Ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh của ngân hàng lên sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG LÊN SỰ TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ THÔNG QUA KÊNH CHO VAY: BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TỪ CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM

Mã số: CS-2015-109
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Vũ Minh Hà

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG LÊN SỰ TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ THÔNG QUA KÊNH CHO VAY: BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TỪ CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM

Thành viên tham gia: ThS. Hoàng Thị Phương Anh

khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009.
Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài đã mang lại nhiều tác động tích cực
trong tiến trình phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam như gia tăng tính cạnh tranh
lẫn nhau, thúc đẩy các ngân hàng trong nước cải tiến công nghệ, quy trình, sản
phẩm… cho phù hợp với điều kiện mới. Số lượng ngân hàng nước ngoài đang có xu
hướng tăng lên, tuy nhiên, chưa vượt quá 25% tổng số ngân hàng toàn ngành và tỷ
trọng tài sản của ngân hàng nước ngoài so với toàn ngành ngân hàng tại Việt Nam
chưa vượt quá 5%, cho thấy chỉ nắm giữ tài sản với tỷ lệ rất nhỏ. Như vậy, các NHTM
trong nước đang đóng vai trò nòng cốt trong cuộc tranh giành thị phần, hay cạnh tranh
tại các NHTM Việt Nam chủ yếu là cạnh tranh giữa các NHTM trong nước.
Trong bối cảnh hiện tại của phục hồi khủng hoảng, một trong những vấn đề
chính cần quan tâm là khả năng của các trung gian tài chính để tài trợ cho việc làm
mới và cung cấp những cơ hội mới cho sự phát triển ổn định và bền vững. Cấu trúc thị
trường và đặc biệt là cạnh tranh của các ngân hàng có thể ảnh hưởng đến các mục tiêu
này. Thật vậy, sự cạnh tranh có thể trực tiếp làm thay đổi sự phát triển của các nguồn
cung cấp tín dụng, nhưng cũng có thể gián tiếp ảnh hưởng đến nó thông qua những tác
động truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay của ngân hàng. Do
đó, mức độ cạnh tranh ngân hàng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tiền
tệ bằng cách tiếp tay hoặc cản trở việc truyền dẫn các quyết định của chính sách tiền
tệ.
Nhiều nghiên cứu đã cố gắng xác định những tác động của chính sách tiền tệ đến
việc cung cấp tín dụng của các ngân hàng. Một chính sách tiền tệ thắt chặt có thể buộc
một số ngân hàng cắt giảm cung tiền cho vay của họ. Tuy nhiên, việc cắt giảm này sẽ
khác nhau giữa các ngân hàng. Một ngân hàng khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn
2


vốn khác sẽ cắt giảm cung tín dụng nhiều hơn các ngân hàng dễ dàng tiếp cận các
nguồn vốn khác. Họ nhận thấy rằng các ngân hàng có quy mô nhỏ phản ứng mạnh
hơn với các cú sốc của chính sách tiền tệ. Ngoài quy mô (Kashyap và Stein, 2000;


1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Những nghiên cứu trước cho thấy rằng tăng mức độ cạnh tranh có thể ảnh
hưởng đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay của ngân
hàng, cho nên trong bài nghiên cứu này mục tiêu chính của chúng tôi là muốn kiểm tra
xem tác động của mức độ cạnh tranh ảnh hưởng như thế nào đến sự truyền dẫn của
chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vayở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa thành các câu hỏi nghiên cứu sau:
 Tác động cạnh tranh ngân hàng và kênh cho vay của ngân hàng có mối quan hệ
như thế nào?
 Cạnh tranh giữa các ngân hàng có tác động thế nào đến sự truyền dẫn của chính
sách tiền tệ thông qua kênh cho vay của ngân hàng?
 Tác động của cạnh tranh giữa các ngân hàng đến sự truyền dẫn của chính sách
tiền tệ thông qua kênh cho vay sẽ thay đổi như thế nào trong thời kỳ khủng
hoảng tài chính năm 2008-2011?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của cạnh tranh ngân hàng đến truyền dẫn
chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay của ngân hàng.
Phạm vi thu thập dữ liệu: mẫu nghiên cứu gồm 31 ngân hàng Việt Nam từ năm
1999-2015.

