BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN DÂN HÙNG
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ
NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG NĂNG,
TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Đà Nẵng - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan
NGUYỄN DÂN HÙNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
TẠI PGD NHCSXH HUYỆN KRÔNG NĂNG - ĐĂK LĂK....................42
2.1. KHÁI QUÁT VỀ PGD NHCSXH HUYỆN KRÔNG NĂNG - ĐĂK
LĂK.................................................................................................................42
2.1.1. Tổng quan về NHCSXH Việt Nam.................................................42
2.1.2. Tổng quan về PGD NHCSXH huyện Krông Năng - Đăk Lăk.......43
2.2. TÌNH HÌNH ĐÓI NGHÈO TẠI HUYỆN KRÔNG NĂNG....................47
2.2.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội huyện Krông Năng..........................47
2.2.2. Thực trạng đói nghèo tại huyện Krông Năng................................. 50
2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI PGD
NHCSXH HUYỆN KRÔNG NĂNG - ĐĂK LĂK.........................................52
2.3.1. Những vấn đề chính khi cho vay hộ nghèo tại NHCSXH..............52
2.3.2. Nguồn vốn cho vay hộ nghèo tại PGD NHCSXH huyện
KrôngNăng............................................................................................... 55
2.3.3. Công tác triển khai cho vay hộ nghèo tại PGD NHCSXH huyện
Krông Năng.............................................................................................. 63
2.3.4. Kết quả hoạt động cho vay hộ nghèo tại PGD NHCSXH huyện
Krông Năng.............................................................................................. 69
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI
PGD NHCSXH HUYỆN KRÔNG NĂNG - ĐĂK LĂK................................82
2.4.1. Những kết quả đạt được..................................................................82
2.4.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân...............................................84
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY
HỘ NGHÈO TẠI PGD NHCSXH HUYỆN KRÔNG NĂNG ĐĂK LĂK...................................................................................................... 88
3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP............................................................88
3.1.1. Mục tiêu chương trình xoá đói giảm nghèo tại huyện Krông Năng
giai đoạn 2015 - 2020............................................................................... 88
3.1.2. Phương hướng, mục tiêu hoạt động của PGD NHCSXH huyện
Krông Năng giai đoạn 2015 - 2020.......................................................... 90
ĐTN
Đoàn thanh niên
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HĐQT
Hội đồng quản trị
HĐND
Hội đồng nhân dân
HCCB
Hội cựu chiến binh
HND
Hội nông dân
HPN
Hội phụ nữ
LĐ - TB&XH
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TK&VV
Tiết kiệm và vay vốn
TW
Trung ương
UBND
Ủy ban nhân dân
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
WB
Ngân hàng thế giới
PGD
Phòng giao dịch
Cơ cấu nguồn vốn về các đối tượng qua các năm.
61
Bảng 2.5
Hoạt động cho vay hộ nghèo ở PGD NHCSXH
huyện Krông năng.
73
Bảng 2.6
Dư nợ cho vay hộ nghèo phân theo ngành nghề.
74
Bảng 2.7
Kết quả cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức
đoàn thể.
76
Bảng 2.8
Nợ quá hạn đối với cho vay hộ nghèo thông qua các
tổ chức đoàn thể.
77
Sơ đồ 2.2
Sơ đồ bộ máy tổ chức của PGD NHCSXH huyện
Krông năng
46
Sơ đồ 2.3
Sơ đồ quy trình thủ tục xét duyết cho vay
66
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi gia nhập vào các tổ chức thương mại trong khu vực và trên thế
giới, mỗi quốc gia đều muốn hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội
văn minh, hiện đại, đời sống nhân dân được cải thiện. Nhưng hội nhập cũng
mang lại những thách thức không nhỏ cho nền kinh tế, nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường luôn tồn tại hai thái cực: một bên là tích cực đã thúc
đẩy kinh tế xã hội phát triển, một bên là tiêu cực sẽ kìm hãm phát triển kinh tế
xã hội và phân hoá đời sống các tâng lớp dân cư. Để thúc đẩy mặt tích cực,
đồng thời hạn chế mặt tiêu cực thì đòi hỏi phải có vai trò điều tiết của Nhà
nước.
