Sử dụng bài tập hình thành kiến thức mới trong dạy học chương các định luật bảo toàn vật lí 10 THPT - Pdf 52

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thế Khôi người đã
tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Trường Đại học Sư
phạm, đặc biệt các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí đã
giúp em hoàn thành khóa học.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Vật lí trường
THPT Bến Tre, THPT Xuân Hòa, THPT Phúc Yên thuộc Thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành thực nghiệm đề tài.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ để tôi hoàn
thành khóa học này!
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hương


Danh môc c¸c ký hiÖu, C¸c ch÷ viÕt t¾t

STT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt


6

Câu hỏi đặt ra cho học sinh

O

7

Hoạt động của giáo viên



8

Hoạt động của học sinh



9

Thực nghiệm

TN

10

Đối chứng

ĐC



Danh môc c¸c b¶ng
S B
T ả
1 1S

2 2S


3 2 ồS
. ơ
4 đ
. ồ
1 ti
4 2 S
. ơ
4 đ
5 .2 ồS
. ơ

6 23 ồS
. ơ
4 đ
7 .2 ồS
. ơ
4 đ
8 . 3ồK
. ết
9 3T

.ồ
1
2th



T
ra
M1

C
h 6
ư
1. 6
1.
1.
2.
1.
3.
1.
4.
1

7
1
3
1
6

. 1



2.
4.
Ti 4
ế 1
2
.

4
42. 1
5
4. 1
2. 5
4. 5
2. 6
4. 1
2. 6
4. 6
K 7
ết 2
C 7
h 3
3. 7
1. 3
3. 7
2. 3
3. 7
3. 4
3. 8

Hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nuớc, mở cửa và hội nhập quốc tế và đang ở trong cơ chế thị trường
cạnh tranh quyết liệt. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, người lao
động trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ trong qua trình tổ
chức quản lý sản xuất và trong quá trình phân phối sản phẩm. Con người với
tất cả các phẩm chất tích cực (thể lực, trí lực, nhân cách) trở thành động lực
phát triển của toàn bộ xã hội nói chung và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nói riêng. Những yêu cầu thực tiễn đó đòi hỏi nhà trường phải góp
phần giáo dục và đào tạo những con người phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, có tư duy
sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ
chức kỷ luật và ý thức cộng đồng, có thái độ tích cực, có năng lực tự học để
nâng cao trình độ nhận thức đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Để thực hiện được điều đó, nhà trường phổ thông không chỉ phải trang bị kiến
thức mà còn phải bồi dưỡng năng lực, trong đó đặc biệt chú trọng đến năng
lực sáng tạo, năng lực thực hành cho học sinh. Chỉ có dạy học trong nhà
trường mới có khả năng tạo ra những hoạt động đa dạng cần thiết, tạo điều
kiện phát triển những năng lực khác nhau ở học sinh. Tuy nhiên thực trạng
dạy học ở nước ta cho thấy việc phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh còn
nhiều hạn chế. Để khắc phục những hạn chế đó, Nghị quyết Trung ương 2
khoá VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định: “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học...Từng bước áp
dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện dạy dạy học hiện đại
vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu


cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”[22, tr.34]. Khoản b điều 36, Luật
Giáo dục năm 2005 cũng ghi rõ “Phương pháp giáo dục phải coi trọng việc
bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát

thức mới trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10
THPT là rất cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập, hướng dẫn HS lớp 10 giải nó và soạn thảo tiến
trình dạy học hình thành KTM chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10
THPT nhằm giúp họ nắm vững kiến thức cơ bản và góp phần phát triển năng
lực giải quyết vấn đề.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học BTVL của GV, HS.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống bài tập hình thành KTM chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí
10 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn”, giáo viên xây dựng
được hệ thống BTVL theo yêu cầu của hệ thống BT với mục đích hình thành
KTM và đề ra cách hướng dẫn HS lớp 10 THPT giải nó thì sẽ giúp họ nắm
vững kiến thức cơ bản và góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lí luận về BTVL.
5.2. Điều tra thực trạng dạy học của GV và HS lớp 10 THPT ở các bài học
hình thành KTM chương “Các định luật bảo toàn” bằng giải BTVL.


