ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHÍ HÀ CHI
KHẢO SÁT TỪ LÁY TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY
TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI (XUẤT BẢN
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1980 ĐẾN NAY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội – 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHÍ HÀ CHI
KHẢO SÁT TỪ LÁY TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY
TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI (XUẤT BẢN
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1980 ĐẾN NAY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60 22 01 13
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THIỆN NAM
MỤC LỤC
MỤC LỤC
1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
4
MỞ ĐẦU
5
1. Lý do chọn đề tài
5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6
3. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
12
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
28
1.3. Tiểu kết
31
Chƣơng 2. Khảo sát từ láy trong các giáo trình tiếng Việt
32
2.1. Mô tả khảo sát
32
2.1.1. Các từ láy xét trên khía cạnh cấu tạo
34
2.1.1.1. Từ láy đôi
35
2.1.1.2. Từ láy ba
36
2.1.1.3. Từ láy bốn
36
3.1. Thực tế tiếp cận, sử dụng từ láy của học viên nƣớc ngoài
78
3.1.1. Số liệu khảo sát
78
3.1.2. Nhận định về thực tế sử dụng từ láy của học viên nƣớc ngoài
82
3.2. Hƣớng đề xuất cách thức giới thiệu, luyện tập từ láy trong quá trình
giảng dạy
85
3.2.1. Hƣớng tiếp cận từ láy
85
3.2.2. Dạng bài luyện
89
3.3. Tiểu kết
93
KẾT LUẬN
3.
*
Đƣợc giới thiệu trong lý thuyết về từ láy
4.
=
Tƣơng đƣơng nghĩa
5.
→
Biến đổi thành
6.
LHT
Láy hoàn toàn
7.
LBP
Láy bộ phận
Phân loại từ láy theo cấu tạo theo Hoàng Văn Hành
26
Sơ đồ 1.2
Cơ sở phân loại từ láy về đặc điểm cấu tạo của luận văn
28
Bảng 2.1
Số lƣợng từ láy thu đƣợc trong các giáo trình tiếng Việt
32
Biểu đồ 2.2 Loại từ láy phân theo cấu tạo
34
Biểu đồ 2.3 Các kiểu từ láy đôi
35
Bảng 2.4
Các từ láy bốn trong các giáo trình tiếng Việt
37
81
4
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, trong thời đại mới của thế kỉ XXI, đất nƣớc Việt Nam đang dần
khẳng định vị thế của mình trên trƣờng quốc tế, đẩy mạnh quá trình phát triển, giao
lƣu và hội nhập kinh tế, văn hóa, giáo dục,… Thời kì này cũng tạo nhiều điều kiện,
cơ hội cho ngƣời nƣớc ngoài sinh sống, làm việc và học tập ở Việt Nam, dẫn đến
nhu cầu học tiếng Việt ngày càng tăng cao. Số lƣợng ngƣời nƣớc ngoài học tiếng
Việt hiện nay nhiều hơn so với trƣớc đây và vẫn đang có xu hƣớng tăng nhanh. Để
đáp ứng nhu cầu thiết thực này, các cơ sở giảng dạy tiếng Việt đã đƣợc mở ở nhiều
nơi, nhất là ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các khóa học
tiếng Việt đƣợc đƣa ra rất phong phú và bổ ích, cùng với đó là số lƣợng học liệu
dạy và học cũng trở nên nhiều và đa dạng hơn nhằm giúp cho ngƣời học đạt đƣợc
các mục tiêu thụ đắc tiếng Việt một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Thực tế
việc giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ đã và đang đƣợc khảo sát nghiên cứu
và đem lại nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần vào việc ứng dụng trong dạy và
học tiếng Việt. Song, ở mảng nghiên cứu này vẫn có những địa hạt chƣa đƣợc chú ý
tới. Trong thực tiễn giảng dạy tiếng Việt cho đối tƣợng học viên quốc tế, chúng tôi
nhận thấy từ láy là một trong những vấn đề không nằm ngoài quá trình dạy và học
tiếng Việt mà cả giáo viên cũng nhƣ học viên đều có thể gặp phải trở ngại trong
việc giới thiệu và cảm thụ nó.