4


2. Tổng quan lý thuyết
2.1. Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
Để đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, các công cụ chính sách tiền tệ trên
sẽ được ngân hàng trung ương (NHTW) thực thi. Tuy nhiên, một chính sách tiền tệ có
đúng đắn và thiết thực thế nào đi chăng nữa nhưng nếu không có một cơ chế dẫn
truyền hoàn hảo thì có lẽ chính sách đó sẽ không mang hiệu quả đối với nền kinh tế.

Đối với sản lượng, những thay đổi lãi suất này ảnh hưởng đến hành vi
chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư của các cá nhân và các công ty trong nền kinh tế. Đơn
giản là trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì khi lãi suất cao hơn có xu
hướng khuyến khích tiết kiệm hơn là chi tiêu. Tương tự như vậy, giá trị của nội tệ
cao hơn trong thị trường ngoại hối khuyến khích chi tiêu bằng cách làm hàng hóa
nước ngoài rẻ hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước. Vì vậy, những thay đổi
trong lãi suất và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến nhu cầu đối với hàng hóa và dịch
vụ sản xuất. Tại các nước phát triển ví dụ ở khu vực các nước đồng Euro, Smets
và Wouters (2003) tìm thấy rằng cú sốc chính sách tiền tệ thông qua các kênh lãi
suất ảnh hưởng đến sản lượng thực tế, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư.
Lý thuyết về kênh lãi suất giả định rằng các trung gian tài chính không đóng
vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Bernanke và Gertler (1995) cho thấy kênh lãi
suất truyền thống phụ thuộc vào một trong ba giả định sau: (i) Đối với khách hàng
đi vay: các khoản vay và trái phiếu là những sự lựa chọn thay thế hoàn hảo cho
nguồn tài chính nội bộ (ii) Đối với người cho vay: các khoản vay và trái phiếu là
những sự lựa chọn thay thế hoàn hảo cho nguồn tài chính nội bộ (iii) nhu cầu tín
dụng không nhạy cảm với lãi suất cho vay.
2.1.2. Kênh tài sản
-

Kênh tỷ giá hối đoái: Khi NHTW mở rộng chính sách tiền tệ, cung tiền nội tệ
tăng làm cho nội tệ giảm giá so với ngoại tệ. Khi giá trị đồng nội tệ giảm, tỷ giá
hối đoái (theo phương pháp yết giá trực tiếp) sẽ tăng. Điều này có hàm ý là
hàng hóa trong nước sẽ rẻ hơn trong tương quan so sánh với hàng hóa nước
ngoài, làm cho nhập khẩu giảm, xuất khẩu tăng hay cán cân thương mại được
cải thiện theo chiều hướng thặng dư làm cho tổng cầu tăng và tác động làm
tổng sản lượng tăng và ngược lại.
Nghiên cứu của Ball (2000)cho rằng các NHTWcần quan tâm đến phản
ứng của tỷ giá trong việc điều hành chính sách vĩ mô. Tuy nhiên, việc
NHTWđiều hành chính sách tỷ giá được đánh giá là tích cực hay tiêu cực đứng

bằng một lượng nhỏ hơn vốn cổ phần phát hành. Mặt khác, khi Q
Khối lượng vốn cho vay vì thế tăng lên, đầu tư và sản lượng mở rộng.
Bernanke và Gertler (1995) cho rằng các kênh bảng cân đối kế toán liên
quan đến tác động của chính sách tiền tệ đến nhu cầu vay vốn. Lãi suất cao hơn
làm tăng lãi vay phải trả trong khi giảm giá trị hiện tại của tài sản và tài sản thế
chấp. Điều này sẽ làm giảm mức độ tín nhiệm của các tài sản, do đó dẫn đến sự
chênh lệch cao hơn khi sử dụng nguồn tài chính bên ngoài. Khi đó, với tốc độ
tăng trưởng tín dụng chậm, tổng cầu và cung giảm.
Bernanke và Blinder (1988) đã chỉ ra rằng, các trung gian tài chính đóng
vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xuất phát từ sự không
hoàn hảo của thông tin trên thị trường tín dụng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
trở nên phụ thuộc nhiều vào các khoản tín dụng từ phía hệ thống ngân hàng do
khó khăn trong việc tiếp cận được thị trường chứng khoán.
-