Nghèo đói là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần
đây, nhờ có chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh; đại bộ
phận đời sống nhân dân đã được tăng lên một cách rõ rệt. Song, một bộ phận
Đà Nẵng năm 2013.
Đề tài của tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về NHCSXH và hoạt
động cho vay của NHCSXH. Luận văn cũng đã nêu một số mô hình tổ chức
của hoạt động cho vay hộ nghèo trên thế giới. Đề tài đã khảo sát, đánh giá và
phân tích các hoạt động cho vay hộ nghèo theo từng chương trình tại chi
nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Nam. Trên cơ sở đó, đề tài đã nêu các giải pháp
nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tại Chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng
Nam. Nhiều nội dung lý luận đã được tác giả làm rõ các giải pháp có tính khả
thi cao.
- Luận văn thạc sỹ: “ Mở rộng hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Nam” của tác giả Lê Đỗ Tuấn
Khương, bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2013.
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo, tín dụng đối
với hộ nghèo, sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo, các chỉ tiêu tính toán hiệu
quả tín dụng và rút ra sự cần thiết khách quan phải nâng cao hiệu quả cho vay
5
đối với hộ nghèo. Và đã đi sâu phân tích thực trạng hạn chế cho vay hộ nghèo
của NHCSXH tỉnh Quảng Nam, qua đó tìm hiểu được những kết quả và hạn
chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế trong việc cho vay hộ nghèo tại
chi nhánh. Nghiên cứu các đối tượng hộ nghèo cụ thể tại địa phương, đồng
thời đề xuất những kiến nghị về mở rộng hoạt động cho vay hộ nghèo theo
nhiều phương thức trên địa bàn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn đó, luận văn
đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho vay hộ nghèo tại
NHCSXH tỉnh Quảng Nam.
- Luận văn thạc sỹ: “ Hoàn thiện hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân
hàng chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Đắk Nông ” của tác giả Trần Văn
Thường, bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2014.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO
TẠI NHCSXH
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ SỰ CẦN THIẾT VỀ CHO VAY
ĐỂ GIẢM NGHÈO
1.1.1. Khái niệm, chỉ tiêu đánh giá nghèo đói của thế giới
a. Khái niệm đói nghèo của thế giới
Thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ mà không dùng khái niệm
đói nghèo như ở Việt Nam và nhận định nghèo khổ theo 4 khía cạnh là thời
gian, không gian, giới và môi trường.
Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ có mức sống dưới mức
"chuẩn" trong một thời gian dài. Cũng có người nghèo khổ "tình thế" chẳng
hạn như những người thất nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh
tế hoặc do thiên tai, tệ nạn xã hội, rủi ro.
Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn nơi có 3/4 dân
số sinh sống. Tuy nhiên tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết là ở các
nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng.
Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới. Nhiều hộ gia đình
nghèo nhất do phụ nữ là chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ
thì phụ nữ khổ hơn nam giới.
Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói nghèo đều sống ở những
vùng sinh thái khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về
môi trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm. Đã có rất nhiều những định
nghĩa về đói nghèo được đưa ra. Tuy nhiên tùy theo từng vùng, từng quốc gia
mà quan niệm về nghèo đói có một vài sự khác biệt nhưng nhìn chung tiêu chí
hiện bằng chỉ tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP).
9
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, chỉ căn cứ và chỉ tiêu thu nhập thì
chưa đủ để đánh giá. Vì vậy bên cạnh chỉ tiêu này, tổ chức hội đồng phát triển
hải ngoại (ODC) đưa ra chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống (PQLI). Căn
cứ để đánh giá chỉ số PQLI bao gồm 3 chỉ tiêu cơ bản đó là: tuổi thọ, tỷ lệ tử
vong của trẻ sơ sinh, tỷ lệ xoá mù chữ.
