lời mở đầu
Những năm qua, hoà cùng công cuộc đổi mới và phát triển chung của đất nớc,
các doanh nghiệp đã không ngừng cải thiện và hoàn chỉnh mình. Mỗi doanh nghiệp
hoạt động kinh tế đều là một tế bào góp phần đa đất nớc đi lên, là nơi trực tiếp sản xuất
và cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng
của toàn xã hội.
Hoạt động trong cơ chế thị trờng hiện nay cùng với sự phát triển ngày càng đi
lên của xã hội, đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú ý đến vấn đề chi phí và giá thành sản
phẩm, nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Muốn đạt đợc các mục tiêu hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình thì doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định. Vì
vậy chi phí và giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, nó phản
ánh mọi mặt sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Thời kỳ trớc đây, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chỉ tiêu đánh giá sản phẩm
đợc coi là một chỉ tiêu có tính pháp lệnh của nhà nớc. Từ khi chuyển nền kinh tế nớc ta
sang cơ chế thị trờng nhiều thành phần cạnh tranh, các doanh nghiệp chuyển sang hoạt
động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc tự chủ, việc tiết kiệm chi phí sản xuất để hạ
giá thành sản phẩm là một mục tiêu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Mức độ hạ giá
thành phản ánh trình độ sử dụng phù hợp, tiết kiệm nguyên vật liệu, khả năng vận dụng
máy móc thiết bị, trình độ áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, khả năng quản lý kinh
tế tài chính và chiến lợc gía cả của doanh nghiệp. Do đó, việc phấn đấu hạ giá thành
sản phẩm sẽ quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp phải làm thế nào để chi phí tối
thiểu nhng vẫn đảm bảo đợc chất lợng sản phẩm, đó là một vấn đề đòi hỏi tất cả các
doanh nghiệp phải quan tâm.
Là một doanh nghiệp lớn trong ngành dệt may Việt Nam, trong những năm qua
công ty Dệt may Hà Nội (HANOSIMEX) đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển của
ngành. Quá trình hình thành, phát triển và những thành quả của Công ty không tách rời
sự quản lý của Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, đồng thời đó cũng là thành quả từ
quá trình lao động hết mình của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong toàn công ty.
Sau thời gian thực tập tại Công ty và đi sâu tìm hiểu, em đã đợc tiếp cận với vấn
đề để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. Em xin lựa chọn đề tài: Phân tích
Trong đó:
C: Toàn bộ t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trinh sản xuất.
V: Là chi phí về hao phí lao động sống, là khoản chi để trả lơng và các khoản
khác kèm theo cho ngời lao động.
M: Là giá trị mới tăng thêm trong quá trình hoạt động.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh thờng xuyên trong quá
trình tồn tại và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhng để phục vụ cho
quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh phải đợc tính toán tập
hợp theo từng thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ
những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới đợc tính vào chi phí
sản xuất trong kỳ.
1.1.2.Khái niệm về giá thành
Giá thành sản phẩm, dịch vụ là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp bao gồm những chi
phí sản xuất có liên quan đến việc chế tạo và hoàn thành một loại, một lợng sản phẩm,
dịch vụ nhất định.
Có thể nói chỉ tiêu này là một tấm gơng phản ánh toàn diện chất lợng công tác
của doanh nghiệp bao gồm các mặt: trình độ công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình
độ quản lý...
Từ những yếu tố đầu vào có đợc nhờ các khoản chi phí bỏ ra, doanh nghiệp tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả đầu ra là các sản phẩm hoặc dịch vụ.
Theo yêu cầu phục vụ cho các mục đích kinh tế khác nhau, ngời ta cần phải tính đợc chi
phí bỏ vào để sản xuất ra các sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể đó. Nói cách khác cần phải
tiến hành phân bổ tổng chi phí (trả cho các yếu tố đầu vào) cho từng đơn vị sản phẩm
hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất và tiêu thụ đợc.