Đƣợc cấu tạo bởi phƣơng thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm,
từ láy chiếm một số lƣợng không nhỏ trong tiếng Việt. Hơn nữa, từ láy là một đặc
trƣng trong tiếng Việt – ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính và đặc biệt có hệ thống
-
“Những đặc điểm của từ láy tiếng Việt” – Đào Thản (Tạp chí Ngôn ngữ, số 1,
1970)
-
“Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” – Hồ Lê (1976)
-
“Thử tìm hiểu từ láy song tiết dạng X “ấp” XY” – Phi Tuyết Hinh (Tạp chí
Ngôn ngữ, số 4, 1977)
-
“Từ vựng học tiếng Việt” – Nguyễn Thiện Giáp (1978)
-
“Về những từ gọi là “từ láy” trong tiếng Việt” – Hoàng Tuệ (Ngôn ngữ, số 3,
1978)
-
“Về hiện tƣợng láy trong tiếng Việt” – Hoàng Văn Hành (Tạp chí Ngôn ngữ số
2, 1979)
-
-
“Giá trị nghệ thuật và các phƣơng thức sử dụng hiện tƣợng láy trong thơ ca Việt
Nam” – Nguyễn Thị Thanh Hà (Luận án Tiến sĩ)
-
“Vai trò của từ láy trong một số tác phẩm văn chƣơng” – Nguyễn Thị Thanh
Hòa (Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ)
-
“Từ láy trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” – Hoàng Thị Lan (Luận văn Thạc sĩ
Ngôn ngữ)
-
“Hệ thống từ láy tiếng Việt trong một số khúc ngâm thế kỉ XIX” – Nguyễn Thị
Hƣờng (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn)
-
“Tìm hiểu giá trị từ láy trong sử dụng (Khảo sát qua thơ Hồ Xuân Hƣơng,
Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng)” - Nguyễn Thị Thu Hƣơng (Luận văn Thạc sĩ Ngữ
văn)
-
“Tìm hiểu về từ láy trong một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ” – Trần Thị
Kim Loan (Khóa luận tốt nghiệp)
cấp trong nội dung sách giáo khoa tiếng Việt lớp 4 đang đƣợc sử dụng trong chƣơng
trình giảng dạy toàn quốc. Nhìn chung, phần nhiều các điều tra, nghiên cứu khác
hƣớng vào tình hình thực tế việc dạy và học từ láy trong nhà trƣờng:
-
“Khả năng nhận biết từ láy của học sinh tiểu học (Khảo sát ở học sinh lớp 5
trƣờng Tiểu học Tiền Phong B, Mê Linh, Hà Nội) – Nguyễn Thị Thu Hƣơng
(Khóa luận tốt nghiệp Đại học, chuyên ngành Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt)
-
“Về khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy đƣợc dạy ở Tiểu học” – Lê Phƣơng Nga
(Tạp chí Giáo dục Tiểu học, số 2 – 1996)
-
“Trở lại vấn đề phân biệt từ đơn, từ láy, cụm từ trong tiếng Việt” – Nguyễn Thị
Lƣơng (Tạp chí Giáo dục Tiểu học, số 5 – 1996)
8
-
“Khả năng nhận biết và sử dụng từ láy, từ ghép ở Tiểu học” – Hà Quang Năng
(Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 10 – 2002)
-
“Từ khả năng phân biệt từ ghép và từ láy của học sinh Tiểu học và Trung học
láy chƣa cao, khả năng nhận biết nghĩa của từ láy chƣa thực sự tốt, đặc biệt là vấn
đề nhầm lẫn giữa từ láy với từ ghép xảy ra phổ biến. Sau thực trạng sử dụng từ láy
và phân biệt từ láy với từ ghép, các hƣớng lí giải của các hạn chế này đƣợc đƣa ra
nhằm xác định gốc rễ của vấn đề để từ đó, các tác giả có những đề xuất mang tính
bƣớc đầu hoặc chi tiết, cặn kẽ về các biện pháp khắc phục cũng nhƣ các dạng mẫu
bài tập vận dụng. Một số khảo sát của các giáo viên còn thực hiện thêm một khảo
9
sát việc vận dụng các giải pháp và mô tả những kết quả bƣớc đầu đạt đƣợc kèm theo
những kinh nghiệm rút ra từ thực tế vận dụng đó. Một trong những nghiên cứu nổi
bật nhất trong đó phải kể đến “Dạy và học từ láy ở trƣờng phổ thông” (2003) [18]
của tác giả Hà Quang Năng. Công trình nghiên cứu này đƣợc thực hiện công phu
với cơ sở lý luận về từ láy tiếng Việt bao quát, sâu rộng cung với khảo sát nghiên
cứu về việc dạy và học từ láy trong các trƣờng phổ thông. Khảo sát đƣợc thực hiện
nhằm đánh giá nội dung giảng dạy từ láy trong các sách giáo khoa, ở đó tác giả chỉ
ra sự thiếu nhất quán về quan niệm từ láy đƣợc cung cấp trong các sách giáo khoa
cũ và sự khắc phục thiếu xót này trong các sách giáo khoa mới. Tiếp đó là kết quả
thống kê từ các phiếu khảo sát về từ láy dành cho đối tƣợng học sinh phổ thông ở cả
ba cấp học. Khả năng nhận diện và sử dụng từ láy của các học sinh đã đƣợc nhận
định, mô tả và đánh giá, từ đó các bài tập luyện đƣợc đƣa ra một cách đa dạng, phù
hợp với mục đích giúp học sinh hiểu rõ, sử dụng đúng và mở rộng vốn từ láy theo
trình độ của mình. Đây là một nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong giảng dạy
tiếng Việt cho ngƣời bản địa.
