh nghiệp
có SP sử dụng bao bì TTVMT và doanh nghiệp trong cùng một ngành có SP sử
dụng bao bì thường. Tiếp theo, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu sơ
cấp bao gồm phương pháp định tính và định lượng thông qua thu thập dữ liệu
và phân tích dữ liệu sơ cấp bằng việc điều tra khảo sát các KHCN ở VN, sau
đó tổng hợp phân tích dữ liệu ước lượng mô hình nghiên cứu bằng các phần
mềm thống kê SPSS 20 nhằm đưa ra khuyến nghị, giải pháp giúp cải thiện
quyết định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN dựa trên những kết
quả phân tích trước đó.
10
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu
2.2. Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu sơ bộ
Sau khi tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thứ cấp tại bàn, tác
giả đã tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua SP có bao bì
TTVMT của KHCN ở VN. Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn
yếu là dạng câu hỏi lựa chọn mức độ theo thang Linkert với 5 mức độ từ
không đồng ý (1) tới rất đồng ý (5) (Wuensch, 2005).
Tác giả tiến hành thảo luận theo nhóm, gồm 16 KHCN. Sau đó, tác giả
tiến hành nghiên cứu định lượng chính thức. Luận án sử dụng 2 nguồn dữ liệu:
nguồn dữ liệu thứ cấp (dữ liệu đã được thu thập trước đó và đã được xuất bản)
và nguồn dữ liệu sơ cấp (dữ liệu do chính tác giả thu thập được) (Mẫu phiếu
điều tra được trình bày ở Phụ lục 3). Dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu ở
các nguồn sau: Google scholar, Báo cáo kết quả nghiên cứu. Các phiếu điều tra
trực tiếp thu thập được ở một số siêu thị, cửa hàng bán lẻ và chợ dân sinh tại
VN. Các phiếu điều tra trực tuyến được tác giả gửi tới KHCN ở VN thông qua
email, các mạng xã hội.
Kích thước mẫu: Với N = 97.860.000, e = 5% thì kích thước mẫu từ
400 KH trở lên. Số phiếu phát là 700 phiếu, sau khi thu hồi, tác giả thu về được 623
phiếu đạt yêu cầu.
Cách chọn mẫu điều tra: Nghiên cứu này tập trung tìm kiếm các nhân
tố ảnh hưởng tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT ở VN, các phỏng vấn
viên của luận án sẽ thực hiện lựa chọn ngẫu nhiên một số siêu thị.
Phương pháp phân tích dữ liệu : Tất cả dữ liệu thu thập sẽ được làm
sạch và bắt đầu xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20. Nghiên
cứu tập trung vào khảo sát các yếu tố tác động tới quyết định mua SP
có bao bì TTVMT của KHCN ở VN. Trong đó:
• Biến phụ thuộc: Ý định mua SP có bao bì TTVMT
• Biến độc lập: Thái độ với môi trường, thái độ với SP có bao bì
TTVMT, chuẩn mực chủ quan về SP có bao bì TTVMT, nhận thức về
môi trường, chất lượng của bao bì TTVMT, độ nhạy cảm về giá, chính
sách khuyến khích tiêu dùng SP có bao bì TTVMT của chính phủ.
• Số liệu thu thập được từ điều tra sẽ được phân tích và xử lý theo trình
tự sau: Nhập liệu, làm sạch số liệu, thống kê mô tả và kiểm định độ tin
cậy của thang đo:
Hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để kiểm định thống kê mức độ
Biến độc lập
Biến độc lập
Biến độc lập
Biến độc lập
Biến độc lập
Trong xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính cho nhóm 2, tác giả
sẽ sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính cho biến điều tiết (Reuben M.
Baron và David A. Kenny,1987). Khung lý thuyết về biến điều tiết được diễn
tả như sau. Theo Hayes, 2013 X: là biến độc lập; Y: là biến phụ thuộc; M: là
biến điều tiết. Khi đó biến điều tiết (M) sẽ tác động đến mối quan hệ giữa biến
độc lập (X) và biến phụ thuộc (Y). Phương trình hồi quy với biến điều tiết
được viết như sau:
Y = β0 + β1X + β2M + β3X*M + u
Nhóm 2:
Bảng 2.2: Thông tin các biến nhóm 2
Tên biến
Quyết định mua sản phẩm có bao bì TTVMT
Ý định mua sản phẩm có bao bì TTVMT
Chính sách khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ
Độ nhạy cảm về giá
Ký hiệu
Y
Giải thích biến
Biến phụ thuộc
Biến độc lập
Biến độc lập
Biến độc lập
còn có thể hiểu là ảnh hưởng từ xã hội, thể hiện áp lực mà cá nhân nhận thấy
từ những đánh giá của người khác về một hành vi là nên thực hiện hay không
nên thực hiện, chuẩn mực chủ quan được cho rằng có ảnh hưởng đến ý định
tiêu dùng (Rajiv N. Rimal và Kevin Real, 2003).