Tính giá thành có một ý nghĩa rất lớn đối với mọi doanh nghiệp, chỉ khi tính
đựoc giá thành sản phẩm doanh nghiệp mới có thể tính đựoc hiệu quả sản xuất kinh
doanh của mình từ đó có đợc những quyết định đúng đắn cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo. Việc tính giá thành giữ vai trò quan trọng trong
công tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì vậy chúng ta đề cập đến các
chức năng và ý nghĩa của giá thành trong những phần tiếp theo.
vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
3.Yếu tố chi phí khấu hao: Bao gồm tổng số khấu hao của toàn bộ TSCĐ sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
4.Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm số tiền phải trả cho việc sử dụng
các dịch vụ mua ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
5.Yếu tố chi phí bằng tiền: Gồm các khoản tiền doanh nghiệp đã trả hoặc sẽ phải trả
trực tiếp dới hình thái gía trị cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
(VD: trả lãi vay, thuế phải nộp, công tác phí, chi phí tiếp khách, hội họp...).
Việc hệ thống chi phí theo yếu tố có tác dụng chi biết để tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh với quy mô nh kỳ báo cáo, doanh nghiệp cần huy động đa vào sử
dụng những nguồn lực nào? mỗi nguồn lực là bao nhiêu? trên cơ sở đó lập kế hoạch
cung ứng vật t, lập dự toán chi phí, lập kế hoạch quỹ lơng, tính toán nhu cầu vốn lu
động cho kỳ tiếp theo.
b. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế (theo địa điểm phát sinh):
Theo cách này những nguồn lực đợc sử dụng vào cùng một mục đích (cùng một
việc) thì đợc xếp chung vào một loại gọi là khoản mục chi phí, không kể hình thái ban
đầu của nguồn lực là gì. Theo quy định, có 5 khoản mục sau:
1.Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm giá thực tế của nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu (có thể mua ngoài hay tự chế), bán thành phẩm mua
ngoài tham gia trực tiếp vào công nghệ chế biến sản phẩm (sau khi đã trừ giá trị phế
liệu thu hồi).
2.Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lơng và các khoản phụ cấp
có tính chất lơng, tiền thởng thờng xuyên, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo
quy định, lơng phép trích trớc (nếu có) của công nhân trực tiếp sản xuất.
3.Khoản mục chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là những chi phí
về tổ chức và quản lý những chi phí chung khác phát sinh ở bộ phận sản xuất (phân x-
ởng, công trờng, đội sản xuất...). Nói cách khác đó là những chi phí còn lại phát sinh ở
bộ phận sản xuất ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp.
Về nội dung thì khoản mục này bao gồm các điều khoản sau:
Chi phí nhân viên phân xởng: Bao gồm tiền lơng, cáckhoản phụ cấp có tính chất
lý phí phải nộp cấp trên...
Dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho: dự phòng là tính
trớc các khoản rủi ro có khả năng xảy ra vào chi phí trong kỳ để tạo nguồn bù đắp khi
rủi ro xảy ra. Hiện nay theo quy định doanh nghiêpj đợc tính vào chi phí quản lý doanh
nghiệp hai khoản dự phòng trên.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài sử
dụng cho khối văn phòng doanh nghiệp trong kỳ nh tiền điện nớc, điện thoại, điện báo,
thuê ngoài sửa chữa TSCĐ, thuê nhà...
Chi phí bằng tiền: gồm các khoản chi phí trực tiếp bằng tiền cho công tác quản
lý chung của doanh nghiệp nh chi phí hội nghị tiếp khách, công tác phí, lãi vay phải
trả...
5.Khoản mục chi phí bán hàng: Là những chi phí liên quan đến quá trình bán
hàng. Về nội dung, chi phí bán hàng cũng gồm có các điều khoản nh chi phí sản xuất
chung (chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ đồ dùng, chi phí khấu hao,
chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền) nhng không dùng cho sản xuất mà dùng
vào khâu bán hàng. Ngoài ra còn bao gồm điều khoản chi phí bảo hành sản phẩm (gồm
những chi phí sản xuất doanh nghiệp đã bỏ ra để bảo hành hoặc số tiền doanh nghiệp
phải bỏ ra để thuê bảo hành sản phẩm cho khách hàng).