Về phần khảo sát, nghiên cứu từ láy trong giảng dạy tiếng Việt cho đối tƣợng
học viên nƣớc ngoài, số lƣợng bài viết và công trình chƣa nhiều. Dƣới đây là hai bài
viết nghiên cứu có liên quan:
Bài viết thứ nhất là “Cách giảng dạy từ láy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài”
của hai tác giả Trần Trọng Giảng và Phạm Thị Lại Giang [6]. Bài viết hƣớng tới đối
tƣợng ngƣời dạy và học tiếng Việt qua ngôn ngữ trung gian là tiếng Anh, trong đó
phải về mặt ngữ nghĩa của từ láy tiếng Việt đƣợc nhắc đến trong các ví dụ, từ đó tác
giả cũng chỉ ra đƣợc cách hoạt động của các từ láy với nghĩa phái sinh trong câu,
phát ngôn trong sự so sánh với hoạt động của từ gốc. Nhƣ vậy, bài viết tổng quát
này đƣợc xem là rất hữu ích cho nhóm đối tƣợng ngƣời Hàn học tiếng Việt và ngƣời
Việt học tiếng Hàn trong việc tiếp cận hiện tƣợng từ láy về cả mặt cấu tạo và ngữ
nghĩa.
Qua việc tìm hiểu những bài viết, công trình nghiên cứu về từ láy và có đề
cập đến từ láy nhƣ trên, chúng tôi thấy rằng đã có những cơ sở về mặt lí thuyết của
từ láy khá cụ thể và hệ thống, tạo cơ sở cho những nghiên cứu những vấn đề khác
liên quan. Đồng thời một lần nữa có thể khẳng định: Việc xem xét, thống kê và mô
11
tả và đánh giá về nhóm từ láy xuất hiện trong việc giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời
nƣớc ngoài hiện nay chƣa đƣợc quan tâm, đề cập đến, trong khi từ láy trong tiếng
Việt là một nét đặc trƣng với giá trị biểu đạt tình thái cao. Chính vì thế, chúng tôi đã
quyết định lựa chọn đề tài: “Khảo sát từ láy trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài (xuất bản tại Việt Nam giai đoạn 1980 đến nay)” để thực hiện
trong luận văn này.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA LUẬN VĂN
Luận văn này đề ra các mục tiêu: tập trung khảo sát, thống kê số lƣợng từ láy
và mô tả các dạng từ láy đƣợc đƣa vào giáo trình, trong đó bao gồm cả việc nhận
diện mục đích từ láy có mặt các phần, các cấu trúc hay các chủ đề bài học khác
nhau. Từ đó trả lời cho câu hỏi: Học viên nƣớc ngoài khi học tiếng Việt có thể
không cần biết đến từ láy hay không? Từ kết quả định lƣợng và mô tả từ láy có
đƣợc cũng có thể nhận định việc giới thiệu các từ láy đó đem lại hiệu quả thế nào,
dễ hiểu hay khó hiểu và có phù hợp hay không trong các trƣờng hợp đƣa ra. Ngoài
T2)
3. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, quyển 1, Bùi Phụng (Chủ biên), Bộ Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, 1987 (Mã: 02 – T1)
4. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, quyển 2, Bùi Phụng (Chủ biên), Bộ Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, 1987 (Mã: 02 – T2)
5. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài – Learning Modern Spoken Vietnamese, Bùi
Phụng (Chủ biên), NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1992 (Mã 03)
6. Tiếng Việt cơ sở - Vietnamese for beginners, Vũ Văn Thi, Khoa Tiếng Việt và
