TRUYỀN THUYẾT VỀ QUỐC SƯ NGUYỄN MINH KHÔNG Ở CHÙA
CỔ LỄ, TRỰC NINH, NAM ĐỊNH
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề đề tài
Trong các thể loại tự sự dân gian, truyền thuyết đóng vai trò và có vị trí
quan trọng. Truyền thuyết ra đời trên cơ sở những sự kiện lịch sử của dân tộc,
gắn liền với đời sống cộng đồng, phản ánh những khía cạnh lịch sử theo con
mắt và quan niệm của nhân dân. Hệ thống truyền thuyết Việt Nam rất đa dạng
và phong phú. Các nhà nghiên cứu dân gian đã bỏ ra rất nhiều công sức để
nghiên cứu và sưu tầm về hệ thống truyền thuyết người Việt. Đã có rất nhiều
công trình được xuất bản xứng đáng với tầm vóc yều cầu đặt ra. Tuy nhiên, số
lượng các truyền thuyết hiện còn đang lưu truyền trong dân gian là rất lớn.
Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không là một hệ thống truyện kể dân gian
được lưu truyền rộng rãi trong nhiều địa phương ở Việt Nam, nhất là vùng
châu thổ sông Hồng. Ông là một vị thiền sư nổi tiếng ở nước ta trong buổi đầu
gây dựng nền độc lập tự chủ. Dưới vương triều đời Lý, ông cùng với Dương
Không Lộ đã có công đi quyên giáo đồng để đúc ''tứ đại khí''- bốn báu vật
bằng đồng đúc của nước ta, xây dựng và làm cho nghề đúc đồng Việt Nam đạt
tới đỉnh cao rực rỡ. Ông được nhân dân suy tôn là tổ sư nghề đúc đồng. Bên
cạnh đó ông còn là một danh y nổi tiếng đã có công chữa bệnh hóa hổ cho vua
Lý Thần Tông, có công sáng lập và làm trụ trì nhiều ngôi chùa nổi tiếng. Ông
được nhà vua phong là Quốc sư do đã có công lớn đối với bách tính lê dân.
Tính từ trước đến nay số lượng các công trình nghiên cứu, sưu tầm
truyền thuyết khá nhiều nhưng mảng truyền thuyết về tổ nghề còn ít được
quan tâm. Trong tình hình chung ấy, việc nghiên cứu truyền thuyết về tổ nghề
đúc đồng sẽ cho chúng ta một cái nhìn hệ thống nhằm nhận biết sâu sắc
những giá trị Foklore cũng như việc bảo lưu phát triển các làng nghề thủ công
ở nước ta.Thờ tổ nghề là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện sự
nhường cho Giác Hải đốt lửa đun vạc, lửa cháy rất mạnh, dầu sôi lên sùng
sục. Minh Không nhúng tay vào trong vạc dầu lấy đủ một trăm cái đanh ra.
Giác Hải nhường Minh Không làm phép, Minh Không lấy cành hoè nhúng
xuống dầu, vẩy khắp mình vua…''[21,tr.884].
-Trong sách "Thiền uyển tập anh ngữ lục" được tái bản năm 1715
dưới thời Lê niên hiệu Vĩnh Thịnh(thứ 11) có bài viết về người kế thừa tâm
pháp của dòng Tì-ni-đa-lưu-chi(đời thứ 13) có ghi chép tiểu sử, hành trạng
của thiền sư Minh Không. Nhưng sau này 1993, tái bản "Thiền uyển tập
anh'' nhóm dịch giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thuý Nga lại không chép truyện
Quốc sư Minh Không. Theo Nguyễn Duy Hinh trong "Tư tưởng Phật Giáo
Việt Nam" vì trong sách đó "có tình tiết chữa bệnh hoá hoá hổ cho vua Lý
Thần Tông, tương tự như trong ''Lĩnh Nam chích quái" nhưng lại có những
đối thoại xa lạ với Phật Giáo"[ tr.213].