Trong năm khoản mục trên thì 3 khoản mục đầu là chi phí sản xuất, là cơ sở
hình thành nên giá thành sản xuất của sản phẩm và sẽ đợc bù đắp khi mà những sản
phẩm do chúng tạo ra bán đợc. Cũng cần lu ý là chỉ doanh nghiệp sản xuất mới có các
khoản mục chi phí này. Hai khoản mục sau là chi phí ngoài sản xuất tuy không tạo ra
sản phẩm nhng lại là cần thiết cho hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào. Hiện nay,
theo quy định doanh nghiệp không cần phải phân bổ 2 khoản mục này cho sản xuất sản
phẩm (tức không phải đa các chi phí này vào giá thành sản phẩm) và nh vậy các khoản
mục chi phí này trong kỳ phát sinh bao nhiêu sẽ đợc bù đắp hết bấy nhiêu bằng lãi gộp
trong kỳ. Tuy nhiên, trờng hợp doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài, sản xuất theo thời
vụ hoặc có doanh thu không đều đặn thì chế độ kế toán vẫn cho phép phân bổ chi phí
quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng vào giá thành sản phẩm hoặc gác lại phân
bổ dần vào chi phí của nhiều kỳ.
tìm ra những nhân tố ảnh hởng đến xác định điểm hạ giá thành sản phẩm.
- Tổng giá thành:
c. Giá thành sản xuất và gía thành toàn bộ
- Giá thành sản xuất: là giá thành đợc tính toán trên cơ sở chi phí đã phát sinh
ở bộ phận sản xuất. Giá thành sản xuất bao gồm các chi phí sản xuất nh: Chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung, tính cho những sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Giá thánh sản
xuát của sản phẩm cũng là căn cứ để tính toán giá vốn và lãi gộp ở các
doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí phát sinh, liên
quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp. Giá thành toàn
bộ sản phẩm bao gồm: giá thành sản xuất của sản phẩm cộng thêm chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Do vậy, giá thành toàn bộ của sản
phẩm đợc xác định sau khi sản phẩm đợc tiêu thụ.
1.3. Các phơng pháp tính giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một tấm gơng phản ánh toàn diện chất lợng công tác của
doanh nghiệp bao gồm các mặt: trình độ công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ
quản lý...
Tính giá thành là tính toán, xác định những chi phí sản xuất có liên quan đến
việc chế biến và hoàn thành một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định theo khoản mục.
Khi tính tiến hành tính giá thành, kế toán doanh nghiệp cần xác định rõ đối tợng
tính giá thành, đơn vị tính giá thành, kỳ tính giá thành và phơng pháp tính giá thành áp
dụng cho doanh nghiệp mình.
Đối tợng tính giá thành có thể là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành cũng có thể là bán
thành phẩm, là chi tiết, cụm chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng...
Đơn vị tính giá thành là đơn vị đo lờng về mặt hiện vật đối tợng tính giá thành.
Đơn vị đó phải thống nhất với đơn vị trong kế hoạch giá thành và phải là đơn vị đợc
thừa nhận chung trong nền kinh tế.
Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian kế toán hệ thống số liệu về chi phí sản
xuất và khối lợng sản phẩm dịch vụ hoàn thành và tiến hành tính toán giá thành cho
Theo phơng pháp này đối tợng tín giá thành là các loại sản phẩm đã hoàn thành.
Chi phí sản xuất trong kỳ đựợc tập hợp hoặc phân bổ trực tiếp theo các đối tợng tính
giá thành. Tuỳ theo đặc điểm sản xuất cụ thể của doanh nghiệp mà áp dụng một
trong 2 công thức tính tổng giá thành sản phẩm dịch vụ hoàn thành trong kỳ (gọi tắt
là tổng giá thành) sau:
Trờng hợp khối lợng sản phẩm dở dang không có hoặc có ít không
đáng kể (ngành điện, than...)
Trờng hợp khối lợng sản phẩm dở dang có nhiều và biến động nhiều
giữa các kỳ thì để đảm bảo tính giá thành chính xác phải tính đến
chênh lệch giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
Tổng giá thành = Chi phí sản xuất trong kỳ+Chênh lệch giữa đầu và cuối kỳ giá trị SPDD
Trờng hợp doanh nghiệp sản xuất 1 loại sản phẩm với nhiều kích cỡ,
mẫu mã quy cách khác nhau thì để đơn giản cho việc tính giá thành
ngời ta quy các chủng loại khác nhau đó thành các nhóm sản phẩm
(đối tợng tính giá thành là nhóm sản phẩm) và quy đổi các nhóm sản
phẩm ra thành sản phẩm quy chuẩn, trên cơ sở đó tính tổng giá thành
và giá thành đơn vị sản phẩm của nhóm (ngành giầy da, may mặc, xà
phòng, thuốc lá...).