Văn hóa Việt Nam cho ngƣời nƣớc ngoài, Trƣờng Đại học KHXH & NV, Đại
học Quốc gia Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, 1996 (tái bản năm 2011) (Mã:
04 - A)
7. Tiếng Việt thực hành (Dùng cho ngƣời nƣớc ngoài), Đinh Thanh Huệ (Chủ
biên), Khoa Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam cho ngƣời nƣớc ngoài, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 (Mã: 05)
13
8. Tiếng Việt nâng cao (cho ngƣời nƣớc ngoài) – Intermediate Vietnamese (for
non – native Speakers), Nguyễn Thiện Nam, Khoa Tiếng Việt và Văn hóa Việt
Nam cho ngƣời nƣớc ngoài, Trƣờng Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia
Hà Nội, NXB Giáo dục, 1998 (Mã: 06 – B, C)
9. Giáo trình Tiếng Việt – VSL, tập 1, Nguyễn Văn Huệ (Chủ biên), Khoa Việt
Nam học và Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, Trƣờng Đại học KHXH & NV,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí
Minh, 2003 (Mã: 07 – T1)
10. Giáo trình Tiếng Việt – VSL, tập 2, Nguyễn Văn Huệ (Chủ biên), Khoa Việt
Nam học và Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, Trƣờng Đại học KHXH & NV,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí
Minh, 2003 (Mã: 07 – T2)
11. Giáo trình Tiếng Việt – VSL, tập 3, Nguyễn Văn Huệ (Chủ biên), Khoa Việt
19. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài – Vietnamese for foreigners, Nguyễn Anh
Quế, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2007 (Mã: 11)
20. Tiếng Việt cơ sở (dành cho ngƣời nƣớc ngoài) Quyển 1 – Nguyễn Việt
Hƣơng, Viện Phát triển Ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (Mã: 12 –
A – T1)
21. Tiếng Việt cơ sở (dành cho ngƣời nƣớc ngoài) Quyển 2 – Nguyễn Việt
Hƣơng, Viện Phát triển Ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (Mã: 12 –
A – T2)
22. Tiếng Việt nâng cao (dành cho ngƣời nƣớc ngoài) Quyển 1 – Nguyễn Việt
Hƣơng, Viện Phát triển Ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (Mã: 12 –
B, C – T1)
23. Tiếng Việt nâng cao (dành cho ngƣời nƣớc ngoài) Quyển 2 – Nguyễn Việt
Hƣơng, Viện Phát triển Ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010 (Mã:
12 – B, C – T2)
15
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định
tính kết hợp với phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng, bên cạnh đó là một số thủ
pháp nhƣ so sánh đối chiếu, phân tích ngữ cảnh, thủ pháp đơn giản hóa. Từ các
phƣơng pháp, thủ pháp nghiên cứu này chúng tôi có đƣợc sự phân tích, miêu tả tổng
hợp và đánh giá các tƣ liệu nghiên cứu có đề cập đến từ láy. Thêm vào đó, các
phƣơng pháp này cũng đƣợc áp dụng vào các tƣ liệu viết nhằm khảo sát tình hình sử
dụng từ láy của học viên ngƣời nƣớc ngoài, qua đó mang lại một cái nhìn ban đầu
về việc thụ đắc và ứng dụng từ láy của ngƣời học trong thực tiễn.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Mở đầu
điểm phổ biến đƣợc đƣa ra:
-
Hƣớng thứ nhất: Coi láy cũng là ghép
-
Hƣớng thứ hai: Coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trƣng hóa.