-Tiếp đến một thư tịch cổ khác là "Lĩnh Nam chích quái" do Trần Thế
Pháp biên soạn(cuối thế kỷ VX) cũng chép chung truyện Nguyễn Minh
Không với Từ Đạo Hạnh. Trong truyện, trước khi hoá, Từ Đạo Hạnh đã
truyền tâm ấn cho Nguyễn Minh Không, khi vua Lý Thần Tông hoá hổ
Nguyễn Minh Không đã dùng y thuật của mình chữa khỏi bệnh cho vua và
được phong "Quốc sư". Truyện cũng được chép lại trong "Tổng tập văn học
dân gian người Việt'' tập 4 với tiêu đề: "Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn
Minh Không". Mối quan hệ Đạo Hạnh-Minh Không thể hiện qua đoạn: "Đạo
Hạnh thấy người (chỉ Minh Không) tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên
cho... Đạo Hạnh đã hoá Minh Không trở về chùa cũ cầy ruộng… Khi đó Lý
Thần Tông bỗng mắc bệnh lạ, tâm thần rối loạn, tiếng kêu đau đớn gầm rú
đáng sợ... Triều đình bèn sai sứ thần đi tìm được Minh Không'' [21,tr.874875].
-Trong bộ ''Đại Việt sử ký toàn thư''-bộ sử thời Lê do thần Ngô Sĩ
Liên khởi biên thì những sự kiện liên quan đến cuộc đời Nguyễn Minh Không
được chép như sau: năm 1136, ''Vua bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi. Nhà
5. Phương pháp nghiên cứu
Văn học dân gian như cái tên của nó, nghĩa là văn học của dân gian, tức
tự chúng mang trong mình tính dị bản và tính nguyên hợp. Cho nên nghiên
cứu một vấn đề mang tính dân gian phải nghiên cứu trong môi trường diễn
xướng. Vì vậy, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp xã hội học: điền dã, ghi chép các truyện kể của nhân
dân, đặc biệt của người cao tuổi; quay phim, chụp ảnh, ghi âm, phỏng vấn…
những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: vận dụng các chuyên đề khác như sử
học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hoá học… để hỗ trợ đắc lực cho đề tài.
-Phương so sánh loại hình: nhằm nhận diện được những sắc thái riêng
mang bản sắc địa phương của làng nghề Tống Xá.
-Phương pháp phân tích, tổng hợp: từ kiến thức, tư liệu còn thô mộc
chúng tôi sẽ tiến hành hệ thống hoá để nêu bật các vấn đề cần nghiên cứu một
cách hiệu quả.
NỘI DUNG CHÍNH
I.Nguyễn
Minh Không và chùa Cổ Lễ
1. Nguyễn Minh Không
Không giống như những nhân vật lịch sử khác, vị Thánh Tổ Nguyễn
Minh Không được chính sử ghi chép một cách rõ ràng, cẩn thận, những điều
ta biết về ông bây giờ chỉ là những gì khảo cứu lại, song chúng ta biết được
phần nào về con người ông:
Tại làng Điềm Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình có ông Nguyễn Tất
quận mà ở''[74] .
Trong cuốn “Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục” bằng chữ Hán, không rõ
tên tác giả viết từ đời nào, hiện đang lưu giữ tại chùa Keo làng Dũng Nhuệ,
Thái Bình có chép: “Vị thiền sư Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang tại Hải
Thanh, là người Hải Thanh, họ Dương, huý là Minh Không thiền sư, theo
nghiệp nhà làm nghề chài lưới... về sau bỏ nghề đi tu theo phái Đà la môn.