Tổng số sản phẩm quy chuẩn tính ra trên cơ sở cộng số sản phẩm quy chuẩn của
tất cả các nhóm lại.
Trờng hợp trong cùng một quá trình sản xuất ngoài sản phẩm chính,
doanh nghiệp còn thu đợc sản phẩm phụ thì các công thức tính giá
thành vẫn nh trên nhng phải trừ bớt đi giá trị sản phẩm phụ. Giá trị
sản phẩm phụ ở đây đợc tính theo giá bán tối thiểu của sản phẩm đó
trên thị trờng.
Trong tất cả các trờng hợp trên thì sau khi tính xong tổng giá thành, kế toán tính
tiếp giá thành đơn vị theo công thức sau đây:
Tổng giá
thành của 1
nhóm SP
Tổng giá thành
Sản lượng hoàn thành
Giá thành SP, loạt SP hoặc
đơn đặt hàng hoàn thành
=
Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp được
cho SP, loạt SP hoặc đơn đặt hàng đó
- Đối tợng tính giá thành không chỉ là sản phẩm cuối cùng hoàn thành mà có thể còn là
các bán thành phẩm ( các sản phẩm đã hoàn thành một hoặc một vài giai đoạn chế
biến nhng cha hoàn thành toàn bộ quy trình chế biến của doanh nghiệp).
- Để đảm bảo tính chính xác của chỉ tiêu giá thành, kế toán nhất thiết phải tính
đến chênh lệch giá trị sản phẩm dở dang giữa đầu kỳ và cuối kỳ.
- Tổng giá thành của sản phẩm dịch vụ hoàn thành đợc xác định trên cơ sở
tổng hợp chi phí sản xuất của tất cả các giai đoạn có tham gia chế biến khối
lợng sản phẩm, dịch vụ đó.
- Việc tính giá thành thờng tiến hành định kỳ vì những doanh nghiệp có quy
trình này thờng sản xuất liên tục, mặt hàng ổn định.
Tuỳ theo có tính giá thành của bán thành phẩm hay không mà doanh nghiệp có thể
lựa chọn 1 trong 2 phơng án tính giá thành cụ thể:
Phơng án có tính giá thành của bán thành phẩm (gọi tắt là có bán
thành phẩm): Kế toán tính giá thành bán thành phẩm bớc 1 rồi tính
nhập với chi phí sản xuất của bớc 2 để tính tiếp giá thành bán thành
phẩm bớc 2 và cứ nh vậy cho đến bớc cuối cùng.
Phơng án này có thẻ thể hiện nh sau:
Phơng án không tính giá thành của bán thành phẩm (gọi tắt là phơng án
không có bán thành phẩm). Theo phơng án này chi phí sản xuất của các
giai đoạn khác nhau có liên quan đến khối lợng sản phẩm hoàn thành đợc
tính nhập song song với nhau theo từng khoản mục để tính ngay ra giá
thành sản phẩm cuối cùng.
Quá trình tính giá thành thể hiện theo sơ đồ sau:
đầu kỳ
bước 2
Chi phí
chế biến
trong kỳ
bước 2
+
Giá trị
SPDD
cuối kỳ
bước 2
Giá
thành
bán
thành
phẩm bư
ớc 2
_
=
Giá thành
bán thành
phẩm bước
n-1 chuyển
sang bước n
+
Giá trị
SPDD
đầu kỳ
bước n
Chi phí
+
+....+
=
Tính giá thành theo phơng án không có bán thành phẩm đơn giản, thể hiện đợc cơ
cấu giá thành theo từng giai đoạn sản xuất nhng trên sổ sách kế toán không theo dõi
đợc sự di chuyển sản phẩm dở dang giữa các giai đoạn sản xuất với nhau. Do đó
cần theo dõi trên sổ sách chi tiết sự di chuyển bằng hiện vật sản phẩm dở dang
trong quá trình sản xuất.
