Các yếu tố quyết định chất lượng hoạt động kiểm toán – theo nhận thức của kiểm toán viên - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ THANH XUÂN

CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN –
THEO NHẬN THỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG

i

DANH MỤC HÌNH

iii

DANH MỤC PHỤ LỤC

iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

v


Kết quả nghiên cứu

4

6.

Đóng góp mới của Luận án

7

7.

Cấu trúc của Luận án

8

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CLKT VÀ

10

XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

10

1.1.1



1.1.2.4 Theo các yếu tố cấu thành chất lượng tổng thể hoạt động

22

kiểm toán
1.2

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

28


1.2.1

Nghiên cứu về giải pháp nâng cao CLKT

28

1.2.2

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT

31

1.3

VẤN ĐỀ VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

32


39

2.1.2

Đặc điểm của kiểm toán

40

2.1.3

Tính hai mặt của CLKT

41

2.2

CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN

42

2.2.1

Định nghĩa kiểm toán và CLHĐKT

42

2.2.2

Sự hình thành và phát triển của khuôn khổ lý thuyết

Khuôn khổ CLDVKT của Duff (2004)

58

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

63

CHƯƠNG 3 – NHẬN THỨC CỦA KTV VỀ CLHĐKT

64

3.1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

64

3.1.1

Thiết kế nghiên cứu

64

3.1.2

Phát triển mô hình nghiên cứu

65



3.1.3.2 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

78

3.1.3.3 Phương pháp phân tích sự khác biệt về trung bình của hai

82

đám đông (T-test)
3.2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

84

3.2.1

Nhận thức của KTV về các yếu tố quyết định CLHĐKT

84

3.2.1.1 Mô tả mẫu khảo sát

84

3.2.1.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo

86


TÓM TẮT CHƯƠNG 3

120

CHƯƠNG 4 – SỰ KHÁC BIỆT VỀ NHẬN THỨC VỀ CLKT

121

GIỮA KTV VÀ CÁC BÊN LIÊN QUAN
4.1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

121

4.1.1

Thiết kế nghiên cứu

121

4.1.2

Phát triển thang đo

121

4.1.3

Thu thập và xử lý dữ liệu


137

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý ÁP DỤNG

138

5.1

ĐÁNH GIÁ CÁC PHÁT HIỆN QUAN TRỌNG

138

5.2

CÁC ĐÓNG GÓP VÀ HÀM Ý

141

5.3

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT

144

CHO NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1x


 

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1

- Các yếu tố quan trọng của CLKT

19

Bảng 1.2

- Khuôn mẫu CLKT của Francis (2011)

24

Bảng 2.1

- Năm khoảng cách – Nguyên nhân tiềm tàng của sự thiếu

54

hụt chất lượng dịch vụ
Bảng 2.2

- Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ vọng của khách hàng

55


Bảng 3.4

- Kết quả kiểm định độ tin cậy của 13 thang đo

86

Bảng 3.5

- Các biến bị loại sau mỗi bước xử lý EFA

88

Bảng 3.6

- Kết quả phân tích EFA

89

Bảng 3.7

- Thành phần các nhân tố sau khi xoay

90

Bảng 3.8

- Thành phần các biến của tám nhân tố

94


Bảng 3.14

- Thang đo mô hình CLHĐKT

108

Bảng 3.15a - Thống kê điểm trung bình đánh giá của Partner và Staff

114

Bảng 3.15b - Kết quả kiểm định sự khác biệt giữa Partner và Staff

114

(Independent Samples Test)
Bảng 3.16a

- Thống kê điểm trung bình đánh giá của Big4 và Non-Big4

116



 

ii
 

Bảng 3.16b - Kết quả kiểm định sự khác biệt giữa Big4 và Non-Big4



132

Bảng 4.6

- Kết quả kiểm định Kruskal – Wallis

133

Bảng 4.7

- Kết quả kiểm định hậu ANOVA - Post hoc test

134



 

iii
 

DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 0.1

- Khung CLHĐKT

5


Hình 2.2

- Sơ đồ minh hoạ khuôn mẫu CLKT của Francis (2011)

45

Hình 2.3

- Sơ đồ minh hoạ khuôn mẫu CLKT của Knechel et al.