Kênh “bảng cân đối kế toán của hộ gia đình”: Khi NHTW thực hiện chính
sách tiền tệ mở rộng, giá cổ phiếu sẽ tăng và làm cho tổng giá trị tài sản tài
chính của các hộ gia đình tăng. Khi tỷ trọng tài sản tài chính/nợ của hộ gia đình
tăng, xác suất gặp khó khăn về tài chính sẽ giảm (theo sự ước lượng của các hộ
gia đình), do đó các hộ gia đình sẽ tăng chi tiêu cho nhà ở và các tài sản lâu bền
khác (tài sản kém thanh khoản do hiện tượng bất cân xứng thông tin giữa người

9


bán và người mua về chất lượng của các tài sản này là tương đối lớn), từ đó
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây
2.2.1.Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
2.2.1.1. Tác động của truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay của
ngân hàng (lending channel)

các ngân hàng cho vay, cho thấy rằng một chính sách thắt chặt tiền tệ gây ra một sự
suy giảm trong các khoản vay ngân hàng và các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, các kết
quả này gặp phải khó khăn khi không phân biệt giữa cung và cầu tín dụng. Để giải
quyết khó khăn này, Kashyap và ctg. (1993) cho thấy một giai đoạn hạn chế chính
sách tiền tệ đã dẫn đến sự suy giảm trong cho vay ngân hàng nhưng đồng thời cũng
làm tăng các chứng từ thương mại phát hành. Kết quả này có khuynh hướng khẳng
định sự thay đổi trong khối lượng các khoản vay được căn cứ trên sự thay đổi cung tín
dụng hơn là trên sự thay đổi cầu tín dụng.
Cách tiếp cận của Kashyap và Stein (2000) khác với các cách tiếp cận truyền
thống trước đó. Các tác giả sử dụng dữ liệu vi mô của hệ thống ngân hàng từ năm
1976 đến 1993. Loại dữ liệu này cho phép các tác giả kiểm tra mức độ phản ứng trung
bình của ngân hàng được gây ra bởi cú sốc của chính sách tiền tệ. Kết quả tìm được
cho thấy sự tồn tại của của kênh tín dụng khi xuất hiện cú sốc chính sách tiền tệ trong
nền kinh tế. Nghiên cứu này đã tái khẳng định các kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu
trước đó của Kashyap và Stein (2000), Ehrmann và ctg. (2003), Ashcraft (2006),
Altunbas và ctg. (2009), Gambacorta và Marques-Ibanez (2011).
Cuộc khủng hoảng gần đây đã nhấn mạnh vai trò của các ngân hàng trong việc
truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến kênh cho vay và đến nền kinh tế. Chính sách tiền
tệ được truyền dẫn đến nền kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau. Kênh lãi suất cho
vay nhấn mạnh tác động trực tiếp của lãi suất cho vay đến cầu tín dụng. Chính sách
tiền tệ thắt chặt làm tăng lãi suất và do đó làm giảm cầu tín dụng. Kênh tín dụng và
các kênh đầu tư có rủi ro đều nhấn mạnh vai trò của các trung gian tài chính đến sự
truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến kênh cho vay và đến nền kinh tế. Kênh tín dụng
được xem như có tác động làm tăng cường ảnh hưởng của kênh lãi suất thông qua tác
động lên nguồn cung các khoản cho vay của ngân hàng, trong khi đó, đối với các kênh
đầu tư có rủi ro lại cho thấy rằng chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi chất lượng của
kênh cho vay ngân hàng. Kênh tín dụng thường được phân loại thành các “kênh tín
dụng mở rộng” (kênh này bao gồm kênh định giá tài sản) và nhấn mạnh đến tác động
của chính sách tiền tệ lên giá trị tài sản ròng của người đi vay, và “kênh cho vay ngân
11

và ctg., 2009). Các ngân hàng có thanh khoản kém cũng thường có phản ứng tương tự
(Kashyap và Stein, 2000; Ehrmann và ctg., 2003, Altunbas và ctg., 2009). Các ngân
hàng này thường không có khả năng sử dụng tiền hoặc các chứng khoán có thể chuyển
12