1.4. Nội dung phân tích giá thành sản phẩm
1.4.1. Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm
Thông thờng chỉ tiêu giá thánh sản phẩm là chỉ tiêu chất lợng phản ánh và đo l-
ờng hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Muốn hạ gí thành sản phẩm nâng cao chất lợng
công tác (chất lợng công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất-kinh doanh), có thể tiến hành
đánh giá chugn tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm thông qua tỷ lệ %
thực hiện kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm hàng hoá.
Nếu gọi
Q
0j
, Q
1j
là số lợng sản phẩm j sản xuất kỳ kế hoạch và kỳ thực tế;
Z
0j
, Z
1j
là giá thành đơn vị sản phẩm j sản xuất kỳ kế hoạch và thực tế;
Ta có:
100
)(
)(
0111
0)(
Số chênh lệch này chính là số chi phí tiết kiệm đợc do hạ giá thành tính trên lợng sản phẩm
sản xuất thực tế.
Ngợc lại, nếu T(%)>100% chứng tỏ giá thành thực tế cao hơn so với kế hoạch
và hiệu số:
=
>
n
j
jjjj
xZQxZQ
1
0111
0)(
Mang dấu (+) phản ánh số chi phí vợt chi phí tính trên lợng sản phẩm sản xuất
thực tế.
1.4.2. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ thấp giá thành của những sản
phẩm có thể so sánh đợc
Sản phẩm so sánh đợc là loại sản phẩm mà sản xuất của doanh nghiệp đã ổn
định về mặt kỹ thuật, công nghệ và kinh tế.
1.4.2.1.Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch
Ta ký hiệu:
Q
1j,
Q
0j
: lần lợt là số lợng sản phẩm j sản xuất kỳ kế hoạch, kỳ thực hiện.
Z
0
x
xZQ
M
T
n
j
tjj
=
=
* Thực tế:
+ Mức hạ (M
1
)
=
=
n
j
tjjj
ZZxQM
1
111
)(
+ Tỷ lệ hạ (T1)
=
=
n
0
Với M là chênh lệch tuyệt đối về mức hạ giá thành sản phẩm giữa thực tế và
kế hoạch. Có 2 nhân tố ảnh hởng đến mức hạ này là nhân tố sản lợng sản xuất và giá
thành đơn vị sản phẩm. Phơng pháp phân tích phù hợp ở đây là phơng pháp loại trừ.
* Nhân tố sản lợng sản xuất (Q):
Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nhân tố sản lợng sản xuất có quan
hệ tỷ lệ thuận với mức hạ, ảnh hởng của Q đợc xác định ngay trong điều kiện giả định
sản lợng thực tế, cơ cấy sản lợng kế hoạch và giá thành. Để có cơ cấu kế hoạch, sản l-
ợng thực tế đòi hỏi các sản phẩm j đều phải đựơc thực hiện theo cùng một tỷ lệ % hoàn
thành kế hoạch sản xuất (H
s
):
100
0
1
x
ZQ
ZQ
H
tjj
tjj
s
=
- ảnh hởng của sản lợng đến mức hạ (M
Q
):
M
Q
=(H
s
Z
Z
ZQ
M
T
1
1
* Nhân tố cơ cấu sản lợng sản xuất(K):
* Tổng hợp ảnh hởng của các nhân tố
Trên cơ sở các số liệu tính toán đợc trên đây tiến hành tổng hợp toàn bộ ảnh h-
ởng của các nhântố. Từ đó rút ra các nhận xét và đa ra các kết luận cụ thể.