Năm Chương Khánh Gia Khánh thứ nhất, sư cùng bạn là Giác Hải ra nước
ngoài. Lúc đầu sư theo học cư sĩ Bảo Tài Ngô Xá rồi theo học thiền sư Thảo
Đường và đắc đạo. Thiền sư Thảo Đường truyền thụ cho giáo lý của phái
Tuyết Đậu Minh Giác. Sau đó sư cùng Giác Hải tìn đến am Mục Ngưu, làng
Đô Lâu, cùng tu ở chùa Hà Trạch. ở đây ăn bằng cây, mặc bằng cỏ, các vị tu
trì khổ hạnh tới quên mình. Ngoài đời cắt đứt mọi mưu cầu, trong tâm ngày
đêm lo thiền định. Các vị quên đói, bỏ ăn, để hết tâm trí vào việc chế đan
luyện dược. Thân hình đến nỗi như cây khô, nội tâm và ngoại cảnh không có
gì phân biệt”[73].
Thời Lý, Phật giáo được xem như một “Quốc đạo”, ảnh hưởng của phật
giáo lan khắp mọi miền đất nước. Thiền sư Nguyễn Minh Không là một vị
cao tăng, có công lớn trong việc du nhập và hoằng dương Phật pháp vào Việt
Nam nói chung và Nam Định nói riêng
Giai đoạn cuối đời ông đi chu du khắp nơi để xây dựng và mở rộng
chùa chiền như:
- Tỉnh Nam Định: chùa Nội, chùa Cấp Cô, chùa Đồng, huyện Nam
Trực; chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh; chùa Viên Quang huyện Xuân Trường;
chùa Cổ Liêu huyện Ý Yên.
-Tỉnh Hải Dương: chùa Dương Nam huyện Ngãi Sơn; chùa Phả Lại
huyện Quế Dương; chùa Hưng Long huyện Vĩnh Lại; chùa Quỳnh Lâm huyện
Đông Triều.
-Tỉnh Hà Bắc: chùa Giác huyện Quế Trân
Tiếp theo ngôi tháp là một chiếc cầu cong ba nhịp bắc qua hồ Chu Tích (còn
gọi là hồ Núi), gọi là cầu Cuốn. Mặt cầu lát gạch.
Cầu Cuốn dẫn tới chùa Trình, còn gọi là Phật giáo Hội quán. Chùa Trình được
xây vào năm 1936 và trùng tu vào năm 2001. Trong chùa có tượng Phật Quan
Âm nghìn tay. Trước sân chùa Trình có 2 lư đồng khổng lồ.
Bên trái chùa Trình là đền Linh Quang Từ, được xây vào năm 1937, thờ Trần
Hưng Đạo và hai tiến sĩ họ Đào người làng Cổ Lễ là Bảng nhãn Đào Sư Mỗ
và Tiến sĩ đệ tam giáp Đào Toàn Mỗ. Bên phải chùa Trình là Khánh Quang
phủ, được xây vào năm 1937, là nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.
Sau lưng chùa Trình là một cái hồ lớn. Giữa hồ có một quả chuông nặng
9000 kg gọi là chuông Đại Hồng Chung. Quả chuông cao 4,2 m, đường kính
2,2 m, thành dày 8 cm. Miệng chuông có họa tiết hình cánh sen, thân có họa
tiết hoa lá, sông nước và một số văn tự bằng chữ Nho. Quả chuông này chưa
được đánh một lần nào nhưng dân gian truyền miệng khi đánh lên thì cả tỉnh
và một vài vùng lân cận sẽ nghe được tiếng ngân của chiếc chuông Đại hồng
chung này. Đây là một trong những quả chuông lớn nhất ở Việt Nam. Nhân
dân quanh vùng vì yêu mến chùa mà đúc tặng. Trong quá trình đúc chuông,
nhiều người đã tháo cả nhẫn, vòng, vàng hòa tan trong đó. Khi quả chuông
vừa đúc xong thì kháng chiến bùng nổ, nhân dân trong vùng đề phòng sự phá
hoại của giặc nên đã đem ngâm quả chuông xuống hồ. Đến năm 1954, chuông
mới được trục vớt và được đặt trên bệ đá cho du khách tham quan từ đó đến
nay.