5.3. Xác định mục tiêu dạy học một số bài học hình thành KTM chương “Các
định luật bảo toàn” - Vật lí 10 THPT cho HS.
5.4. Xây dựng hệ thống bài tập và đề ra tiến trình dạy học, cách hướng dẫn
HS giải hệ thống bài tập ấy nhằm hình thành một số KTM chương “Các định
luật bảo toàn” - Vât lí 10 THPT.
5.5. Thực nghiệm đánh giá tính khả thi, hiệu quả của hệ thống BTVL và tiến

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành kiến thức mới
bằng giải BTVL
Chương 2. Tổ chức dạy học hình thành một số kiến thức mới chương “Các
định luật bảo toàn” - Vật lí 10 THPT thông qua giải BTVL
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH
THÀNH KIẾN THỨC MỚI BẰNG GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ
1.1. Quan niệm về bài tập vật lí
Trong thực tiễn dạy học cũng như trong các tài liệu giảng dạy, các thuật
ngữ “ bài tập”, “ bài tập vật lí” được sử dụng cùng các thuật ngữ “ bài toán”,
“ bài toán vật lí”. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt [12, tr.42 - 43], “ bài tập” và
“bài toán” được giải nghĩa khác hẳn nhau: Bài tập là bài ra để luyện tập, vận
dụng kiến thức đã học; bài toán là vấn đề cần giải quyết, tìm ra lời giải bằng
các quy tắc, định lí. Cũng như vậy, một số ý kiến cho rằng cần phân biệt hai
thuật ngữ “ bài tập vật lí” và “ bài toán vật lí”. BTVL có ý nghĩa là bài tập vận
dụng đơn giản kiến thức lí thuyết đã học về vật lí vào những trường hợp cụ
thể. Còn bài toán vật lí được sử dụng để hình thành KTM trong khi giải quyết
một vấn đề được đặt ra chưa có câu trả lời, hoặc đề ra một cách giải quyết,
phương pháp hành động mới. Nhưng bên cạnh đó, trong một số tài liệu [11],
[16], [22], [29]…, các tác giả lại dùng hai thuật ngữ đó như một với cách hiểu
giải bài tập (bài toán) vật lí là vận dụng các khái niệm, quy tắc, định luật vật
lí,…đã được học vào giải quyết những vấn đề thực tế trong đời sống, lao
động.
Hiện nay, theo quan điểm hiện đại, việc nghiên cứu tài liệu mới cũng là
một bài tập đối với HS. Trong quá trình tìm kiếm KTM, HS không phải là thụ
động tiếp thu cách giải quyết vấn đề một cách máy móc mà chính họ cũng tập

Tùy theo mục đích mà BTVL có thể phát huy tác dụng khác nhau, nhưng nói
chung, BTVL có các tác dụng chủ yếu sau:
1.2.1. Hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực
tiễn


Kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là thước đo sự nhận thức, sự sâu
sắc, vững vàng của kiến thức. Tuy nhiên ngay cả trong trường hợp đã nắm tài
liệu giáo khoa một cách có ý thức chứ không hình thức, thì kỹ năng áp dụng
kiến thức vào thực tiễn cũng không tự nhiên mà có được, cần phải dạy một
cách đặc biệt kỹ năng đó. Việc giải BTVL chiếm một vị trí đáng kể trong việc
dạy cách áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Một trong các nguyên tắc giáo dục là phải gắn liền giáo dục với thực tiễn
cuộc sống và lao động sản xuất. Tức là, HS chỉ cần nắm được kiến thức trong
các giờ lên lớp là chưa đủ, mà ngoài các giờ luyện tập, ôn tập củng cố ra GV
phải yêu cầu HS giải những bài tập được đặt ra trong cuộc sống hàng ngày.
Khi đó, HS sẽ nắm vững hơn các kiến thức đã học, đồng thời tập cho họ làm
quen với việc liên hệ kiến thức lí thuyết với thực tiễn, vận dụng kiến thức đã
học vào giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ đó, việc giải
bài tập góp phần nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho HS. Có thể xây
dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu HS phải vận
dụng kiến thức lí thuyết để giải thích hoặc dự đoán các hiện tượng có thể xảy
ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước [22, tr.339].
1.2.2. Hình thành KTM
KTM về vật lí được hiểu là những kiến thức về một tính chất, một mối
quan hệ khách quan có tính quy luật của các sự vật hiện tượng mà trước đây
HS chưa biết và không thể chỉ đạt được bằng suy luận lôgic hay toán học. Nói
cách khác, KTM chỉ có thể tìm được trong thiên nhiên. Cũng có khi suy luận
lôgic hay biến đổi toán học dẫn tới việc phát hiện ra một tính chất hay một
mối quan hệ mới, song nó chỉ được coi là chân thực khi được thiên nhiên