Gần đây tổ chức UNDP đưa ra thêm chỉ số phát triển con người (HDI)
bao gồm 3 chỉ tiêu sau: Tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập.
Vào năm 2011 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 128
trên 187 nước, chỉ số phát triển giới (tiếng Anh: Gender Development IndexGDI) xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp (tiếng Anh: Human
Poverty Index-HPI) xếp hạng 41 trên 95 nước. Cũng theo số liệu của Chương
trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2009 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc
gia của Việt Nam là 11%, theo chuẩn thế giới là 14,5% và tỷ lệ nghèo lương
thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2008) là 6.87%. Như vậy chỉ tiêu đánh
giá nước giàu, nước nghèo của các quốc gia vẫn căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập
quốc dân bình quân đầu người là chính. Khi kết hợp với các chỉ số PQLI hay
HDI chỉ bổ sung cho việc nhìn nhận các nước giàu nghèo chính xác hơn,
khách quan hơn.
Về hộ nghèo: Giới hạn đói nghèo biểu hiện dưới hai dạng chỉ tiêu thu
nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo được coi
là hộ nghèo. Quy mô nghèo từng vùng của một quốc gia được xác định bằng tỷ
lệ số hộ nghèo đói trên tổng số hộ dân cư thuộc vùng hoặc quốc gia đó.
1.1.2. Khái niệm, chỉ tiêu đánh giá nghèo đói ở Việt Nam
a. Khái niệm đói nghèo của Việt Nam
Cũng dựa trên định nghĩa được đưa ra do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực
Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết
11
định số 143/2000/QĐ - BLĐTBXH ngày 1/11/2000 như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng, tương đương
960.000 đồng/năm.
+ Vùng nông thôn cho đồng bằng: 100.000 đồng/tháng hay 1.200.000
đồng/năm.
+ Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng hay 1.800.000 đồng/năm.
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định
trên được xác định là hộ nghèo.
* Giai đoạn 2006 - 2010
Giai đoạn này chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định
170/2005/QĐ - TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ như sau:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
* Giai đoạn từ năm 2011-2015: chuẩn nghèo được áp dụng theo quyết
định 09/2011/QĐ-TTg ngày 1/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức
thu nhập bình quân từ 401.000 đồng - 520.000 đồng/người/tháng là hộ cận
nghèo.
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức
thu nhập bình quân từ 501.000 đồng - 650.000 đồng/người/ tháng là hộ cận
nghèo.
-
Thiếu việc làm, không năng động tìm việc làm, lười biếng. Mặt khác
do hậu quả của chiến tranh dẫn đến nhiều người dân bị mất sức lao động,
nhiều phụ nữ bị góa phụ dẫn tới thiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khỏe
13
có khả năng đảm nhiệm những công việc nặng nhọc.
- Gặp những rủi ro trong cuộc sống, người nghèo thường sống ở những
nơi hẻo lánh, xa trung tâm, thời tiết khắc nghiệt, nơi mà thường xuyên xảy ra
hạn hán, lũ lụt dịch bệnh… cũng chính do thường sống ở những nơi hẻo lánh,
giao thông đi lại khó khăn mà hàng hóa của họ sản xuất thường bị bán với giá
rẻ (do chi phí giao thông) hoặc không bán được, chất lượng hàng hóa giảm sút
do lưu thông không kịp thời.
* Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông
nghiệp của các hộ gia đình nghèo. Ở những vùng khí hậu khắc nghiệt: Thiên
tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình
phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu hoặc không có là
những vùng có nhiều hộ nghèo đói nhất.
b. Đặc tính của người nghèo
Người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống khác hẳn
với những khách hàng khác thể hiện:
- Người nghèo thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp.
- Bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy, người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết
mở mang ngành nghề và chưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường. Do đó, sản
Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người
nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo. Tất nhiên Chính
phủ không phải tạo ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho hộ nghèo vươn lên
bằng những chính sách và giải pháp. Cụ thể là:
- Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính
sách đồng bộ: tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với
quy mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu
15
đãi, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thị trường
và hòa nhập với cộng đồng.
- Tiếp tục triển khai mở rộng Chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN
của Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm, Chính phủ dành ra một tỷ lệ trong tổng
chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay XĐGN.
- Kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN với các chương
trình kinh tế xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, chương trình phát
triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, chương trình phủ xanh đất trống đồi
núi trọc, chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình nước
sạch nông thôn, dân số kế hoạch hóa gia đình, xóa mù chữ
- Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như:
miễn giảm thuế, viện phí, học phí… đối với hộ nghèo không còn khả năng lao
động tạo ra nguồn thu nhập, Nhà nước trợ cấp hàng tháng và vận động các tổ
chức đoàn thể, quần chúng, các nhà hảo tâm giúp đỡ dưới nhiều hình thức
khác nhau.
- Mở rộng sự hợp tác quốc tế với các tổ chức Chính phủ, tổ chức phi
Chính phủ để giúp đỡ lẫn nhau về nguồn lực và trao đổi kinh nghiệm.
Thực tế cho thấy có rất nhiều hình thức hỗ trợ để thực hiện chương
trình XĐGN nhưng hình thức tín dụng có hoàn trả là có hiệu quả hơn cả.
và các chương trình cho vay trực tiếp của giai đoạn trước được quản lý bởi
các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà Nước và các tổ chức khác, trong
đó có ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây. Ngân hàng đã thiết lập 61
chi nhánh và 600 phòng giao dịch ở 64 tỉnh thành trong cả nước. Mục đích
chủ yếu của NHCSXH là cung cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo và những
đối tượng xã hội, chính sách theo quy định. Mức vay tối đa không cần tài sản
thế chấp đối với hộ nghèo là 7 triệu đồng, và 10 triệu đồng nếu có tài sản thế
chấp. Lãi suất 0,5%/tháng và ở những vùng khó khăn, vùng núi là
0,45%/tháng. Thời hạn dựa trên kế
17
hoạch đầu tư của người vay nhưng thông thường không quá 60 tháng. Việc
hoàn trả lãi theo tháng, quý tùy theo thỏa thuận giữa hai bên, với món vay
nhỏ, gốc trả một lần cuối kỳ. Tính đến hết năm 2014, tổng nguồn vốn
NHCSXH đạt 91.897 tỷ đồng. Trong đó, chủ yếu đang tập trung cho vay 6
chương trình lớn, trước hết là cho vay hộ nghèo chiếm tỷ trọng 40% tổng dư
nợ; tương tự, học sinh sinh viên 29%; hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng
khó khăn 12%; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 8%; giải quyết
việc làm 5%; hỗ trợ hộ nghèo làm nhà ở 2%; tổng nguồn vốn dành cho 6
chương trình tín dụng trên chiếm tới 96% tổng dư nợ, còn
12 chương trình tín dụng khác chỉ chiếm 4%. Về số tuyệt đối, tổng dư nợ
các chương trình tín dụng của toàn hệ thống đạt 89.461 tỷ đồng, tăng 16.785
tỷ đồng so với năm 2013, đạt 92% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Từ
khi thành lập đến nay, nguồn vốn tín dụng hỗ trợ lãi suất của NHCSXH đã
giúp gần 2 triệu hộ thoát nghèo, 2,1 triệu lao động có việc làm, gần 2 triệu
HSSV hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, xây dựng mới 2,3 triệu
công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, gần 200 nghìn ngôi
nhà cho các hộ nghèo, gia đình chính sách từ trước đến nay chưa có nhà ở, 74