đổi để phòng hộ cú sốc tiền tệ, do đó thường buộc phải hạn chế các khoản cho vay của
mình (Altunbas và ctg., 2009). Cuối cùng, các ngân hàng có vốn hóa thị trường nhỏ
thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ trên thị trường và bị hạn
chế theo luật định trong việc thực hiện các đầu tư mạo hiểm mà không tăng vốn
(Kishan và Opiela, 2000; Van den Heuvel, 2002; Gambacorta, 2005; Altunbas và ctg.,
2009).
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu tại hệ thống các ngân hàng Châu Âu rất khó để
so sánh do tính chất về điều kiện địa lý cũng như cấu trúc ngân hàng. Ehrmann và ctg.
(2003) cho thấy đối với các quốc gia thuộc khu vực Châu Âu, chỉ có tính thanh khoản
có tác động đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Đối với 6 nước OECD, Brissimis
và Delis (2009) lại không tìm được bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự tồn tại của
kênh tín dụng. Matousek và Sarantis (2009) cho thấy quy mô ngân hàng và tính thanh
khoản của ngân hàng là những yếu tố quan trọng nhất để tạo dựng phản ứng cung tín
dụng trong hệ thống ngân hàng của 8 nước CEE.
Bên cạnh quy mô, tính thanh khoản và vốn hóa thị trường, các nghiên cứu khác
còn tìm hiểu các nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến kênh cho vay ngân hàng. Theo
Altunbas và ctg. (2010), kênh rủi ro cũng có sự ảnh hưởng khi phân tích ảnh hưởng
của truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Một ngân hàng với mức rủi ro thấp sẽ có nhiều
khả năng tái tài trợ trên thị trường và do đó sẽ ít bị phụ thuộc vào chính sách tiền tệ.
Loutskina và Strahan (2009), Atbunbas và ctg. (2009), Gambacorta và MarquesIbanez (2011) nhận thấy sự phát triển của các hoạt động chứng khoán hóa làm giảm
hiệu quả của chính sách tiền tệ. Tác động của chính sách tiền tệ cũng có thể trở nên
mạnh mẽ hơn trong một nền kinh tế có hệ thống ngân hàng yếu, kém phát triển và thị
trường tài chính hẹp (Ceccheti, 1999).
2.2.1.2. Cạnh tranh giữa ngân hàng và truyền dẫn chính sách tiền tệ

trong lãi suất cho vay của các khoản ký gửi gây ra bởi cú sốc đến các khoản dự phòng
sẽ truyền dẫn trực tiếp đến lãi suất cho vay của ngân hàng.Ở hai trường hợp đầu tiên,
gia tăng mức độ cạnh tranh làm suy yếu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đối với các
kênh cho vay của ngân hàng. Đối với trường hợp cuối cùng, gia tăng mức độ cạnh
tranh sẽ nâng cao mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ.
Olivero và ctg. (2011a) kiểm chứng sự thay đổi trong mức độ cạnh tranh của
các ngân hàng có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ
thông qua các kênh cho vay của ngân hàng tại 20 nước Mỹ Latin và Châu Á trong giai
đoạn 1996-2006. Các tác giả tìm được bằng chứng cho thấy mức độ cạnh tranh của
ngân hàng có tác động ngược chiều với hiệu quả của chính sách tiền tệ. Kết quả này
14


đặc biệt phù hợp với các ngân hàng có quy mô nhỏ, mức thanh khoản thấp và có giá
trị vốn hóa nhỏ. Tại các nước Mỹ Latin, sự gia tăng trong mức độ cạnh tranh của ngân
hàng làm giảm hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ trong khu vực. Bên cạnh đó,
mức độ cạnh tranh của ngân hàng không cho thấy sự tác động ngược chiều đối với
hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay. Các tác giả đề
xuất một sự giám sát hơn nữa đối với sự phát triển của mức độ cạnh tranh của ngân
hàng và cấu trúc trong hệ thống ngân hàng tại các thị trường mới nổi, đặc biệt khi quá
trình hội nhập và quốc tế hóa của hệ thống ngân hàng, cũng như sự tham gia của các
ngân hàng nước ngoài, và quá trình cải tổ hệ thống ngày càng được nâng cao.
Leroy và Lucotte (2015) kiểm chứng mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh của
ngân hàng và kênh lãi suất của các quốc gia trong khu vực Châu Âu giai đoạn 20032010. Các tác giả đo lường mức độ cạnh tranh thông qua chỉ số Lerner và nhận thấy
mức độ cạnh tranh của ngân hàng: (1) làm giải lãi suất cho vay; (2) tăng cường mức
độ truyền dẫn của lãi suất dài hạn; (3) đẩy nhanh tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng
dài hạn trong thời gian ngắn. Do đó, tăng cường mức độ cạnh tranh của ngân hàng có
thể cải thiện hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến kênh lãi suất. Các tác giả
cho rằng, các ngân hàng hoạt động trong một thị trường cạnh tranh, vì sợ mất thị phần
của mình sẽ cung cấp các khoản tín dụng với mức lãi suất thấp hơn và điều chỉnh lãi