46

(2012)
Hình 2.4

- Sơ đồ các mối tương tác – (Khuôn mẫu CLKT của

49

IAASB, 2014)
Hình 2.5

- Sơ đồ các yếu tố thuộc bối cảnh – (Khuôn mẫu CLKT của

50

IAASB, 2014)
Hình 2.6

- Khuôn mẫu CLKT của IAASB (2014)

Hình 2.12 - Sơ đồ khung khái niệm CLKT

62

Hình 3.1

- Quy trình phát triển nghiên cứu

66

Hình 3.2

- Sơ đồ minh hoạ mô hình lý thuyết CLHĐKT

73

Hình 3.3

- Mô hình nghiên cứu CLHĐKT

98

Hình 3.4

- Mô hình đo lường

105

Hình 4.1



Phụ lục 4 -

Bảng tóm tắt các hoạt động trong dự án CLKT của

35x

IAASB
Phụ lục 5 -

Cấu trúc khuôn mẫu CLKT của IAASB (2014)

39x

Phụ lục 6 -

Thang đo ban đầu (80 câu hỏi về CLKT) (Nghiên cứu

46x

1)
Phụ lục 7 -

Danh sách các chuyên gia tham khảo ý kiến và bảng

53x

thăm dò ý kiến chuyên gia (Nghiên cứu 1)
Phụ lục 8 -



110x

Phụ lục 14 -

Phân tích EFA lần 6 (từ SPSS)

113x

Phụ lục 15 -

Giá trị độ tin cậy thang đo của 8 yếu tố khung

123x

CLHĐKT (từ SPSS)
Phụ lục 16 -

Chỉ số mô hình đo lường (từ Amos)

132x

Phụ lục 17 -

Giá trị độ tin cậy thang đo của các yếu tố khung

141x

CLDVKT (từ SPSS)



CLKT

- Chất lượng kiểm toán

CLDVKT

- Chất lượng dịch vụ kiểm toán

CLHĐKT

- Chất lượng hoạt động kiểm toán

CMKiT

- Chuẩn mực kiểm toán

DN

- Doanh nghiệp

FASB

- Uỷ ban Tiêu chuẩn Kế toán Tài chính

FRC

- Hội đồng Báo cáo Tài chính Anh

IAASB



 

1
 

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
CLKT luôn là vấn đề được quan tâm bởi nhiều bên với mục đích khác nhau. Các
nhà đầu tư, chủ nợ cần thông tin hữu ích cho quyết định đầu tư/cho vay nên các cơ
quan quản lý Nhà nước cũng như tổ chức nghề nghiệp hết sức đề cao vai trò CLKT
đối với sự ổn định thị trường vốn. Trong khi đó, khách hàng kiểm toán mong muốn
sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí, cụ thể là giữa sự gia tăng độ tin cậy thông tin tài
chính với phí kiểm toán cũng như các chi phí nâng cao chất lượng BCTC. Ở một
góc độ khác, các DN kiểm toán cũng hiểu rằng CLKT giúp nâng cao khả năng cạnh
tranh và hạn chế rủi ro, nhưng phải cân đối với chi phí và thời gian dành cho việc
thực hiện kiểm toán.
Sự quan tâm của nhiều bên như trên mang lại tính đa chiều của CLKT. CLKT có
thể được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, vừa đồng nhất vừa mâu thuẫn. Ví dụ
giữa người cung cấp dịch vụ (DN kiểm toán) và người giám sát (tổ chức nghề
nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước). Hoặc giữa khách hàng trực tiếp (nhà quản lý
DN được kiểm toán) và khách hàng gián tiếp (nhà đầu tư, chủ nợ là người thực sự
sử dụng kết quả kiểm toán).
Trong bối cảnh đó, nhiều nghiên cứu được triển khai nhằm xác định các yếu tố
quyết định CLKT, làm nền tảng cho việc gia tăng sự hiểu biết và đồng thuận về
khái niệm CLKT và có những giải pháp cụ thể để nâng cao CLKT. Bên cạnh các
nghiên cứu của giới học thuật như DeAngelo (1981),
  Sutton and Lampe (1991)
Francis (2011), Knechel et al. (2012) …, các tổ chức nghề nghiệp hoặc các cơ quan