Có hai chiếc cầu giả như động núi, gọi là cầu Núi, bắc qua hồ dẫn tới kiến
trúc chính của chùa Cổ Lễ, đó là chùa Thần Quang. Chính điện được thiết kế
theo kiến trúc hài hòa giữa phong cách truyền thống và hiện đại. Thần Quang
Tự được xây dựng từ năm 1914 trên nền chùa cổ từ thế kỷ 12. Năm 1995,
chùa được trùng tu lớn. Trong chùa có tượng Phật sơn son thếp vàng bằng
gỗ bạch đàn cao 4 m đặt ở trên tầng cao phải đi theo những cầu thang nhiều
phong-vật. Trong đó truyền thuyết nhân vật được tách làm ba loại nhỏ:
nhân vật anh hùng chống xâm lược, nhân vật anh hùng sáng tạo văn
hoá, nhân vật anh hùng nông dân.
Khi khảo sát hệ thống truyền thuyết đức Thánh Tổ Nguyễn Minh
Không chúng tôi nhận thấy: hệ thống truyền thuyết đức Thánh Tổ là
một tổ hợp cốt kể đa dạng về tiểu loại. Hệ thống truyền thuyết về ông
là sự hợp nhất giữa các tiểu loại: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết
về anh hùng văn hóa, truyền thuyết phong vật.
Thứ nhất: tiểu loại truyền thuyết địa danh:
Trong cuộc đời của mình, Minh Không đã lưu bước ở nhiều địa
phương. Hành động, việc làm của ông còn để lại nhiều dấu tích khác
nhau. Cánh đồng ở huyện Nam Trực sở dĩ có tên cánh đồng Sạn là kết
quả của thuở thiếu thời ông đã từng nhặt sạn tép và ném thành 99 gò
đất. Tại sao làng Tống Xá lại xuất hiện một cánh đồng Cầu Hố? Nơi
đây chính Nguyễn Minh Không là người cùng với nhân dân đào hố, bắc
cầu xuống lòng đất để dò tìm loại đất sét qúy hiếm để nặn khuôn đúc.
Còn làng Sảy xuất hiện là do việc Nguyễn Minh Không dùng thuật "di
sơn" gánh một ngôi đình tuyệt đẹp đến một làng thuộc huyện Nam
Trực, bị làng này chê nên ông chuyển ngôi đình đi nơi khác. Thế là
làng "sảy" mất ngôi đình!..Như vậy, mỗi hành động của ông đều là
nguyên nhân xuất hiện các địa danh. Việc dân gian xây dựng nên truyền
thuyết địa danh trong chuỗi truyền thuyết về đức Thánh Tổ Minh
Không nhằm khẳng định một hiện tượng có thật, một con người có
thật đã sống và gắn bó với nhân dân. Bằng chứng của sự thật ấy hiện
nay vẫn còn đó là tên các địa danh.
Thứ hai: tiểu loại truyền thuyết về anh hùng văn hoá:
Hệ thống truyền thuyết đức Thánh Tổ Nguyễn Minh Không chủ yếu
thuộc tiểu loại truyền thuyết về người anh hùng sáng tạo ra các giá trị
Nguyên trong cuốn ''Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam'', Nguyễn
Minh Không sinh măm 1085, mất năm 1161 [67,tr.560 ].Theo tác giả
Đỗ Thị Hảo trong cuốn "Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và
các vị tổ nghề" thì Nguyễn Minh Không sinh năm Long Chương Thiên
Tự thứ 1 (1069), tịch năm Đại Định thứ 2 (1114) [19,tr.46]. Còn theo
tác giả khóa luận "Truyền thuyết về đức Thánh Tổ Không Lộ với lễ
hội chùa Keo trong đời sống dân gian ở Hành Thiện" Vũ Thị Thắm,
Nguyễn
Minh
Không
lại
sinh
năm
1066,
viên
tịch
năm
1141[48,tr16]....Tuy nhiên, để thống nhất và tôn trọng tài liệu tại chỗ