mức độ cạnh tranh. Kết quả này trùng hợp với kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu
trước với các phương pháp đo lường mức độ cạnh tranh khác nhau như Cottarelli và
Kourelis (1994), Borio và Fritz (1995), de Bondt (2005). Mức độ cạnh tranh găy gắt
từ những ngân hàng khác hoặc từ thị trường vốn có thể đẩy nhanh quá trình điều chỉnh
của lãi suất tiền gửi lên sự thay đổi của thị trường tiền tệ.
Khan và ctg. (2016) xem xét vai trò của cạnh tranh ngân hàng trong việc truyền
dẫn chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vay ngân hàng. Tác giả cũng xem xét
các khía cạnh khác như là quy mô, vốn và thanh khoản - ảnh hưởng tới sự tác động
của những cú sốc chính sách tiền tệ tới ngân hàng. Tác giả sử dụng mô hình GMM với
dữ liệu ngân hàng từ 5 quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1999-2014. Kết quả cho
thấymức độ truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua các kênh cho vayngân hàng đang
suy giảm. Vì vậy, cần có các biện pháp chính sách có thể chống lại các tác động bất
lợi này.

16


2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
Chính sách tiền tệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách kinh
tế ở các quốc gia, vì vậy, đây là đề tài luôn được các nhà kinh tế coi trọng.
Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013) nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn
chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR với các biến gồm: Giá
dầu, lãi suất cơ bản của Mỹ, biến trong nước gồm sản lượng công nghiệp, chỉ số giá
tiêu dùng, cầu tiền M2, lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 3 tháng, tỷ giá danh nghĩa. Trong
số bảy biến được sử dụng trong mô hình, biến đại diện cho nhóm biến ngoại sinh là
giá dầu thế giới (PC) và lãi suất cơ bản (Federal Funds Rate) của Mỹ. Mẫu được phân
thành hai mẫu nhỏ để có thể so sánh cơ chế truyền dẫn ở hai thời kỳ. Mẫu thứ nhất
được quan sát từ tháng 1/1998 đến tháng 12/2006. Mẫu thứ hai gồm các quan sát từ
tháng 1/2007 đến tháng 4/2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số câu đố tồn tại
trong đó có câu đố về giá (giá cả tăng lên khi thắt chặt tiền tệ). Kênh lãi suất tạo ra

hối đoái… Kết quả cho thấy tại Việt Nam, mức độ khuếch đại của kênh tín dụng trong
truyền dẫn chính sách tiền tệ là khá nhanh và mạnh nên bên cạnh việc hoạch định và
thực thi các chính sách, Chính phủ và ngân hàng nhà nước (NHNN) cần tập trung vào
nâng cao hiệu quả truyền dẫn chính sách tiền tệ của kênh này.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phúc Cảnh và ctg. (2013) cho thấy kênh tín
dụng NHTM có vai trò quan trọng trong truyền dẫn chính sách tiền tệ của NHNN Việt
Nam giai đoạn 2004-2012 và bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm của NHTM như tính
thanh khoản, vốn chủ sở hữu.
Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy (2015) nghiên cứu cạnh tranh tại các
NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2014 cả tiếp cận truyền thống và tiếp cận mới, chỉ ra
những ưu và nhược điểm của từng cách tiếp cận, đánh giá tác động của các nhân tố
đến cạnh tranh tại các NHTM Việt Nam.