Góc độ hoạt động kiểm toán; và (ii) Góc độ dịch vụ kiểm toán. Ở góc độ thứ nhất,
CLKT thể hiện qua tổng thể các yếu tố đầu vào, đầu ra, quá trình xử lý và môi
trường. Ở góc độ thứ hai, CLKT tập trung vào quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ
(KTV) và người thụ hưởng dịch vụ (người sử dụng BCTC và DN được kiểm toán).
Các mục tiêu cụ thể là:
(1) Xây dựng khung các yếu tố quyết định CLHĐKT dựa trên nhận thức của
KTV.
Như đã nói ở phần trên, CLKT dưới góc độ một hoạt động bao gồm hàng loạt
các yếu tố bên trong (đầu vào, quá trình xử lý, đầu ra) cho đến môi trường bên
ngoài (bối cảnh, tương tác). Nghiên cứu này cố gắng phân tích một cách một cách
tổng thể các yếu tố trên dựa trên các khuôn khổ CLKT được phát triển gần nhất.
Qua đó, Luận án hướng đến việc tìm kiếm bằng chứng về những yếu tố quyết định
CLHĐKT theo nhận thức của KTV để có được những hiểu biết thực tiễn sâu sắc
hơn về nhận thức của KTV nhằm đi đến những gợi ý chính sách nâng cao CLKT.



 

3
 

(2) Phân tích sự khác biệt về nhận thức chất lượng do các yếu tố kinh nghiệm
và môi trường làm việc của KTV.
Các yếu tố kinh nghiệm và môi trường làm việc có thể ảnh hưởng đến nhận thức
của KTV về CLKT dưới góc độ một hoạt động. Nhận biết các khác biệt trong nhận
thức giữa các nhóm KTV theo kinh nghiệm và môi trường làm việc cũng sẽ hữu ích
cho các giải pháp cải thiện CLKT.
(3) Phân tích sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và các bên liên quan về
CLKT, dưới góc độ một dịch vụ.

o

Kiểm định trung bình (T-test) để xác định sự khác biệt giữa các nhóm
KTV theo số năm kinh nghiệm và môi trường làm việc.

• Nghiên cứu 2: Sự khác biệt về nhận thức về CLKT của KTV và các bên
liên quan, bao gồm bên sử dụng và bên cung cấp BCTC.
Do các bên liên quan không am hiểu sâu về hoạt động kiểm toán, Luận án sử
dụng khung CLDVKT để xây dựng thang đo kiểm tra sự khác biệt về nhận thức về
CLKT của KTV và các bên liên quan. Phương pháp sử dụng là phân tích phương
sai một chiều (One - Way ANOVA).
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
§ Đối tượng nghiên cứu
Ở nghiên cứu thứ nhất – Đối tượng nghiên cứu là các KTV làm việc tại Việt
Nam. Đối tượng khảo sát bao gồm các KTV làm việc tại các công ty kiểm toán, ở
các vị trí: Giám đốc kiểm toán; Chủ nhiệm kiểm toán; KTV chính; và Trợ lý kiểm
toán (có kinh nghiệm làm việc từ ba năm trở lên).
Ở nghiên cứu thứ hai- Đối tượng nghiên cứu là các KTV và các bên có lợi ích
liên quan (người cung cấp và người sử dụng BCTC) tại Việt Nam. Đối tượng khảo
sát bao gồm: các KTV làm việc tại các công ty kiểm toán, ở các vị trí là giám đốc
kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán, KTV chính, và trợ lý kiểm toán (có kinh nghiệm
làm việc từ ba năm trở lên); người làm kế toán (đại diện cho người cung cấp
BCTC); và các nhà đầu tư cá nhân (đại diện cho người sử dụng bên ngoài).
§ Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu giới hạn trong hoạt động kiểm toán BCTC của Kiểm toán Độc lập
tại Việt Nam.
5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông qua hai nghiên cứu được thực hiện độc lập, Luận án đã đạt được các kết
quả quan trọng sau đây:


Tương tác các bên

Bối cảnh

Bối cảnh

Hình 0.1 – Khung CLHĐKT

CLHĐKT

Quy trình



 

6
 

ü Kinh nghiệm và môi trường làm việc có ảnh hưởng đến nhận thức của
KTV về CLKT.
Kết quả kiểm định sự khác biệt cung cấp bằng chứng về sự khác biệt trong đánh
giá giữa Partner (gọi chung cho nhóm giám đốc kiểm toán và chủ nhiệm kiểm toán)
và Staff (gọi chung cho nhóm KTV chính và trợ lý kiểm toán). Partner có xu hướng
xem trọng các yếu tố thuộc “Bối cảnh” của hoạt động kiểm toán hơn Staff xuất phát
từ tầm nhìn có được qua kinh nghiệm nghề nghiệp. Trong khi đó, Staff có khuynh
hướng xem trọng yếu tố liên quan đến “Công khai của công ty kiểm toán”.
Bên cạnh đó còn có bằng chứng về sự khác biệt trong đánh giá giữa nhóm Big4
và Non-Big4 ở yếu tố “Công khai của công ty kiểm toán”. Kết quả cho thấy KTV
thuộc Big4 đánh giá tầm quan trọng của việc công khai thông tin của công ty kiểm

bằng phương pháp luận nghiêm ngặt (CFA), Luận án đã xây dựng Khung các yếu tố
quyết định CLHĐKT theo nhận thức của KTV có ý nghĩa về lý thuyết và phù hợp
với dữ liệu thực tế. Do đó, Khung các yếu tố quyết định CLHĐKT sẽ là hữu ích cho
sự phát triển hướng nghiên cứu đo lường CLKT ở Việt Nam.
ü Kết quả xác định tám yếu tố quyết định CLHĐKT (gồm: Năng lực nhóm
kiểm toán; Chính sách chất lượng của công ty kiểm toán; Phương pháp luận kiểm
toán; Cung cấp thông tin cho ban quản trị và quản lý; Công khai của công ty kiểm
toán; Giám sát từ bên ngoài; Tương tác các bên; và Bối cảnh), cũng như sự khác
biệt về nhận thức về CLKT của KTV theo kinh nghiệm và môi trường làm việc đã
bổ sung những hiểu biết sâu sắc về các yếu tố có ảnh hưởng đến CLKT.
ü Trên cơ sở hệ thống và phân tích các tài liệu nghiên cứu hàn lâm và nghề
nghiệp trên thế giới, Luận án đã làm rõ khái niệm CLKT từ hai góc độ. Góc độ chất
lượng của một hoạt động (CLHĐKT), và góc độ chất lượng của một dịch vụ
(CLDVKT). Điều này chưa được làm rõ trong các nghiên cứu về CLKT ở Việt
Nam trước đây. Vì vậy, Luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà
nghiên cứu trong tương lai, cũng như trong giảng dạy và nghiên cứu ở các trường
học về CLKT.
ü Ngoài ra, với các kết quả đạt được và những hạn chế từ nghiên cứu kiểm tra
sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và các bên liên quan về CLKT, Luận án đã gợi
mở hướng nghiên cứu CLKT dưới góc độ một dịch vụ cho các nghiên cứu trong
tương lai về CLKT.
Ø Những đóng góp về mặt thực tiễn:
ü Việc xác định các yếu tố quyết định CLHĐKT theo nhận thức của KTV,
cùng với các khác biệt giữa nhận thức của KTV và quan điểm của Tổ chức nghề