Với các tiết học nhằm cung cấp KTM cho HS thì HS được làm quen với
bản chất của các hiện tượng vật lí bằng nhiều cách khác nhau (thí nghiệm biểu
diễn, kể chuyện, làm bài thực nghiệm,…). Tính tích cực của HS, chiều sâu và
mức độ nắm vững kiến thức sẽ tốt nhất khi các em được đặt vào “tình huống
có vấn đề”. Trong nhiều trường hợp, nhờ tình huống có vấn đề có thể xuất
hiện một kiểu bài tập mà việc giải bài tập đó sẽ giúp HS phát hiện lại quy luật
vật lí chứ không phải tiếp thu quy luật đó dưới hình thức có sẵn. Trong những
trường hợp này, BTVL xuất hiện như một phương tiện để nghiên cứu tài liệu
mới. Và với mục đích đó, ta có thể sử dụng bài tập định tính, định lượng, bài
tập thực nghiệm và các bài tập khác.
Trong quá trình giải bài tập, bằng cách dựa vào kiến thức đã có của HS có
thể cho họ phân tích các hiện tượng vật lí đang được nghiên cứu, hình thành
cho họ các khái niệm mới, các đại lượng vật lí. Thông qua giải bài tập thực
nghiệm, có thể truyền thụ cho HS một số khái niệm về thí nghiệm vật lí với
tính cách là một phương pháp nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên dựa trên
phép đo và khảo sát toán học sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng vật lí.
Về mặt này có thể hình thành cho HS một định luật vật lí. Ví dụ: Định luật
phản xạ và khúc xạ ánh sáng, định luật Húc, định luật Ôm,...
Cũng có khi việc hình thành cho HS một định luật vật lí chỉ cần ra bài tập
mà khi giải nó chỉ cần lập luận lôgic và biến đổi toán học cùng với việc sử
dụng các kiến thức đã có của HS. Ví dụ: Trong bài “Động lượng. Định luật
bảo toàn động lượng” [2, tr 122], HS có thể rút ra định luật từ các định luật
Niutơn. HS cũng có thể tìm lại định luật Ôm cho toàn mạch bằng cách rút ra
định luật này từ định luật Jun - Lenxơ, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng
lượng, kiến thức về năng lượng do nguồn điện cung cấp.
Như vậy, BTVL được xem là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi
trang bị KTM cho HS nhằm đảm bảo cho họ nắm được KTM một cách chăc