1.4.3. Phân tích một số khoản mục chi phí chủ yếu
Giá thành sản phẩm liên quan đến nhiều loại chi phí khác nhau . Sự thay đổi của
từng loại chi phí cụ thể sẽ dẫn đến biến động chung của từng loại chi phí. Vì vậy, ph-
ơng pháp này nhằm đi sâu xem xét tình hình biến động của từng loại khoản mục chi
phí. Nội dung trình tự phơng pháp đợc trình bày cụ thể nh sau:
a.Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về nguyên liệu, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất kinh doanh
sản phẩm hàng hoá. Khoản mục này thờng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản
phẩm sản xuất của doanh nghiệp.
a- Phân tích khoản mục tổng chi phí nguyên vật liệu
Bằng phơng pháp so sánh thực tế và dự toán sẽ xác định đợc chênh lệch chi phí
nguyên vật liệu. Sau đó xác định các nhân tố ảnh hởng là giá cả vật liệu đợc đa vào sản
xuất và tình hình thực hiện định mức tiêu hao nguyên vật liệu.
Mức tăng khoản mục chi phí nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm thực hiện so
với kế hoạch ảnh hởng đến sự biến động của giá thành sản phẩm đợc tính nh sau:
+ Số tuyệt đối:
= =
01
)(
0
* MHM
SQ
=
Trong đó:
Z
0
: Giá thành sản xuất một đơn vị sản phẩm kế hoạch
P
0j
, P
1j
: giá kế hoạch và thực tế loại vật t j
m
0j
, m
1j
: Mức tiêu hao thực tế và kế hoạch loại vật t j cho một đơn vị sản phẩm.
Nếu kết quả tính đợc là số (-) chứng tỏ doanh ngiệp đã giảm đợc chi phí vật t
góp phần làm giảm giá thành sản phẩm. Nếu là số (+) doanh nghiệp đã lãng phí trong
việc sử dụng vật t. Nếu kết quả tính đợc bằng 0 chứng tỏ doanh nghiệp đã đạt đợc kế
hoạch tiêu hao vật t đặt ra.
b- Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu cho sản xuất đơn vị sản phẩm
hàng hóa.
Khoản mục chi phí nguyên vật liệu cho đơn vị sản phẩm hàng hóa chịu sự tác
động bởi hai nhân tố cơ bản, đó là mức tiêu hao tng loại nguyên vật liệu và đơn giá của
từng loại nguyên vật liệu. Bằng phơng pháp loại trừ, có thể phân tích sự ảnh hởng của
lần lợt từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích nh sau:
=
=
n
j
jjjNVL
j
PmPmPC
1
111
)()(
0
Tổng hợp phân tích và kiến nghị:
C
NVL
= C
NVL
(m) + C
NVL
(P)
Trên cơ sở xác định sự ảnh hởng và mức độ ảnh hởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu
phân tích, cần kiến nghị những giải pháp nhằm giảm định mức hao phí nguyên vật
liệu cho một đơn vị sản phẩm hàng hóa, giảm đơn giá từng loại nguyên vật liệu góp
phần giảm chi phí, hạ giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
b.Phân tích khoản mục chi phí nhân công trực tiếp
Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích
bảo hiểm xã hội, bao hiểm y tế và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất
(gọi tắt là chi phí tiền lơng công nhân sản xuất).
1. Phân tích khoản mục tổng chi phí nhân công trực tiếp
Khoản mục tổng mức chi phí nhân công trực tiếp đợc đánh giá trên cơ sở xác
quỹ lương L
=
Quỹ lư
ơng thực
tế
_
Quỹ lư
ơng kế
hoạch
x
Tỷ lệ hoàn
thành kế
hoạch sản xuất
Tỷ lệ (%)
hoàn thành
kế hoạch
sản xuất
=
Giá trị TSL hàng
hoá thực hiện
Giá trị TSL hàng
hoá kế hoạch
x
100
D
1
D
0
x 100
=
dụng phơng pháp so sánh (so sánh trên tổng số và so sánh trên từng nội dung). Dựa vào
tình hình biến động và nội dung từng khoản mục chi phí để đa ra các nhận xét, các kết
luận và các đề xuất chính xác kịp thời. Đối với các thành phần kết cấu nên chi phí sản
xuất chung thì với nhân công và nguyên vật liệu gián tiếp có thể áp dụng nh 2 phân
trên. Riêng đối với khoản mục chi phí khấu hao tài sản cố định trong chi phí sản xuất
chung gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định cho
thuê tài chính đang sử dụng ở các phân xởng, tổ đội sản xuất nh: khấu hao máy móc
thiết bị sản xuất, phơng tiện vận tải, phơng tiện truyền dẫn nhà xởng, vờn cây lâu năm,
súc vật sinh sản, súc vật làm việc... thì có cách phân tích nh sau:
Nh vậy, mức khấu hao năm phụ thuộc vào hai nhân tố: nguyên giá của tài sản cố
định và tỷ lệ khấu hao năm.