18


3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô tả dữ liệu
Nghiên cứu của chúng tôi dựa trên dữ liệu của bảng cân đối kế toán và báo cáo
thu nhập hàng năm của 31 ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1999-2015.
Nguồn dữ liệu được lấy từ cơ sở dữ liệu của bankscope. Các ngân hàng trong mẫu của
chúng tôi bao gồm các NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng có vốn
của nước ngoài.
Chính sách tiền tệ là như nhau giữa các ngân hàng. Theo Bernanke và Blinder
(1988), chúng tôi đo lường chính sách tiền tệ thông qua những thay đổi trong tỷ lệ lãi
suất ngắn hạn, do đó, một hoạt động thắt chặt (nới lỏng) tiền tệ sẽ được phản ánh
trong một gia tăng (giảm sút) trong lãi suất. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng
lãi suất liên ngân hàng qua đêm hoặc lãi suất tái cấp vốn làm biến đại diện cho chính
sách tiền tệ theo nhiều nghiên cứu trước đây (Ehrmann và ctg., 2003; Gambacorta,
2005; Olivero và ctg., 2011b; Fungáčová và ctg., 2014). Bên cạnh đó, chúng tôi còn

Boone (Boone, 2008), chỉ số H (Panzar và Rosse, 1987), hoặc chỉ số HerfindahlHirschman. Đầu tiên, chỉ số Lerner có thể tính toán cho từng ngân hàng cụ thể, rất hữu
ích khi quan sát tác động của sức mạnh thị trường lên hành vi hoặc hiệu quả. Thứ hai,
chỉ số Lerner dường như là một đại diện tốt hơn để đánh giá mức độ cạnh tranh giữa
các ngân hàng hơn là các chỉ số tập trung. Một loạt các nghiên cứu về ngân hàng đã
cho thấy chỉ số tập trung không phải là một biện pháp đáng tin cậy để đánh giá mức
độ cạnh tranh (Claessens và Laeven, 2004; Lapteacru, 2014 giải thích tại sao một số
các nghiên cứu gần đây lại sử dụng chỉ số Lerner; Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu
Thủy, 2015 trong nghiên cứu về Việt Nam cũng đã cho rằng chỉ số Lerner là công cụ
đánh giá cạnh tranh ngân hàng ở Việt Nam hiệu quả hơn so với các chỉ số khác).
 Chỉ số Herfindahl-Hirschman: Trong ngành ngân hàng, chỉ số HerfindahlHirschman (HHI) được sử dụng để nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là
hoàn hảo hay độc quyền cao. Tại Mỹ, chỉ số này được Bộ Tư pháp sử dụng để
đánh giá mức độ độc quyền hay độc quyền nhóm trong hoạt động mua bán, sáp
nhập (M&A) giữa các ngân hàng. HHI xác định như sau:
𝑛

HHI = ∑ 𝑠𝑖2
𝑖=1

Trong đó: si là thị phần ngân hàng thứ i. si có thể được đo lường dựa trên doanh
thu, tổng tài sản, tổng tiền gửi, tổng tín dụng hoặc tổng thu nhập từ lãi của các ngân
hàng. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi cũng đánh giá mức độ cạnh tranh trên các

20


tiêu chí trên theo như đề xuất của Lê Hải Trung (2014), Nguyễn Thế Bính (2016). n là
số lượng ngân hàng.
HHI có thể thay đổi từ 100%, đại diện cho thị trường độc quyền hoàn toàn khi
một ngân hàng chiếm lĩnh toàn bộ thị trường đến 0%, đại diện cho thị trường cạnh
tranh hoàn hảo. Về lý thuyết HHI càng nhỏ thì càng chứng tỏ không có ngân hàng

(1)

Trong đó: TC đại diện cho tổng chi phí được tính bằng tổng của chi phí nhân
sự, chi phí ngoài lãi, chi phí lãi phải trả. w1 là giá lao động (là tỷ số giữa chi phí nhân
sự trên tổng tài sản), w2 là giá vốn vật chất (là tỷ số giữa chi phí ngoài lãi trên tài sản
cố định), w3 là giá của vay mượn (là tỷ số giữa chi phí lãi phải trả trên tổng tiền gửi).
21