tổng hợp các kiến thức đã học, thậm chí trong cả chương, phần. Do đó, họ sẽ
hiểu rõ hơn, ghi nhớ vững chắc nội dụng kiến thức đã học. Trong các tiết học
này, hoạt động của GV sẽ như sau: Kiểm tra sự chuẩn bị về lí thuyết giải bài
tập và việc nắm phương pháp giải từng kiểu bài tập của HS. Sau đó, yêu cầu
HS phân tích cách giải các bài tập về nhà mà chủ yếu là bài tập phức hợp.
Cuối cùng, GV ra bài tập về nhà cho HS mà thông thường là bài tập phức hợp
có một vài yếu tố mới lạ. Khi cần, gợi ý giải quyết chỗ khó.
1.2.4. Phát triển tư duy vật lí cho HS
Giải BTVL là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc tưởng tượng,
tính độc lập trong việc phán đoán, tính kiên trì khắc phục khó khăn trong
những hình thức làm việc tự lực căn bản của HS. Trong khi giải bài tập, HS
phải phân tích các điều kiện của đề bài, tự xây dựng những lập luận, thực hiện
tính toán, khi cần thiết phải sử dụng đến thí nghiệm, thực hiện các phép đo,
xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luận của
mình. Khi đó, HS phải vận dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa,… để tự lực tìm hiểu vấn đề, tìm ra cái cơ bản, chìa
khóa để giải quyết vấn đề. Trong những điều kiện đó, tư duy phân tích - tổng
hợp, tư duy sáng tạo của HS được phát triển, năng lực làm việc độc lập của
HS được nâng cao. Bên cạnh đó, việc giải quyết các BTVL còn có tác dụng
bồi dưỡng cho HS phương pháp nghiên cứu khoa học.
1.2.5. BTVL là phương tiện có hiệu quả trong kiểm tra đánh giá kết quả học
tập về vật lí của HS. Đặc biệt là giúp phát triển trí tuệ, làm bộc lộ những khó
khăn chủ yếu và những sai lầm cơ bản của HS trong học tập. Đồng thời, góp
phần giúp HS vượt qua khó khăn và khắc phục những sai lầm ấy. BTVL còn
giúp cho GV phát hiện trình độ phát triển trí tuệ, kĩ năng vận dụng kiến thức
của HS cũng như những khó khăn và sai lầm phổ biến của họ trong học tập.


Từ đó, GV có thể đề ra cách giúp đỡ các em vượt qua khó khăn, khắc phục
những sai lầm đó.

g

Th
eo
đí
ch
d
ạy
họ
c

Th
eo
độ
kh
ó
dễ

Th
eo
đi


PP
N
C
vấ

T
h

ng
trì
nh

m



liệ
i
u
vậ


C
th


tr

ợn

K Lị
tổ
T sử
ch Đị
ng
nh
hợ
tín

hợp


L
uy
ện
tậ
p


ng
tạ
o

Ki

m
tra

Đị
nh
tín
h

Đị
nh

ợn
g


biệt là cách phân loại bài tập chỉ mang tính chất bề ngoài chưa đề cập gì đến


chủ thể giải BTVL là HS. Để khắc phục tình trạng trên, TS. Nguyễn Thế Khôi
[11] đã đưa ra cách phân loại bài tập dựa vào mức độ phức tạp của hoạt động
tư duy trong quá trình tìm kiếm lời giải
Loại BTVL mà để tìm được lời giải nó chỉ cần xác lập mối quan hệ trực
tiếp, tường minh giũa những cái đã cho và một cái phải tìm chỉ dựa vào một
kiến thức cơ bản mới học (vào một tính chất, một mối quan hệ , một phương
pháp hoạt động mới) mà HS chỉ tái hiện chứ không thể tự tạo ra được gọi là
bài tập cơ bản.
Kiến thức vật lí cơ bản mà HS mới học là kiến thức chứa đựng một mối
quan hệ về mặt định tính hay định lượng giữa các đại lượng vật lí, hoặc chứa
đựng một mối quan hệ mới giữa các đặc điểm định tính, định lượng của của
cùng một đại lượng vật lí, hoặc là một biện pháp, phương pháp giải quyết
mới. Chẳng hạn các công thức của chuyển động biến đổi đều có chứa tường
minh thời gian cho phép đủ giải các bài tập động học. Từ chúng, có thể rút ra
công thức liên hệ gia tốc, vận tốc và đường đi không chứa thời gian. Công
thức này chứa đựng một mối quan hệ mới giữa các đại lượng đã biết (gia tốc,
vận tốc, đường đi).
Còn các BTVL mà trong đó, việc tìm lời giải phải thực hiện một chuỗi lập
luận lôgic, biến đổi toán học qua nhiều mối quan hệ giữa những cái đã cho,
cái phải tìm và những cái trung gian không cho trong đầu bài gọi là bài tập
phức tạp. Việc xác lập mỗi một quan hệ trung gian đó là một bài tập cơ bản.
Và do đó, muốn giải được một bài tập phức hợp, buộc phải giải thành thạo
các bài tập cơ bản, ngoài ra còn phải biết cách phân tích bài tập phức hợp để
nó quy về các bài tập cơ bản đã biết.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status