 

8




 

9
 

phần. Phần 1 trình bày phương pháp nghiên cứu. Phần 2 trình bày và phân tích các
kết quả đạt được.
• Chương 4: Sự khác biệt về nhận thức về CLKT của KTV và các bên liên
quan.
Mục đích của chương này là làm rõ phương pháp nghiên cứu và trình bày, phân
tích kết quả kiểm tra sự khác biệt trong nhận thức về CLKT giữa KTV và các bên
liên quan về CLKT, dưới góc độ là một dịch vụ. Chương này gồm có hai phần.
Phần 1 trình bày phương pháp nghiên cứu. Phần 2 trình bày và phân tích các kết quả
nghiên cứu đạt được.
• Chương 5: Kết luận và hàm ý áp dụng.
Mục đích của chương này là tóm tắt và đánh giá các kết quả đạt được, qua đó
gợi ý các chính sách áp dụng. Chương này gồm có ba phần. Phần 1 đánh giá các
phát hiện quan trọng. Phần 2 trình bày các đóng góp của Luận án và hàm ý áp dụng.
Phần 3 trình bày những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất cho nghiên cứu tiếp
theo./.
 
 



 


Số"lượng"bài"báo"

!415,000!!

200000"

150000"

100000"

50000"
!13,300!! !16,800!!

!67,300!!

!85,900!!

19
81
*1
98
5"
19
86
*1
99
0"
19
91
*1

!83,500!!
!30,900!!

Hình 1.1 – Số lượng bài báo về CLKT trong mỗi giai đoạn



 

11
 

Bên cạnh các nghiên cứu hàn lâm, các nghiên cứu của tổ chức nghề nghiệp cũng
được tiến hành và công bố trong hơn 10 năm qua. Điển hình, vào năm 2006 FRC
ban hành bản thảo luận về thúc đẩy CLKT có tiêu đề “Promoting Audit Quality”.
Năm 2007, IFAC phát hành hướng dẫn thực hành có tiêu đề “Tone at Top and
Audit Quality”. Năm 2009, IAASB công bố chuẩn mực “Kiểm soát chất lượng cuộc
kiểm toán BCTC” (ISA 220), và chuẩn mực “Kiểm soát chất lượng đối với các DN
kiểm toán thực hiện kiểm toán và soát xét BCTC, dịch vụ đảm bảo và các dịch vụ
liên quan khác” (ISQC1). Năm 2012, PCAOB triển khai dự án phát triển các công
cụ đo lường CLKT. Danh mục các chỉ báo về CLKT (AQI) được cập nhật trong các
báo cáo qua các năm 2013, 2014, 2015 của PCAOB, và cho đến nay dự án vẫn
trong quá trình thực hiện. Và gần đây nhất, vào năm 2014 IAASB đã công bố
Khuôn mẫu CLKT (Framework for Audit Quality).
Nhìn chung nghiên cứu về CLKT tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính, đó
là:


Phân tích tương quan: Phân tích quan hệ giữa CLKT với các nhân tố




Theo các yếu tố chất lượng của tổng thể hoạt động kiểm toán.