- Nguyên giá của tài sản cố định của doanh nghiệp thờng xuyên biến động.
Do các nguyên nhân: đánh giá lại, đổi mới trang thiết bị, mua sắm, nhận liên
doanh, điều động, nhợng bán, thanh lý, loại bỏ... thời điểm xác định nguyên
L
spj
=
Tổng chi phí lương của sản phẩm j
Khối lượng sản phẩm j sản xuất
Mức khấu hao
bình quân năm
=
Nguyên giá tài sản
cố định
x
Tỷ lệ khấu
hao năm
giá thay đổi khi tính toán mức khấu hao là kỳ báo cáo liền sau kỳ có sự thay
đổi về tài sản cố định.
- Tỷ lệ khấu hao: tỷ lệ khấu hao thờng ổn định, nếu có sự thay đổi thì coi đây
nhiên vật liệu thì giá thành cũng giảm đáng kể. Việc giảm bớt chi phí vật liệu nhng vẫn
đảm bảo chất lợng theo thiết bị kỹ thuật. Cần cải tạo quy trình công nghệ, sử dụng vật
liệu thay thế, giảm tỷ lệ phế phẩm, giảm chi phí mua sắm, vận chuyển bảo quản và cấp
phát nguyên vật liệu.
Để tính toán ảnh hởng của các biện pháp này ta cần xác định tỷ lệ giảm mức
tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm và giá thành kế hoạch của từng loại
nguyên vật liệu. Ta có thể dùng phơng pháp chỉ số để tính toán ảnh hởng của những
biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lợng để tỷ lệ hoá giá thành sản phẩm trong
kỳ kế hoạch theo công thức sau:
Theo công thức trên thì chỉ số hạ giá thành sản phẩm cho 3 yếu tố tác động :
+ Chỉ số định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo.
+ Chỉ số giá cả nguyên vật liệu.
+ Chỉ số chi phí NVL trong giá thành.
Giảm chi phí lu thông và thu mua bằng cách sử dụng phơng tiện vận chuyển hợp
lý. Tính lợng đặt hàng tối u để tránh hao phí trong quá trình vận chuyển và bảo quản.
Lợng đặt hàng tối u đợc xác định:
b. Biện pháp tăng sản lợng làm giảm chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm
Mục tiêu của biện pháp này là tăng sản lợng sản xuất nhằm giảm chi phí cố định
bình quân cho một đơn vị sản phẩm. Hớng biện pháp này có căn cứ trên cơ sở giá
thành đợc xây dựng trên công thức sau:
Chỉ số hạ giá
thành do giảm
chi phí NVL
=
Chỉ số định
mức tiêu
hao NVL
x
Chỉ số giá cả
kỳ kế hoạch
hoá, hoàn thiện định mức lao động, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
tăng cờng kỷ luật lao động, áp dụng các hình thức tiền lơng, tiền thởng, khuyến khích
vật chất để kích thích lao động, đào tạo, bồi dỡng nâng cao trình độ kỹ thuật của công
nhân, bố trí dây chuyền công nghệ sản xuất khép kín tránh để thời gian gián đoạn do
phải chờ việc nhằm rút ngắn chu kỳ sản xuất.
Tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiền lơng bình quân sẽ
cho phép giảm chi phí tiền lơng trong giá thành sản phẩm. Do đó khoản mục tiền lơng
sẽ giảm theo tỷ lệ với tỷ trọng tiền lơng trong giá thành và ảnh hởng của việc giảm chi
phí tiền lơng đợc tính theo công thức:
Chỉ số giá
thành do giảm
chi phí cố định
=
Chỉ số chi phí cố định
Chỉ số sản lượng
x
Chỉ số chi phí
cố định trong
giá thành
Chỉ số giá thành
do tăng năng
suất lao động
=
Chỉ số tiền lương bình quân
Chỉ số năng suất lao động
x
Chỉ số chi phí
tiền lương trong
giá thành