Nhìn nhận theo hƣớng quan điểm thứ nhất có các nhà Việt ngữ học nhƣ
Trƣơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Tài Cẩn, Hồ Lê,…
-
Trong “Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam” (1963), hai tác giả Trƣơng Văn
Chình và Nguyễn Hiến Lê có viết: “Chúng ta có nhiều từ hai âm, cũng có từ ba âm
và từ bốn âm. Tiếng đôi, tiếng ba, tiếng tƣ ta gọi là từ kép. Trong ngôn ngữ của ta,
từ kép hai âm nhiều nhất, từ kép ba, bốn âm ít hơn. Dù hai, ba hay bốn âm, từ kép
cũng chỉ diễn tả ý đơn giản nhƣ từ đơn” [4; tr. 62]
17
-
Theo cách nhìn của Nguyễn Tài Cẩn: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó,
theo con mắt nhìn của ngƣời Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp đƣợc kết hợp với
nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm đƣợc thể hiện ra ở chỗ là các
thành tố trực tiếp phải có tƣơng ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn
mông… Sự cách điệu hóa ấy chính là sự biểu trƣng hóa ngữ âm (…) chính mối
18
tƣơng quan này tạo nên sắc thái biểu cảm hay gợi ý của từ - giá trị ấy của từ láy,
ngƣời bản ngữ tỏ ra nhạy cảm so với ngƣời nƣớc ngoài dùng tiếng Việt”. [23, tr. 23]
-
Qua các công trình nghiên cứu có liên quan, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ
láy là những từ đƣợc cấu tạo theo phƣơng thức láy, đó là phƣơng thức lặp lại toàn
bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi
theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, gồm
nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã,
thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [2; tr. 40].
-
Nguyễn Thiện Giáp, với cách gọi “ngữ láy âm” tƣơng đƣơng với “từ láy”, đã
khái quát: “Ngữ láy âm là những đơn vị đƣợc hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay
lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Chúng vừa có sự hài
hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả.” [9; tr. 86]
-
Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả đƣa ra quan
điểm: “Phƣơng thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta các từ láy
(còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm).[..].. Một từ sẽ đƣợc gọi là từ láy khi các thành tố
cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm đƣợc lặp lại, nhƣng vừa có lặp (còn gọi là
điệp) vừa có biến đổi (gọi là đối). Ví dụ: đỏ đắn: điệp phần âm đầu, đối ở phần
c)
Tiếp trung ngữ, gồm có -a- hoặc –ơ- ví dụ: ấm ớ > ấm a ấm ớ…, líu tíu > líu
ta líu tíu, ngất ngƣởng > ngất ngơ ngất ngƣởng, v.v…” [10; tr. 457]
Tuy nhiên, quan điểm này chƣa hoàn toàn bao quát đƣợc những trƣờng hợp láy
khác xuất hiện trong tiếng Việt nên không đƣợc nhiều ngƣời ủng hộ.
Qua tất cả các khái niệm về từ láy đƣợc đƣa ra theo các điểm nhìn khác nhau
trên đây, có thể thấy:
Nói đến từ láy thì điểm nổi bật và quan trọng trƣớc hết đó là mặt ngữ âm.
Các thành tố trong từ láy đều có quan hệ ngữ âm với nhau. Đây cũng chính là điểm
giống nhau đƣợc nêu ra trong các khái niệm từ láy trên. Đặc biệt, đối với những
khái niệm hƣớng theo quan điểm coi láy là ghép thì mặt ngữ âm là khía cạnh duy
nhất – khía cạnh về cấu tạo, đƣợc tập trung để định nghĩa một từ láy trong tiếng
Việt. Trong khi đó, các ý kiến theo nhƣ quan điểm thứ hai cho rằng láy là sự hòa
phối ngữ âm có giá trị biểu trƣng hóa, ngoài việc nhắc đến mặt ngữ âm còn nhắc
đến mặt ngữ nghĩa của từ láy. Nhƣ vậy có thể thấy hƣớng quan điểm thứ hai đầy đủ
và xác đáng hơn, do đó, chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này. Ngoài ra,
chúng tôi còn cho rằng, từ láy có mô hình cấu trúc đặc biệt mang chức năng biểu
đạt, biểu cảm phong phú và với một số lƣợng không nhỏ trong kho từ vựng tiếng
Việt (hơn 5000 từ - theo “Từ điển từ láy tiếng Việt” [11] do Hoàng Văn Hành chủ
biên) nên việc tách riêng từ láy thành một kiểu loại giúp cho việc tìm hiểu, phân
tích rõ ràng, chi tiết và hệ thống hơn.
20
Trong các khái niệm từ láy của các tác giả khác nhau từ trƣớc đến nay, khái
niệm của Hoàng Văn Hành có tính hợp lí, bao quát và chặt chẽ, hoàn thiện hơn cả,