Việc ước tính hàm translog trên dữ liệu bảng của toàn bộ các ngân hàng có thể
được thực hiện theo hai cách khác nhau. Thứ nhất, chúng ta có thể sử dụng phương
pháp OLS (phương pháp bình phương nhỏ nhất) hoặc phương pháp biên ngẫu nhiên
(stochastic frontier analysis-SFA) (Koetter và ctg., 2012). Tuy nhiên, cách tiếp cận
theo SFA có lợi thế hơn phương pháp OLS, vì nó có tính đến sự thiếu hiệu quả của
các khoản nợ. Khoảng cách thực sự giữa giá và chi phí cận biên có thể được thay đổi
khi các ngân hàng có sức mạnh thị trường (Hicks, 1935; Maudos và de Guevara,
2007), hoặc ngược lại, khi sự hiệu quả dẫn tới một cấu trúc thị trường xung quanh các
ngân hàng hiệu quả nhất (Demsetz, 1973). Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ
sử dụng phương pháp SFA để ước lượng các hệ số 𝛼1 , 𝛼2 và 𝑦𝑗 trong phương trình
(1). Sau đó, chúng tôi sẽ sử dụng các hệ số này để tính chi phí biên như sau:
𝑀𝐶 =

𝑇𝐶
𝑦

(𝛼1 + 𝛼2 𝑙𝑛𝑦 + ∑3𝑗=1 𝑦𝑗 𝑙𝑛𝑤𝑗 )

(2)

3.3. Mô hình nghiên cứu

chúng tôi giả định rằng tác động của tiền gửi đến cung tín dụng giữa các ngânhàng là
không giống nhau, mà phụ thuộc vào các đặc điểm đặc trưng của ngân hàng (Xi)
nhưquy mô của ngân hàng, khả năng thanh khoản và vốn. Chúng tôi thêm chỉ số
Lerner, để lường mức độ cạnh tranh của ngân hàng, nhằm kiểm tra xem liệu cạnh
tranh của ngân hàng ảnh hưởng đếntruyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh tín
dụng như thế nào:
∅4 = 𝜇0 − 𝜇1 𝑋𝑖 (6)
Giả sử thị trường cho vay thì cân bằng và áp dụng những công thức trên, cung tín
dụng có thể được viết lại như sau:
𝐿 = 𝑎𝑦 + 𝑏𝑝 + 𝑐0 𝑀𝑃 + 𝑐1 𝑋𝑖 𝑀𝑃 + 𝑑𝑋𝑖 + 𝑐𝑜𝑛𝑠𝑡𝑎𝑛𝑡

(7)

Cung tín dụng dựa trên hoạt động của nền kinh tế (y), mức giá (p), chính sách
tiền tệ (MP), các đặc điểm đặc trưng của ngân hàng (Xi) và sự tương tác giữa hai biến
cuối (XiMP). Trong nghiên cứu này, hệ số c1có ý nghĩa hàm ý rằng có tồn tại kênh tín
dụng ngân hàng, vì vậy, chính sách tiền tệ sẽ tác động đến cung tín dụng của ngân
hàng.
Mô hình thực nghiệm của chúng tôi dựa trên phương trình (7) và được ước
lượng theo sai phân bậc nhất1. Theo Ehrmann và ctg. (2003), mô hình hồi quy cơ bản
như sau:
log(𝐿𝑖,𝑡 ) = 𝛼𝑖 + ∑𝑙𝑗=1 𝑏𝑗 log(𝐿𝑖,𝑡−𝑗 ) + ∑𝑙𝑗=0 𝑐𝑗 𝑀𝑃𝑡−𝑗 + ∑𝑙𝑗=0 𝑑𝑗 %𝐺𝐷𝑃𝑡−𝑗 +
∑0𝑗=0 𝑓𝑗 𝑋𝑖,𝑡−1 + ∑𝑙𝑗=0 𝑔𝑗 𝑋𝑖,𝑡−1 𝑀𝑃𝑡−𝑗 + 𝜀𝑖𝑡

(8)

Với i là các ngân hàng; t là thời gian (năm); j là độ trễ; Lit đại diện cho tổng số
tiền vay của ngân hàng i đến các ngành phi ngân hàng trong thời gian t; MP là chính
sách tiền tệ và %GDP là tốc độ tăng trưởng GDP thực. Các đặc điểm của ngân hàng
được đại diện bởi biến Xi. Hơn nữa, mô hình còn bao gồm những yếu tố cố định của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status