 

12
 

Các nghiên cứu hướng phân tích nhân tố được thực hiện bởi cả giới học thuật và
các tổ chức nghề nghiệp. Các tổ chức nghề nghiệp quan tâm nhiều đến hướng
nghiên cứu này vì nó giúp hoạch định chính sách và xây dựng các tiêu chuẩn đánh
giá CLKT.
Ngoài hai hướng nghiên cứu chính là phân tích tương quan và phân tích nhân tố,
còn có một số hướng nghiên cứu khác về CLKT, như nghiên cứu về sự khác biệt
giữa quan điểm các bên liên quan về CLKT, hay nghiên cứu tổng quan về CLKT,
.v.v. Để phục vụ cho đề tài của Luận án, tác giả hệ thống và trình bày các nghiên
cứu về CLKT theo hai hướng nghiên cứu chính, phân tích tương quan và phân tích
nhân tố.
Hình 1.2 trình bày sơ đồ tổng quát các hướng nghiên cứu về CLKT.
1.1.1 Hướng nghiên cứu phân tích tương quan
Có hai nhánh nghiên cứu nhỏ trong hướng nghiên cứu phân tích tương quan về
CLKT. Nhánh nghiên cứu thứ nhất phân tích mối quan hệ giữa CLKT với chất
lượng đầu ra của kiểm toán. Hướng nghiên cứu này cố gắng tìm kiếm các đại diện
(proxy) để có thể đo lường trực tiếp hay gián tiếp chất lượng đầu ra của kiểm toán.
Nhánh nghiên cứu thứ hai phân tích mối quan hệ giữa CLKT với các đặc điểm của
công ty kiểm toán. Mỗi nhánh trong nghiên cứu phân tích tương quan sẽ được trình
bày chi tiết ở phần tiếp theo dưới đây.

điểm công
ty kiểm
toán


 

PHÂN
TÍCH
NHÂN
TỐ

Theo thuộc tính
công ty kiểm toán
và KTV
Theo yếu tố cấu
thành chất lượng
quy trình
Theo yếu tố cấu
thành chất lượng
dịch vụ
Theo yếu tố cấu
thành chất lượng
hoạt động

Hình 1.2 - Sơ đồ các hướng nghiên cứu chính về CLKT
Nguồn: Do tác giả phát triển

§ Đo lường CLKT dựa trên khả năng phát hiện sai sót trọng yếu
Hướng nghiên cứu này dựa trên giả thuyết cho rằng CLKT có mối quan hệ cùng

dụng để đo lường chất lượng đầu ra, đó là: (1) Không đưa ra ý kiến GC khi có lý do
xác đáng để đưa ra nó; và (2) Đưa ra ý kiến GC khi không có lý do xác đáng. Cả hai
trường hợp này đều được xem là sai lầm của KTV, và đó là bằng chứng của một
CLKT kém. Các nghiên cứu tiêu biểu như của Carcello and Palmrose (1994),
Francis and Krishnan (2002), Kaplan and Williams (2012). Sử dụng đại diện ý kiến
GC để đo lường CLKT là phương pháp đo lường trực tiếp CLKT. Tuy nhiên, cũng
giống như đại diện đo lường là BCTC trình bày lại và AAERs, ý kiến GC cũng rất ít
được phát hành do đó đã làm giảm ý nghĩa của kết quả đo lường CLKT2.
1

Kết quả kiểm tra 436 AAERs đầu tiên (1982 -1993) của Dechow (1996), cho thấy trong

khoảng 12 năm có 165 trường hợp mô tả KTV thiếu chất lượng, như vậy bình quân mỗi
năm chỉ có 14 trường hợp. Kết quả điều tra 1.485 AAERs (1994 – 2003) cho thấy đa số
các AAERs không hướng về KTV (Francis, 2004).



 

15
 

§ Đo lường CLKT qua chất lượng của BCTC
Chất lượng BCTC (đã được kiểm toán) là một thành phần của CLKT. Giả thuyết
này dựa trên thực tế BCTC là sản phẩm chung của nhà quản lý và KTV (Magee and
Tseng, 1990; Antle and Nalebuff, 1991). Vì vậy, mối liên hệ giữa CLKT và chất
lượng BCTC là chặt chẽ và trực quan. Khi mà CLKT được xem là một sự đảm bảo
cao hơn tính trung thực và hợp lý của BCTC, thì đo lường chất lượng BCTC là
phương pháp thích hợp để đo lường CLKT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status