Giả thuyết H3: Yếu tố chuẩn mực chủ quan ảnh hưởng thuận chiều đến ý định
mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN
2.3.1.4. Nhận thức về môi trường
Nhận thức của cá nhân là yếu tố được đưa vào trong mô hình TPB để khắc
phục nhược điểm của mô hình TRA. Mức độ nhận thức này gắn liền với niềm
tin về sự tồn tại các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở thực hiện hành vi (Ajzen,
1991). Nhận thức sẽ thúc đẩy hành vi khi cá nhân nhận thấy mình có nhiều
nguồn lực và sự tự tin (Ajzen, 1985; Hartwick, 1994; Lee, 2005)
15
Giả thuyết H4: Yếu tố nhận thức về môi trường ảnh hưởng thuận chiều
lên đến ý định mua SP có bao bì TTVMT.
2.3.1.5. Chất lượng bao bì TTVMT
Bao bì TTVMT là loại bao bì được thiết kế tối ưu hóa năng lượng và
vật liệu sản xuất, được làm từ những vật liệu TTVMT, không gây hại tới sinh
vật trong suốt thời gian tồn tại và có thể tái sử dụng Nếu bao bì TTVMT có
khả năng thực hiện đầy đủ các chức năng của bao bì thông thường thì tác động
không nhỏ tới ý định của KH khi mua SP có bao bì.
Giả thuyết H5: Yếu tố chất lượng của bao bì TTVMT ảnh hưởng thuận
chiều tới ý định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN.
2.3.2. Nhóm yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và quyết định mua SP
có bao bì TTVMT
Nhóm nhân tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và quyết định mua SP có bao
bì TTVMT bao gồm 3 nhân tố sau:
1. Ý định mua SP có bao bì TTVMT (YĐ)
Giả thuyết H8: Ý định mua SP có bao bì thân thiện ảnh hưởng thuận
chiều tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT của khách hàng.
2.3.3. Các biến quan sát thành phần
5 biến quan sát (BQS) thái độ với môi trường (TĐMT), 5 BQS thái độ với SP
có bao bì TTVMT (TĐSP), 5 BQS chuẩn mực chủ quan về SP có bao bì
TTVMT (CMCQ), 5 BQS nhận thức về môi trường (NTMT), 5 BQS chất
lượng của bao bì TTVMT (CLBB), 5 BQS ý định mua SP có bao bì TTVMT
(YĐ), 5 BQS độ nhạy cảm về giá của KHCN (NCVG), 5 BQS chính sách
khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ (CSCP), 5 BQS quyết định
mua SP có bao bì TTVMT(QĐ).
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả nghiên cứu thống kê mô tả
Về giới tính: Kết quả khảo sát cho thấy có 415 nữ và 208 nam tham gia trả lời
phòng vấn. Số lượng nam ít hơn (nam chiếm 33.4% và nữ chiếm 66.6%)
Về độ tuổi: Nghiên cứu tập trung khảo sát đối tượng trong độ tuổi có tỉ lệ chi
tiêu mua sắm nhiều nhất từ 18 đến 30 tuổi, chiếm 53.3%.
Về trình độ học vấn: Đối tượng tham gia phỏng vấn đa số có trình độ cao
đẳng, đại học (49.8% trình độ đại học và 30.3% trình độcao đẳng, 10% sau đại
học và 9.9% trung cấp).
Về nghề nghiệp: nghiên cứu được thực hiện với các đối tượng có ngành nghề
đa dạng. Do đó, kết quả về ngành nghề thu được phân bổ khá đều.
Về thu nhập: Nhóm có thu nhập 5 - 9 triệu/ tháng chiếm 49.8%. Hai nhóm 15
– 25 triệu/tháng và trên 25 triệu/tháng chỉ chiếm 16.6%.
Về nơi ở: do dân cư tập trung đông ở các thành phố lớn nên nghiên cứu chủ
yêú các KHCN trong thành phố, chiếm 60.2% lượng KH tham gia khảo sát.
17
3.2. Kết quả phân tích tác động của nhóm nhân tố tới ý định mua SP có
bao bì TTVMT
EFA đã gộp 5 nhân tố thành 4 nhân tố có ý nghĩa hơn, đơn giản hóa mô hình.
Quá trình phân tích EFA đã gộp hai nhân tố về thái độ với môi trường và thái
độ về SP của SP có bao bì TTVMT thành một nhân tố là thái độ. Các nhân tố
18
mới ảnh hưởng tới ý định mua SP có bao bì TTVMT được đặt tên và ý hiệu
như sau: Nhân tố thái độ tiêu dùng TTVMT (TĐTD), nhân tố chuẩn mực chủ
quan về SP có bao bì TTVMT (CMCQ), nhận thức của NTD về môi trường
(NTMT), chất lượng của bao bì TTVMT (CLBB).
3.2.3. Kiểm tra tương quan Pearson giữa các nhân tố tác động tới ý định
mua SP có bao bì TTVMT
Cả 4 biến độc lập đều có mối quan hệ với biến phụ thuộc ý định mua SP có
bao bì TTVMT ở mức 1%(p-value
tiết độc lập tác động trực tiếp hành vi mua SP bao bì TTVMT là ý định mua SP
TTVMT*Độ nhạy cảm về giá(YĐ_mc*NCVG_mc) và ý định mua SP
TTVMT*Chính sách khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ
(YĐ_mc*CSCP_mc). Các biến độc lập và điều tiết độc lập đều được tính toán
20
bằng kỹ thuật Mean Centering để tránh hiện tượng đa cộng tuyến trong mô
hình (Cohen và cộng sự 2003).
3.3.4. Ước lượng mô hình hồi quy cho quyết định mua SP có bao bì TTVMT
Giả thuyết H5: Sự nhạy cảm đối với giá của NTD tác động tích cực đến mối
quan hệ giữa ý định và Quyết định mua SP có bao bì TTVMT.
Giả thuyết H6: Chính sách khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ tác
động tích cực đối với mối quan hệ ý định và quyết định. Khi có chính sách
khuyến khích của chính phủ, mối quan hệ giữa ý định và quyết định càng
mạnh hơn.
Giả thuyết H7: Ý định mua SP có bao bì thân thiện có tác động tích cực đến
Quyết định mua SP có bao bì TTVMT của khách hàng. Ý định càng lớn thì
khả năng đưa ra quyết định càng cao.
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định mua sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường
Sau khi xử lý dữ liệu, tác giả rút ra được mô hình hồi quy như sau:
3.3.5. Kiểm định mô hình sự khác biệt về quyết định mua SP có bao bì
TTVMT theo từng đặc điểm của KHCNở Việt Nam
Không có sự khác biệt giữa các nhóm KHCN có đặc điểm khác nhau về giới
tính, độ tuổi, trình độ học vấn, mức thu nhập hàng tháng, nghề nghiệp, nơi ở.
3.4. Bình luận
3.4.1. Kết luận khảo sát với nhóm các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua SP
4.2. Tình hình sản xuất SP có bao bì TTVMT của các doanh nghiệp ở Việt
Nam
So sánh nước uống đóng chai La Vie có dòng sản phẩm chai thủy tinh và
Aquafina sử dụng chai nhựa bình thường. Rau quả trong siêu thị BigC dùng lá
chuối để gói, còn ở các chợ dân sinh vẫn dùng túi nilong. Trà xanh của Vinatea
dùng bao bì giấy còn trà xanh Tân Cương xanh dùng bao bì nilong hút chân
không. Ngoài ra, tác giả so sánh 1 số sản phẩm nước ngoài như hóa mỹ phẩm
của Lush- Anh và Pantene của Mỹ, bánh kẹo Kitkat của Nhật và Jack’nJill
Thái Lan
22
4.3. Giải pháp đề xuất cho doanh nghiệp ở Việt Nam dựa trên cơ sở các
yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT của KHCNở
Việt Nam
4.3.1. Giải pháp thúc đẩy ý định mua SP có bao bì TTVMT của KHCNở Việt
Nam
4.3.1.1. Giải pháp nâng cao thái độ với môi trường và SP có bao bì TTVMT
Những thông điệp của doanh nghiệp cần hướng đến việc nhấn mạnh tính hiệu
quả của quyết định mua SP có bao bì TTVMT của KHCNở VN. Ngoài thông
tin cơ bản của SP được in trên bao bì, doanh nghiệp cần đưa những điểm ưu
việt, TTVMT của SP vào các phương tiện tuyên truyền của mình vào video
quảng cáo,…
4.3.1.2. Giải pháp nâng cao nhận thức về môi trường
Các nhà quản lý doanh nghiệp nên có những hành động tuyên truyền tích cực,
về tác hại cũng như ảnh hưởng của việc sử dụng SP có bao bì nilong, kém chất
lượng,… Tại các siêu thị, doanh nghiệp nên đưa ra các chương trình khuyến
khích KH trở thành những KHCN thông minh, mua các SP có bao bì TTVMT
thông qua các hình thức giảm giá, tặng kèm đồ vật,… Đối với một số doanh
nghiệp khởi nghiệp về các SP TTVMT, họ có thể tiếp cận và nâng cao nhận